TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
BẢN ÁN 124/2024/HS-ST NGÀY 12/08/2024 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Ngày 12 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 131/2024/TLST-HS ngày 29/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2024/QĐXXST-HS ngày 31/7/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đào Văn T, sinh năm 1999; Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn T1, sinh năm 1973 và con bà Hứa Thị C, sinh năm 1972; bị cáo là con duy nhất; có vợ: Bùi Thị H, sinh năm 1998; con: có 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/4/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).
* Bị hại: Anh Hoàng Đắc D, sinh năm 1995 (có đơn xin xét xử vắng mặt). Trú tại: Thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Bùi Thị H, sinh năm 1998 (có mặt). Trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
- Anh Kiều Văn T2, sinh năm 1987 (vắng mặt). Trú tại: Thôn P, xã P, huyện P, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 09/10/2023, T rủ anh Hoàng Đắc D sang thôn Ấ, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, anh D đồng ý. Đến khoảng 21 giờ 00 cùng ngày, do đã đến giờ công nhân tan ca nên T hỏi mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, BKS 99D1-xxxxx của anh D để về nhà lấy tiền trả cho công nhân và hẹn 22 giờ sẽ quay lại trả xe cho anh D. Sau khi lấy tiền trả công nhân xong, do không có tiền tiêu xài nên T nảy sinh ý định mang xe mô tô của anh D đi cầm cố lấy tiền. Tuy điều khiển xe mô tô của anh D đến gửi tại cửa hàng điện thoại của anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1993; trú tại: thôn M, xã L, huyện Y rồi thuê xe ôm quay lại quán cùng anh D. Đến khoảng 22 giờ 00 cùng ngày, anh D hỏi T: “Xe đâu?”, T nói dối là cho cháu T mượn đi đón công nhân bị Công an bắt. Sáng ngày 10/10/2023, T bảo anh D mang giấy tờ xe mô tô sang cho T để T xin xe ra nên anh D đưa đăng ký xe mô tô cho T.
Sau khi cầm đăng ký xe do D đưa cho, T điều khiển chiếc xe mô tô Honda Dream, BKS 99D1- xxxxx đến nhà anh Vũ Văn D1, sinh năm 1986 ở thôn T, xã Y, huyện Y. T nói với anh D1 xe mô tô là của T, gia đình T có việc nên hỏi vay của anh D1 số tiền 14.000.000 đồng và để lại xe làm tin, anh D1 đồng ý và đưa cho T số tiền 14.000.000 đồng.
Ngày 12/10/2023, T liên hệ với anh Kiều Văn T2, chủ cửa hàng mua bán xe máy Tinh T4 ở thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh hỏi việc cầm cố xe mô tô. Anh T2 hỏi T là xe của ai thì T nói xe T mua lại của anh rể nhưng chưa làm thủ tục sang tên, anh T2 đồng ý và bảo T mang xe đến cửa hàng, do xe mô tô T đang gửi ở thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh nên anh T2 đồng ý cùng T đi xem xe. Sau khi xem xe mô tô, anh T2 đồng ý nhận cầm cố xe mô tô. Do T vay của anh D1 14.000.000 đồng nên T bảo anh T2 chuyển khoản cho anh D1 14.000.000 đồng, số tiền còn lại anh T2 chuyển cho T. Anh T2 chuyển khoản cho anh D1 số tiền 14.000.000 đồng. Sau đó, anh T2 và T điều khiển xe mô tô về cửa hàng của anh T2. Tại cửa hàng của anh T2, T đưa cho anh T2 đăng ký xe mô tô rồi viết giấy cầm cố xe. T khai, do cửa hàng của anh T2 hết giấy tờ cầm cố nên viết giấy mua bán đối với xe mô tô, T2 chuyển khoản cho T 5.400.000 đồng. Sau đó, T2 bán xe mô tô trên cho người không quen biết với giá 20.000.000 đồng.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 26/KL-HDDGTS ngày 15/04/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Y kết luận: “01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Dream màu nâu, BKS: 99D1-xxxxx (đã qua sử dụng) có giá trị tại thời điểm xảy ra vụ việc là: 16.000.000 đồng”.
