Bản án về tội huỷ hoại tài sản số 56/2023/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 56/2023/HS-ST NGÀY 16/08/2023 VỀ TỘI HUỶ HOẠI TÀI SẢN

Ngày 16 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, thành phố Hà Nội đưa ra xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 47/2023/TL-HSST ngày 12 tháng 7 năm 2023; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2023 đối với:

Bị cáo Lường Văn Q, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Xóm H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Con ông: Lường Văn Đ, sinh năm 1969; Con bà: Lường Thị M, sinh năm 1970; đều ở xóm Hạ, xã Đồng Ruộng, huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình; Gia đình có 2 chị em, bị cáo là con thứ 2; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 26/3/2021, bị TAND quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian là 12 tháng. Đến ngày 04/3/2022 thì chấp hành xong Quyết định cai nghiện bắt buộc. Hiện bị cáo bị tạm giam trong vụ án “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” xảy ra tại huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn V - Trợ giúp viên pháp lý - Thuộc trung tâm Trợ gúp pháp lý Nhà nước, thành phố Hà Nội (chi nhánh số 9).

* Bị hại: Anh Tạ Văn X, sinh năm 1975; nơi cư trú: Tổ dân phố Ngô Sài, thị trấn Q, huyện Q, thành phố Hà Nội; (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Người làm chứng: Anh Đỗ Minh T, sinh năm 1968; cư trú: thị trấn L, huyện T, thành phố Hà Nội; ĐT: 0968.X.072 (vắng mặt)

- Anh Phan Văn S, sinh năm 1982; nơi cư trú: xóm Ao Sen, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội; ĐT: 0859.X.489 (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 31 tháng 12 năm 2022, anh Tạ Văn X, sinh năm 1975, HKTT: TDP Ngô Sài, thị trấn Q, huyện Q (làm nghề lái xe ôm) điều khiển xe máy Honda Wave màu xanh BKS: 30Z1-X đến điểm dừng xe buýt đối diện với cầu chui dân sinh số 9, đường gom phía Bắc - Đại lộ Thăng Long thuộc địa phận TDP Ngô Sài, thị trấn Q, huyện Q, thành phố Hà Nội và dựng xe tại đây để chờ đón khách. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày thì Lường Văn Q cũng làm nghề lái xe ôm điều khiển xe máy Honda Wave màu đỏ (không rõ BKS) đến và đỗ gần chỗ anh X đang đứng chờ khách. Khoảng 15 phút sau thì có 01 chiếc xe buýt đi đến và dừng lại lúc này anh X và Q nhìn thấy có một người phụ nữ từ trên xe buýt đi xuống nên cả hai cùng hỏi người phụ nữ này “đi xe ôm không” thì người phụ nữ trên trả lời là không đi xe ôm. Sau khi người phụ nữ này rời đi, anh X cho rằng Q có cử chỉ thiếu tôn trọng và tranh giành khách với Xuân nên hai bên đã xảy ra to tiếng, cãi nhau và đánh nhau, anh X đã có hành vi dùng mu bàn tay phải tát 01 phát trúng vào miệng của Q. Sau khi bị anh X đánh thì Q có hành vi dùng tay phải đấm 01 phát trúng vào vùng gò má phải của anh X và dùng chân đá 01 phát về phía anh X nhưng không trúng. Sau đó anh X bỏ chạy về phía cầu chui dân sinh số 9, Q đuổi theo nhưng không kịp nên đã quay lại lấy xe máy của mình đi về phòng trọ ở xã Phùng Xá, huyện T (do Q mới đến nên không nhớ cụ thể chủ nhà là ai) để lấy 01 con dao bằng kim loại dài khoảng 30cm có chuôi bằng gỗ (dạng dao thái) cài vào giá để đồ phía trước xe máy rồi điều khiển xe máy quay trở lại tìm anh X. Về phía anh X sau khi nhìn thấy Q đã bỏ đi thì anh X đã đi bộ đến vị trí dựng xe máy của mình trước đó để chờ, đón khách đi xe ôm. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, Q điều khiển xe máy của mình đến gần chỗ anh X đang đứng rồi dựng xe ở ven đường, sau đó tay phải Q cầm con dao rồi đi về phía anh X, lúc này anh X đang đứng đợi khách cách đó khoảng 6-7m thì nhìn thấy Q quay lại để đánh mình nên đã bỏ chạy về hướng cầu chui dân sinh số 9 sang đường gom phía Nam - Đại lộ Thăng Long và bỏ lại chiếc xe máy. Khi thấy anh X bỏ chạy, Q cầm dao đuổi theo nhưng không kịp nên đã đi bộ quay lại vị trí chiếc xe máy của anh X đang dựng ở vỉa hè gần điểm chờ xe buýt. Tại đây, Q dùng con dao đang cầm trên tay chém 01 phát vào phần chắn bùn ở phía đầu xe và 01 phát vào phần động cơ xe máy, sau khi chém xong thì Q nhìn thấy xăng từ xe máy của anh X chảy xuống vỉa hè nên Q đã lấy chiếc bật lửa có sẵn trong người ra rồi bật lửa đốt vào phần xăng đang chảy ra làm ngọn lửa bùng lên và đốt cháy toàn bộ chiếc xe máy của anh X (theo lời khai của anh X thì bên trong cốp xe còn có số tiền 2.600.000 đồng). Khi Q dùng bật lửa đốt xe máy của anh X thì có ông Đỗ Minh T, sinh năm 1968, là bảo vệ công ty Vinfast ở Khu công nghiệp T - Q đang làm nhiệm vụ cách đó khoảng 40m chứng kiến sự việc. Sau khi đốt chiếc xe máy của anh X, Q có gọi điện thoại kể lại cho bạn của mình là Phan Văn S, sinh năm 1982 ở xóm Ao Sen, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội biết sự việc Q đốt xe máy của anh X, sau đó Q điều khiển xe máy về phòng trọ thu dọn đồ đạc rồi bỏ đi sống lang thang. Hậu quả: Chiếc xe máy Honda Wave màu xanh BKS: 30Z1-X và số tiền 2.600.000 đồng bị cháy trụi hoàn toàn.

