Bản án về tội hủy hoại tài sản số 561/2023/HS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 561/2023/HS-PT NGÀY 18/07/2023 VỀ TỘI HỦY HOẠI TÀI SẢN

Ngày 18 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 638/2023/TLPT-HS ngày 19 tháng 6 năm 2023 do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2023/HS-ST ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Văn T; tên gọi khác: Không; sinh năm 1971; nơi sinh và đăng ký thường trú: Xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Tự do; con ông Nguyễn Văn X (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; gia đình có 06 anh em, bị cáo là con thứ tư; có vợ là Trần Thị C, có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1991, con nhỏ nhất sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: Không: Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16-12-2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.

2. Phùng Văn T1; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm 1993; nơi sinh và đăng ký thường trú: Xóm S, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo Tin lành; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; con ông Phùng Văn V và bà Bùi Thị N; gia đình bị cáo có 3 chị em, bị cáo là con thứ 2; có vợ là Phùng Thị O; có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 28-6-2022, Công an huyện G xử phạt hành chính về hành vi cố ý gây thương tích phạt tiền 6.500.000đ (đã nộp tiền phạt). Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16-12-2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.

3. Đỗ Văn P; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm 1999; nơi sinh và đăng ký thường trú: Xóm X, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo Thiên chúa; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 6/12; con ông Đỗ Văn R và bà Hoàng Thị M; gia đình có 4 chị em, bị cáo là con thứ thứ 4; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ năm 2001, ông Trần Văn H1, sinh năm 1957, trú tại: Xóm H, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định ra khu vực Cồn Nổi thuộc địa phận xã G và xã G, huyện G, tỉnh Nam Định đánh bắt hải sản và được UBND xã G, UBND xã G làm hợp đồng cho thuê quản lý, sử dụng các diện tích bãi bồi ven biển để nuôi trồng nhuyễn thể. Đến năm 2016, do thay đổi cơ chế quản lý nên UBND xã G và UBND xã G không còn làm hợp đồng cho thuê đối với các hộ dân nữa, nhưng các hộ dân vẫn tiếp tục quản lý, sử dụng phần bãi đã được thuê trước đây. Do không quản lý, sử dụng hết nên ông H1 đã chuyển nhượng một phần bãi cho người khác, trong đó vào ngày 04-3-2019 ông H1 đã chuyển nhượng cho ông Trần Văn T2, sinh năm 1979, trú tại: Khu D, thị trấn N, huyện G, tỉnh Nam Định phần bãi diện tích 5ha thuộc địa phận xã G, nằm ở phần bãi phía Bắc. Phần còn lại ông H1 quản lý 16,7ha đất bãi bồi thuộc xã G tiếp giáp ranh giới giữa xã G và xã G. Đến tháng 11/2020, ông H1 được UBND xã G cấp cho sơ đồ vị trí phần bãi bồi ven biển mà ông H1 đang sử dụng có diện tích 16,7ha. Tháng 8-2021, ông H1 được UBND xã G xác nhận đang sử dụng đất bãi bồi có diện tích 15ha ở khu vực C tiếp giáp với ranh giới giữa hai xã G và xã G, liền kề với phần bãi bồi diện tích 16,7ha ở xã G. Tháng 5/2022, ông Trần Văn H1 và ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 1973, trú tại: Tổ dân phố Đ, thị trấn N, huyện G, tỉnh Nam Định chung nhau làm vây nuôi ngao có diện tích 6ha thuộc địa phận bãi bồi ven biển giáp ranh giữa hai xã G và xã G. Trong đó 3ha ông P1 mượn của ông Trần Văn T2 thuộc địa phận xã G (nằm trong phần bãi 5ha của ông T2); ông H1 góp 3ha gồm 1,5ha thuộc địa phận xã G (nằm trong phần bãi 16,7ha) và 1,5ha thuộc địa phận xã G (nằm trong phần bãi 