Tại Bản Cáo trạng số 100/CT-VKS-YP ngày 13/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố bị cáo Đào Văn T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Bị cáo T khai: Bị cáo mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, BKS 99D1 - xxxxx của anh D và hẹn quay lại trả xe. Do không có tiền chi tiêu nên bị cáo đã mang xe mô tô đi cầm cố. Bị cáo đã nói với anh T2 là xe mô tô của anh rể bị cáo và bán xe mô tô cho anh T2. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho anh D số tiền 20.000.000 đồng. Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố bị cáo là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại là anh Hoàng Đắc D vắng mặt tại phiên tòa nhưng qua lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: Tuy hỏi mượn xe Honda Dream màu nâu, BKS 99D1-xxxxx, anh đồng ý cho T mượn xe và đưa giấy tờ xe cho T. Gia đình T đã bồi thường cho anh D số tiền 20.000.000 đồng, anh D không yêu cầu T phải bồi thường gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Kiều Văn T2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng qua lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: Anh T2 mua chiếc mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS 99D1- xxxxx của T, hai bên viết giấy tờ mua bán xe. Sau đó T2 đã bán xe Honda Dream BKS 99D1- xxxxx cho người không quen biết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Bùi Thị H trình bày: Chị là vợ của Đào Văn T. T đã tác động gia đình nên chị đã bồi thường cho anh D số tiền là 20.000.000 đồng. Chị không yêu cầu T phải trả lại số tiền chị đã bồi thường cho anh D.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội; sau khi đưa ra các chứng cứ, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Văn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Đào Văn T từ 08 tháng tù đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2024.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
- Về vật chứng: Không có.
Lưu hồ sơ đĩa ghi âm về việc hỏi cung bị cáo T.
Sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu luận tội, bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện theo đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo T thành khẩn nhận tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 09/10/2023, tại thôn Á, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Đào Văn T đã có hành vi mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, BKS 99D1- xxxxx của anh Hoàng Đắc D và hẹn 22 giờ cùng ngày sẽ mang trả xe mô tô. Sau khi mượn xe mô tô, bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô nên đã bán xe mô tô cho anh Kiều Văn T2 với giá 20.000.000 đồng.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, tài sản chiếm đoạt trị giá 16.000.000 đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, vì vậy cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội, bị cáo đã đến Công an đầu thú. Bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội như phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không tài sản và không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng; bị hại không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Không có. Lưu hồ sơ đĩa ghi âm về việc hỏi cung bị cáo T.
[3] Những vấn đề khác: Đối với anh Nguyễn Văn T3 là người cho T gửi lại xe mô tô Honda Dream, BKS 99D1- xxxxx, anh T3 không biết xe mô tô là do T phạm tội mà có nên Công an huyện Y không xử lý đối với anh T3 là phù hợp.
Đối với anh Vũ Văn D1 là người cho T vay tiền, khi vay tiền T nói xe mô tô của T nên anh D1 cho T vay tiền. Do vậy, Cơ quan Công an huyện Y không xử lý đối với anh D1 là phù hợp.
Đối với anh Kiều Văn T2 là người mua xe của T, khi bán xe T đưa cho anh T2 đăng ký xe mô tô và nói là xe T mua của anh rể nhưng chưa làm thủ tục sang tên, hai bên viết giấy tờ mua bán xe. Anh T2 có cửa hàng mua bán xe máy cũ, có đăng ký kinh doanh. Do vậy, Công an huyện Y không xử lý đối với anh T2 là phù hợp.
[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Văn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Đào Văn T 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 13/4/2024.
- Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Đào Văn T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.
3. Về vật chứng: Không có.
Lưu hồ sơ đĩa ghi âm về việc hỏi cung bị cáo T.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án hoặc ngày niêm yết kết quả bản án.
Bản án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản số 124/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 124/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Yên Phong - Bắc Ninh |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 12/08/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về