Sau khi sự việc xảy ra Q bỏ trốn khỏi địa phương và chỗ trọ, đến ngày 15/3/2023, Lường Văn Q đã bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La bắt quả tang, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Vật chứng thu giữ:

- 01 biển kiểm soát 30Z1-X (đã bị đốt cháy biến dạng và mờ phần chữ số) và 01 khung xe máy (số khung: 08092Y221101) và 01 bộ phận động cơ xe máy (số máy: HC08E0221044) đã bị đốt cháy biến dạng.

- Đối với chiếc dao và chiếc bật lửa của Q, sau khi sự việc xảy ra Q đã vứt bỏ nhưng không nhớ là vứt bỏ ở đâu nên cơ quan CSĐT không thu giữ được.

- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ (Q không nhớ BKS) Q đã bán cho một người không quen biết nên Cơ quan CSĐT không có căn cứ để xác minh, thu giữ chiếc xe này.

* Về trách nhiệm dân sự: Hiện nay anh Tạ Văn X yêu cầu Lường Văn Q bồi thường thiệt hại tài sản là chiếc xe máy Honda Wave và số tiền 2.600.000 đồng đã bị đốt cháy với tổng số tiền là 5.527.200 đồng. Hiện Lường Văn Q chưa bồi thường theo yêu cầu của anh X.

* Về hành vi cố ý gây thương tích: Trước khi xảy ra sự việc Tạ Văn X đã có hành vi dùng tay phải tát 01 phát bằng vùng mu bàn tay trúng vào vùng miệng của Lường Văn Q khiến Q bị ngã ra nền đường nhưng chỉ bị thương tích nhẹ nên không đi khám, điều trị ở cơ sở y tế nào. Cơ quan CSĐT đã ra quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với Q nhưng Q từ chối giám định thương tích và không có yêu cầu gì đối với hành vi Cố ý gây thương tích của Tạ Văn X. Tuy nhiên, hành vi nêu trên của Tạ Văn X là hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” quy định tại điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, nên ngày 27/6/2023 Công an huyện Q đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Tạ Văn X theo hành vi đã viện dẫn với mức phạt tiền là 6.500.000 đồng.

Ngoài ra, trong quá trình điều tra anh X khai nhận sau khi Xuân đánh Q đã bị Q dùng tay phải đấm 01 phát trúng vào vùng gò má phải của Xuân nhưng không để lại thương tích gì. Tuy nhiên, Q không thừa nhận việc đã đấm trúng vào má anh X và anh X cũng không có đề nghị gì về việc này nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Q không đề cập xử lý về hành vi Cố ý gây thương tích đối với Lường Văn Q là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐGTS ngày 15 tháng 02 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Q kết luận: “01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave BSK 30Z1-X (tài sản bị thiệt hại trong vụ việc) có giá trị tại thời điểm ngày 31/12/2022 là 2.927.200 đồng” Cáo trạng số: 46/CT-VKSQO ngày 10 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội “Huỷ hoại tài sản” theo khoản 1, Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm vụ án và đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo phạm tội “Huỷ hoại tài sản” theo khoản 1, Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xét nhân thân của bị không có tiền án, tiền sự, thái độ khai báo thành khẩn.

Đề nghị về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 178; Điều 38; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo mức án từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 17 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 50/2023/HS-ST ngày 11/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung từ 26 tháng đến 29 tháng tù.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để trả lại cho bị hại anh Tạ Văn X: 01 biển kiểm soát 30Z1-X đã bị đốt cháy, biến dạng và mờ phần chữ số; 01 khung xe máy và 01 bộ phận động cơ đã bị đốt cháy, gỉ nhiều chỗ nên không đọc được số khung xe (số máy: HC08E0221044) Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được sớm trở về gia đình.