15ha). Ông H1 cùng ông P1 góp tiền thuê người cải tạo bãi, mua lưới bả, cọc tre để đóng vây phần diện tích 6ha này. Đến ngày 25-6-2022 bắt đầu thả ngao giống vào trong vây và quản lý trông coi. Khi ông H1, ông P1 cắm cọc, làm vây thì xảy ra tranh chấp bãi với nhóm đối tượng gồm Nguyễn Văn T, Trần Linh T3, Vũ Văn T4. Khoảng 13 giờ ngày 15/7/2022, ông Trần Văn H1 cùng với 02 con trai là anh Trần Quốc H2, sinh năm 1992 và anh Trần Văn T5, sinh năm 1991 đang ở chòi canh trông coi vây thì nhóm đối tượng gồm Vũ Văn T4; Trần Văn L; Phùng Văn T1; Trần Linh T3; Bùi Văn X1; Nguyễn Văn T và Đỗ Văn P đi ca nô tiến vào vây chung của ông H1 và ông P1. Nguyễn Văn T kéo máy sủi của gia đình tiến vào khu vực giữa phần vây phía Nam của ông H1 và ông P1 rồi cùng với T4, T3, X1, T1, L, P chuẩn bị nhổ cọc phá vây. Lúc này nước biển dâng cao khoảng hơn 1m đến tầm ngực bụng người lớn, T nổ máy sủi để bơm nước sủi cát ở chân cọc tre giúp cho đồng bọn nhổ cọc lên dễ hơn, X1 cầm đầu vòi để sủi cát ở chân cọc tre. Lúc này ông H1 và anh H2, anh T5 đi thuyền đến yêu cầu các đối tượng dừng lại, giải thích rằng đây là vây mà gia đình ông H1 chung với ông P1, bãi vừa mới cải tạo, chôn cọc, vây bả lưới và thả con hàng, gia đình ông H1 đang quản lý, có vấn đề gì thì mời về UBND xã để giải quyết. Tuy nhiên, các đối tượng tự nhận đây là phần bãi của bọn chúng đang quản lý sử dụng, không cho phép người khác cắm cọc quây lưới làm vây ở đây, các đối tượng không nghe mà tiếp tục phá vây. Ông H1 và X1 giằng co nhau đoạn đầu vòi nước, H2 đi đến tắt máy sủi làm nhóm T4 không sử dụng được máy sủi, T4 lên nổ lại máy sủi nhưng không được nên T4, T3, X1, T1, L, P chia nhau ra đi nhổ cọc. Tuyền kéo máy sủi đến cồn cát gần đó neo lại và quay lại kéo ca nô của T4 về cồn cát neo lại đợi nhóm T4, T3, X1, T1, L, P. Lúc này nhóm T4, T3, X1, T1, L, P chia nhau ra theo 2 hướng bắt đầu từ khoảng giữa phần vây phía Nam để nhổ cọc. T3 cùng L, P, T1 đi theo hướng trên phần vây phía Nam tiếp giáp phần vây phía Tây, còn T4, X1 đi theo hướng trên phần vây phía Nam tiếp giáp phần vây phía Đông. T3 đi trước dùng dao cắt dây buộc cọc tre với bả lưới và cắt vào 2 vị trí trên bả lưới, còn L, P, T1 đi sau dùng tay lay và nhổ cọc lên vứt trên mặt nước biển. Thích, Xuân tự chia nhau mỗi người đi một đoạn vây. X1 tự tháo dây buộc rồi lay và nhổ cọc tre vứt trên mặt nước biển. Thích sử dụng dao cắt dây buộc, cắt vào 2 vị trí trên bả lưới và nhổ cọc tre vứt trên mặt nước biển. Do nước biển dâng cao hơn bả lưới, chỉ lộ ra một phần đầu trên của cọc tre ở phía trên mặt nước biển, số cọc tre bị nhổ lên trôi nổi trên mặt biển, gia đình ông H1 có ra giữ lại cọc tre nhưng không thể giữ được do nước lớn. Gia đình ông H1 không ngăn cản được các đối tượng nên đi thuyền về còn các đối tượng tiếp tục hành vi nhổ cọc phá vây gây thiệt hại tài sản cho gia đình ông H1 và ông P1. Đến khoảng 15h30’ do nước biển dâng cao đến cổ nên các đối tượng không tiếp tục phá vây được nữa và lên ca nô của T4 đi về. Sáng ngày 16/7/2022, gia đình ông H1, ông P1 đến cơ quan công an trình báo.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 16/7/2022 xác định: nhiều đoạn vây bị nhổ cọc, bả lưới đổ dưới chân vây, chỉ còn một số cọc tre đổ nằm ngang dưới chân vây, có 04 vị trí bả bị cắt đứt, bờ mép sắc gọn dọc theo chiều cao của lưới, vị trí lưới bả bị đổ ở khu vực vây tiếp giáp vây của The P2 có nhiều vạng giống bị trôi qua lưới và trên mặt lưới.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 09/10/2022 và số 05/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Nam Định xác định: Tổng giá trị thiệt hại tài sản do cọc tre bị nhổ, trôi mất và bả lưới bị cắt là 5.979.100 đồng.

