TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
BẢN ÁN 123/2024/HS-ST NGÀY 13/08/2024 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 124/2024/TLSTHS ngày 19 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Hữu H; sinh năm 1995; tại Ninh Thuận; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: thôn L, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình L và bà Lê Thị T; có vợ là Trần Thị T1, có 02 con sinh năm 2019 và 2021; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; “có mặt”.
- Bị hại: Công ty TNHH một thành viên C -Chi nhánh T4. Người đại diện tham gia tố tụng: chị Phan Thị Hồng N, sinh năm: 1995. Địa chỉ: tổ D thôn B, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Đặng Thị Mỹ D, sinh năm 1997. Địa chỉ: thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
Chị Lê Thị Cẩm T2, sinh năm 1994. Địa chỉ: thôn P, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng tháng 10/2023, Trần Hữu H là công tác viên giao hàng nhanh của Công ty TNHH một thành viên C Chi nhánh T4, có đăng ký địa điểm kinh doanh tại thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Công việc H được giao là nhận hàng của bưu cục phát để mang đi giao cho khách hàng, thu tiền thu hộ, tiền cước vận chuyển và giao nộp toàn bộ số tiền thu hộ lại cho công ty vào cuối ca làm việc trong ngày.
Vào khoảng 09 giờ ngày 02/11/2023, Trần Hữu H được bà Đặng Thị Mỹ D là nhân viên điều phối bưu cục của Công ty giao cho H 109 đơn hàng để đi giao cho khách hàng và thu tiền từ khách hàng về bàn giao lại cho công ty. Đến hơn 16 giờ cùng ngày, Trần Hữu H đã tích trên ứng dụng app của công ty báo đã giao 62 đơn hàng cho khách, thu được tổng số tiền là 46.765.183 đồng, còn lại 47 đơn hàng chưa giao được cho khách hàng thì vào khoảng 17 giờ cùng ngày H đã hoàn trả lại cho bà Lê Thị Cẩm T2 là nhân viên điều phối bưu cục của Công ty cùng với tiền cước khách hàng trả là 119.000đồng nhưng không giao nộp lại số tiền đã thu hộ của khách hàng cho công ty theo quy định. Đối với 62 đơn hàng đã giao, trong đó có 51 đơn hàng thu tổng số tiền của khách hàng là 37.317.733 đồng, còn 11 đơn hàng thì bà T2 đối chiếu dữ liệu trên hệ thống của công ty được xác nhận giao hàng thành công với tổng số tiền là 9.447.450 đồng nhưng khách hàng chuyển khoản trả tiền qua số tài khoản của H là 10396xxxxx tại Ngân hàng V. Như vậy sau khi trừ đi tiền cước 119.000 đồng mà H đã hoàn trả cho bà T2 thì còn lại số tiền 46.646.183 đồng H đã thu hộ của khách hàng phải nộp về công ty. Tuy nhiên, H này sinh ý định chiếm đoạt số tiền này nhằm mục đích để trả nợ và chi tiêu cá nhân. Do đó H đã không nộp lại số tiền trên theo quy định mà mang về nhà sử dụng số tiền 20.000.000đồng để trả nợ cho ông Ngô Ngọc N1, số tiền còn lại là 26.646.183 đồng thì H sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Đến cuối ngày, bà T2 không thấy H đem tiền về nộp thì gọi điện thoại cho H nhưng không liên lạc được, do đó bà T2 báo lại sự việc cho trưởng nhóm quản lý vùng của công ty là bà Phan Thị Hồng N. Bà N đã nhiều lần liên hệ với H yêu cầu trả lại tiền cho công ty nhưng H không trả và nghỉ việc ở công ty không liên lạc được. Đến ngày 07/11/2023, ông Nguyễn Văn H1 là người đại diện theo pháp luật của công ty đã trình báo sự việc với cơ quan Công an.
Tại bản cáo trạng số 131/CT-VKS ngày 16/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử bị can Trần Hữu H về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, không khiếu nại hay thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Hữu H về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 175, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Hữu H từ 18 đến 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường số tiền chiếm đoạt 46.646.183 đồng cho Công ty TNHH một thành viên C Chi nhánh T4. Tại phiên tòa, người đại diện tham gia tố tụng của công ty không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị không xem xét.
Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận bị cáo là cộng tác viên của Công ty TNHH một thành viên C Chi nhánh T4, vào ngày 02/11/2023 bị cáo thực hiện công việc giao các đơn hàng do công ty cấp cho khách hàng và nhận tiền của khách hàng trả nhưng sau khi bị cáo nhận được tổng số tiền 46.646.183 đồng của 62 đơn hàng đã giao thành công cho khách hàng thì bị cáo không nộp lại số tiền trên cho công ty mà nảy sinh ý định chiếm đoạt và bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt toàn bộ số tiền này đồng thời cắt liên lạc với công ty sau đó nghỉ việc.
Lời khai nhận tội về hành vi của bị cáo phù hợp với lời khai của người đại diện theo ủy quyền của bị hại và phù hợp với những tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Trần Hữu H phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ đồng thời, còn tác động xấu đến tình hình trật tự trị an và an toàn xã hội. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi mà mình đã thực hiện.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: bị cáo phạm tội lần này không thuộc trường hợp áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đồng thời, xét nhân thân của bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi đã thực hiện, bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho công ty, tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của công ty đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Hơn nữa, hoàn cảnh gia đình bị cáo cũng khó khăn, các con còn nhỏ nên bị cáo nhất thời phạm tội. Vì vậy, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
[5] Căn cứ tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, xét thấy bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 và một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 02/2022/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Do đó, để tạo cơ hội cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cũng đủ để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt dưới sự quản lý, giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt của Công ty TNHH một thành viên C - Chi nhánh T4 là số tiền 46.646.183 đồng. Bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền trên cho công ty, người đại diện theo ủy quyền của công ty xác định đã nhận đủ tiền do bị cáo bồi thường và không có yêu cầu gì nên không xem xét.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 175 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy, bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Trần Hữu H phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Trần Hữu H 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đồng Tài T3 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng quản lý, giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Hữu H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (13/8/2024), riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Bản án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản số 123/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 123/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Lâm Hà - Lâm Đồng |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 13/08/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về