* Người bào chữa cho bị cáo Lường Văn Q trình bày về tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Q truy tố là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo không có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở nơi có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn (dân tộc Tày), có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Đồng thời xem xét về thái độ của bị cáo luôn thành khẩn khai báo, nguyên nhân và hoàn cảnh phạm tội để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 101 Bộ luật hình sự để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo Q nhất trí lời bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, bị hại và người làm chứng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Quá trình điều tra, truy tố liên quan đến việc giải quyết vụ án (Về hành vi, các quyết định tố tụng), Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tiến hành đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015;

[2] Nội dung: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 31/12/2022 tại khu vực vỉa hè gần điểm chờ xe buýt đối diện cầu chui dân sinh số 9 đường gom phía Bắc - Đại lộ Thăng Long thuộc địa phận TDP Ngô Sài, thị trấn Q, huyện Q, do mâu thuẫn bột phát từ việc tranh giành khách đi xe ôm, nên giữa anh Tạ Văn X và Lường Văn Q có xảy ra xô sát, đánh nhau. Sau đó Lường Văn Q đã có hành vi dùng dao chém và bật lửa đốt cháy chiếc xe máy Honda Wave màu xanh BKS 30Z1-X của anh X đang dựng trên vỉa hè làm chiếc xe máy này bị cháy trụi, ngoài ra anh X còn khai bên trong cốp xe có số tiền 2.600.000đồng cũng bị cháy trụi theo. Theo kết luận định giá tài sản, giá trị của chiếc xe máy bị Q hủy hoại là 2.927.200 đồng.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét thấy, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, kết luận đinh giá tài sản cùng các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp với nội dung truy tố của bản cáo trạng. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo phạm tội “Huỷ hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, cần xử nghiêm để phục vụ công tác đấu tranh phòng chống tội phạm của địa phương. Xét nhân thân bị cáo tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 26/3/2021, bị Toà án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn là 12 tháng. Đến ngày 04/3/2022 thì chấp hành xong Quyết định cai nghiện bắt buộc. Do vậy cần thiết phải có hình phạt nghiêm khắc áp dụng đối với hành vi phạm tội của bị cáo mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa làm gương cho người khác biết tôn trọng pháp luật.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Khi xem xét, quyết định mức hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thái độ của bị cáo tại phiên tòa thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Do đó cần thiết áp dụng điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[3] Xử lý vật chứng: Trả lại cho bị hại là anh Tạ Văn X: 01 biển kiểm soát 30Z1-X đã bị đốt cháy, biến dạng và mờ phần chữ số; 01 khung xe máy và 01 bộ phận động cơ đã bị đốt cháy, gỉ nhiều chỗ nên không đọc được số khung xe; Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

* Về trách nhiệm dân sự: Anh Tạ Văn X có đơn xin vắng mặt tại phiên toà và yêu cầu bị cáo Lường Văn Q bồi thường thiệt hại tài sản là chiếc xe máy Honda Wave với giá trị 2.927.200 đồng và số tiền 2.600.000 đồng đã bị đốt cháy với tổng số tiền là 5.527.200 đồng. Hiện bị cáo Q chưa bồi thường theo yêu cầu của anh X.

* Về hành vi cố ý gây thương tích: Hành vi của Tạ Văn X gây thương tích cho Lường Văn Q đã bị Công an huyện Q đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 27/6/2023 với mức phạt tiền là 6.500.000 đồng là đảm bảo theo quy định của pháp luật.

Hàng vi của Lường Văn Q dùng tay phải đấm 01 phát trúng vào vùng gò má phải của Xuân nhưng không để lại thương tích gì và anh X cũng không có đề nghị gì về việc này nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Q không đề cập xử lý về hành vi Cố ý gây thương tích đối với Lường Văn Q là có căn cứ, đúng pháp luật.

Bản bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo phù hợp các quy định của pháp luật, nên được chấp nhận.

[4] Đề nghị của Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về Điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, phần xử lý vật chứng có căn cứ, phù hợp các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự và dân sự sơ thẩm. và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 178; Điều 38; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Lường Văn Q 12 (mười hai) tháng tù về tội “Huỷ hoại tài sản”. Tổng hợp hình phạt 17 (mười bảy) tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 50/2023/HS-ST ngày 11/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 29 (hai chín) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 16 tháng 3 năm 2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm c, khoản 3, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Trả lại cho bị hại anh Tạ Văn X: 01 (một) biển kiểm soát 30Z1-X đã bị đốt cháy, biến dạng và mờ phần chữ số; 01 (một) khung xe máy và 01 bộ phận động cơ đã bị đốt cháy, gỉ nhiều chỗ nên không đọc được số khung xe (số máy: HC08E0221044) theo Biên bản bàn giao nhận vật chứng, tài sản số 63/2023/THA ngày 08 tháng 8 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Q, thành phố Hà Nội.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Tạ Văn X số tiền 5.527.200 (năm triệu, năm trăm hai bảy nghìn, hai trăm) đồng.

Kể từ ngày anh Tạ Văn X có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không chịu bồi thường số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải trả anh X số tiền lãi đối với số tiền chưa trả theo mức lãi suất theo qui định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương tứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 23, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày 16 tháng 8 năm 2023; Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản bản được tống đạt hợp lệ./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

33
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội huỷ hoại tài sản số 56/2023/HS-ST

Số hiệu:56/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Quốc Oai - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 16/08/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về