Tại CQĐT, Nguyễn Văn T thừa nhận hành vi nhổ cọc, phá vây lưới như nêu trên và khai nhận: Khoảng tháng 11/2021, T3 gọi điện cho T bảo ra nhà T3. Tại đây, có T3, T4, L. Thích nói ra cắm cọc vây ngoài bãi nhưng tranh chấp với gia đình ông H1 ở bãi thuộc xã G giáp xã G. T nói có cùng ông T6 thuê bãi giáp vị trí bãi ông H1, nên T3 bảo T về bảo ông T6 viết Giấy chuyển nhượng cho T4 và L. Tối 14-7-2022, X1 và T4 gọi điện bảo chiều hôm sau ra bãi nhổ vây mà ông P1 đang làm.

Tại CQĐT, Trần Linh T3 thừa nhận hành vi nhổ cọc, phá vây lưới như nêu trên và khai nhận: Năm 2019, T nói bãi mà T và ông T6 thuê rất rộng, có làm thì góp vào để làm chung nên T3 đồng ý, do tin tưởng T nói bãi có giấy tờ hợp pháp. Tuy nhiên, do bãi chưa canh tác được nên chỉ để cho T trông coi vì T có vây bãi giáp đó, chờ khi nào sóng đánh bãi bằng thì sẽ nuôi trồng thủy sản. Sau đó T rủ thêm T4 và L chung nhau làm bãi với T3 và T. Đến khoảng tháng 6/2022, T nói với T3 là ông P1 cắm cọc, làm vây trên vị trí bãi của T3, T. Hai bên thường xuyên tranh cãi về vị trí bãi này. Đến ngày 15/7/2022, T nói với T3 là nếu Phê không nhổ cọc mà vẫn tiếp tục cắm cọc làm vây thì cả nhóm ra nhổ đi lấy lại bãi nên T3 nghe theo. T3 bảo X1 đi cùng ra bãi.

Tại CQĐT, Vũ Văn T4 thừa nhận hành vi nhổ cọc, phá vây lưới như nêu trên và khai nhận: Năm 2021, được T rủ chung bãi và nói là có đầy đủ giấy tờ nên T4 đồng ý. Ngày 15/7/2022, khi T4 đang ở chòi canh vây của mình gần với bãi chung với T thì thấy có người ra cắm cọc ở bãi chung đã gọi điện cho T thì T bảo gọi nhóm T3, L ra nhổ cọc đòi lại bãi nên đã nghe theo.

Tại CQĐT, L, X1, T1, P2 khai báo hành vi tham gia nhổ cọc, phá vây như nêu trên.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2023/HS-ST ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định quyết định:

1. Về tội danh:

- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Phùng Văn T1, Đỗ Văn P phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

2. Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; các điểm s, b, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.

Xử phạt:

- Bị cáo Nguyễn Văn T 18 tháng tù, thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 16/12/2022.

- Bị cáo Phùng Văn T1 09 tháng tù, thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 16/12/2022.

- Bị cáo Đỗ Văn P 09 tháng tù, thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 02/3/2023. Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 15/5/2023, bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt. Ngày 18/5/2023, bị cáo Phùng Văn T1, Đỗ Văn P có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

+ Bị cáo Phùng Văn T1, Đỗ Văn P rút kháng cáo.

