Bản án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản số 09/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

BẢN ÁN 09/2024/HS-ST NGÀY 18/03/2024 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 18 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2024/HSST ngày 24 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Huỳnh Tấn S, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1994, tại tỉnh Phú Yên; nơi thường trú: khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; con ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị Thanh V, sinh năm 1970; gia đình có ba anh em, bị cáo là con thứ hai; vợ: Trịnh Thị Kim P, sinh năm 2000 và có 01 con sinh năm 2023; tiền án: ngày 21/11/2017, bị Toà án nhân dân huyện Đông Hoà (nay là thị xã Đ) xử phạt 01 năm tù về tội Cố ý gây thương tích, tiếp tục bồi thường dân sự số tiền 9.231.731 đồng, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

* Người bị hại: ông Nguyễn Thanh Q- sinh năm 1987; nơi cư trú: thôn M, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Hữu T1- sinh năm 1992; nơi cư trú: thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.

+ Ông Nguyễn Đức D- sinh năm 1998; nơi cư trú: khu phố L, phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên.

+ Ông Nguyễn C- sinh năm 1987; nơi cư trú: C N, Phường A, thành phố T, tỉnh Phú Yên.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt.

* Người làm chứng:*

+ Bà Trịnh Thị Kim P- sinh năm 2000; nơi cư trú: khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.

+ Ông Trần Văn T2- sinh năm 1997; nơi cư trú: khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.

+ Bà Nguyễn Thị T3- sinh năm 1982; nơi cư trú: khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.

Người làm chứng đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mối quan hệ quen biết với nhau, S thường mượn xe của Q đi công việc cá nhân, thời gian mượn trong ngày hoặc qua ngày hôm sau sẽ trả xe. Khoảng 18 giờ ngày 08/5/2023, tại phòng trọ của Q, ở khu phố P, phường H, thị xã Đ. S mượn xe mô tô biển số 78H1-xxxxx của Q đi thăm con, Q đồng ý. Trên đường đi, S điện thoại cho vợ Trịnh Thị Kim P nhưng P không nghe máy, S điều khiển xe mô tô đi chơi, không đi thăm con, không điều khiển xe về trả cho Q. Khoảng 22 giờ cùng ngày, S nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của Q cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân. S điều khiển xe đến ga P thuộc khu phố P, phường H, thị xã Đ, thông qua Trần Văn T2, Nguyễn Đức D và Nguyễn C, S cầm cố xe mô tô biển số 78H1-xxxxx cho Nguyễn Hữu T1 lấy số tiền 2.000.000 đồng. Ngày 09/5/2023, S gặp T1 lấy thêm số tiền 3.000.000 đồng từ việc cầm cố xe mô tô.

Đến ngày 11/5/2023, Q biết S mang xe mô tô đi cầm cố, đã nhiều lần yêu cầu S trả xe, S hứa hẹn Q nhưng không trả xe, sau đó Q không liên lạc được với S. Ngày 10/7/2023, Q trình báo sự việc cho Cơ quan công an, đến ngày 21/7/2023, S chuộc xe trả lại cho Q.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐGTS ngày 13/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản xác định: xe mô tô biển số 78H1-xxxxx trị giá 33.438.400 đồng.

Về dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường.

Tại Bản cáo trạng số: 05/CT-VKSĐH ngày 22/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa đã truy tố bị cáo Huỳnh Tấn S về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

* Bị cáo Huỳnh Tấn S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hoà thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích các tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên toà, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn S từ 15 -18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường, bồi hoàn gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Vật chứng vụ án đã được trả lại cho người bị hại nên không xét.

- Đối với Nguyễn Hữu T1 nhận cầm cố tài sản, không biết tài sản do phạm tội mà có; Trần Văn T2 giới thiệu người nhận cầm cố; Nguyễn Đức D và Nguyễn C, giữ giúp tài sản cầm cố, không biết tài sản do phạm tội mà có, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ không xem xét trách nhiệm hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định theo Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: tại phiên tòa vắng mặt người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng. Xét thấy, họ đã có lời khai tại cơ quan điều tra và sự vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án.

[3] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng; bản kết luận định giá tài sản cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án; đủ cơ sở kết luận: ngày 08/5/2023 tại thị xã Đ, Huỳnh Tấn S đã có hành vi mượn xe mô tô biển số 78H1-xxxxx, trị giá 33.438.400 đồng của Nguyễn Thanh Q để đi thăm con nhưng sau khi mượn được xe, S đã nảy sinh ý định chiếm đoạt và mang xe của Q đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân, mặc dù có đủ điều kiện, khả năng để trả tài sản cho Q nhưng S không thực hiện nghĩa vụ. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội; Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã gây ra, bản thân bị cáo nhận thức được mượn tài sản của người khác, cố tình không trả để chiếm đoạt là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà bị cáo bất chấp quy định pháp luật, mang tài sản đã chiếm đoạt rồi cầm cố cho người khác mặc dù nhiều lần đã được bị hại Nguyễn Thanh Q yêu cầu trả lại tài sản. Do đó, cần có mức án nghiêm phù hợp với tính chất và mức độ hành vi phạm tội nhất thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo để có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân của bị cáo; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; quyết định hình phạt: bị cáo có 01 tiền án: ngày 21/11/2017, bị Toà án nhân dân huyện Đông Hoà (nay là thị xã Đ) xử phạt 01 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, về dân sự tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 9.231.731đồng theo bản án số 53/HSST. Ngày 16/01/2018, bị hại có đơn yêu cầu thi hành án nhưng đến ngày 24/01/2024 bị cáo bồi thường số tiền trên tại biên lai số 0003474 của Chi cục THADS thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Tính đến ngày phạm tội, bị cáo chưa được xoá án tích. Do đó, lần phạm tội này là thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về nhân thân của bị cáo: Ngày 21/9/2019 bị TAND huyện Đông Hòa xử phạt 01 năm tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 06/11/2018 bị Công an phường P, thành phố T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000đ về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”; ngày 05/12/2018 bị Công an thị trấn H, huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000đ về hành vi “ đánh nhau”. Tuy nhiên, quá trình điều tra vụ án, cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; đã tự nguyện khắc phục hậu quả; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự được áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: đối với hành vi của Nguyễn Hữu T1 nhận cầm cố tài sản, không biết tài sản do phạm tội mà có; hành vi của Trần Văn T2 giới thiệu người nhận cầm cố, Nguyễn Đức D, Nguyễn C nhận, giữ giúp tài sản cầm cố, không biết tài sản do phạm tội mà có nên không xem xét trách nhiệm hình sự là có căn cứ.

[7] Về dân sự: bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí của Toà án;

1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tấn S phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, xử phạt: bị cáo Huỳnh Tấn S 01 năm 06 tháng (một năm sáu tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về án phí: áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Huỳnh Tấn S phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

72
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản số 09/2024/HS-ST

Số hiệu:09/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Đông Hòa - Phú Yên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:18/03/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về