+ Bị cáo Nguyễn Văn T giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt vì hoàn cảnh gia đình khó khăn mẹ đẻ bị liệt cần người chăm sóc. Bị cáo nộp tài liệu bị cáo đã đóng góp ủng hộ quỹ đền ơn đáp nghĩa xã G, giấy xác nhận mẹ bị cáo là người tàn tật nặng về vận động.

Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tóm tắt nội dung vụ án, phân tích đánh giá tài liệu tại hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa xác định các bị cáo phạm tội “huỷ hoại tài sản” được quy định khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phùng Văn T1, Đỗ Văn P rút kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo T1, bị cáo P. Bị cáo Nguyễn Văn T tiếp tục thành khẩn nhận tội, tỏ ra ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người lao động chính trong gia đình, có mẹ đẻ là người khuyết tật nặng, có đóng góp với quỹ xoá đói giảm nghèo tại địa phương, do đó có căn cứ để giảm cho bị cáo T một phần hình phạt.

Đề nghị: Căn cứ điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Phùng Văn T1, Đỗ Văn P. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm giảm hình phạt cho bị cáo Nguyễn Văn T từ 3 - 4 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu tại hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định như sau:

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T, Phùng văn T7, Đỗ Văn P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Sau khi xem xét, HĐXX thấy:

[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phùng văn T7, Đỗ Văn P rút kháng cáo. Căn cứ Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử quyết định Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo T7, P. [2]. Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với tài liệu tại hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác và phù hợp với nhau, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13h00’ ngày 15/7/2022, bị cáo T cùng các bị cáo khác là Vũ Văn T4, Trần Văn L, Trần Linh T3, Phùng Văn T1, Đỗ Văn P, Bùi Văn X1 dùng máy sủi sủi cát, dùng tay nhổ các cọc tre, dùng dao cắt dây buộc cọc tre với bả lưới, vứt cọc tre trên mặt nước biển để phá vây chung của ông H1, ông P1 tại khu vực bãi bồi ven biển giáp ranh giữa 2 xã G và G thuộc huyện G, tỉnh Nam Định. Hành vi của các bị cáo đã gây thiệt hại là 5.979.100 đồng.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của công dân, gây mất trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến cuộc sống sản xuất lao động bình thường tại địa phương, hành vi diễn ra ban ngày, công khai thể hiện thái độ coi thường pháp luật, hành vi phạm tội có đồng phạm. Với hành vi trên, các bị cáo bị truy tố và xét xử tội “ Hủy hoại tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 là đúng người, đúng tội, không oan.

[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn T: Bị cáo T có vai trò chính trong vụ án. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn nhận tội, tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, bị cáo có nhân thân tốt phạm tội lần đầu. Các bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Những tình tiết giảm nhẹ trên được quy định tại điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 178 Bộ luật hình sự mức hình phạt là phạt tiền từ 10 triệu đến 50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Trong vụ án này, bị cáo T được hưởng 3 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, tài sản thiệt hại không lớn và đã được bồi thường toàn bộ, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, Toà án cấp sơ thẩm phạt bị cáo 18 tháng tù là có phần nghiêm khắc. Tại cấp phúc thẩm, có tài liệu mới thể hiện bị cáo T đã có đóng góp vào quỹ xóa đói giảm nghèo của địa phương, mẹ bị cáo bị tàn tật nặng, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Hội đồng xét xử thấy có thể chấp nhận kháng cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục, phòng ngừa, thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

[5]. Về án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm Vì các lẽ trên, Căn cứ Điều 348; điểm b Khoản 2 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

QUYẾT ĐỊNH

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Phùng Văn T1, bị cáo Đỗ Văn P. Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2023/HS-ST ngày 10/5/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Nam Định có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo Phùng Văn T1, bị cáo Đỗ Văn P. 2. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2023/HS-ST ngày 10/5/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Áp dụng khoản 2 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2022.

2. Về án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.  

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

76
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội hủy hoại tài sản số 561/2023/HS-PT

Số hiệu:561/2023/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:18/07/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về