TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
BẢN ÁN 42/2023/HS-ST NGÀY 27/09/2023 VỀ TỘI HỦY HOẠI TÀI SẢN
Ngày 27 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2023/QĐXXST-HS ngày 15/9/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hồ Văn T, sinh năm 2001 tại tỉnh Đăk Lắk; nơi cư trú: Thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn B, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1978; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 12/7/2023 đến nay. Có mặt.
Bị hại: Bà Nguyễn Thị L – sinh năm 1959. Có đơn xin vắng mặt Địa chỉ: Tổ dân phố M, phường N, TP. P, tỉnh Đăk Nông.
Người làm chứng:
Anh Dư Ngọc S – sinh năm 1993. Vắng mặt Địa chỉ: Tổ M1, phường N1, TP. P, tỉnh Đăk Nông. Anh Trần Quốc T – sinh năm 1999. Vắng mặt Địa chỉ: Tổ M, phường N, TP. P, tỉnh Đắk Nông. Anh Nguyễn Anh Q – sinh năm 1999. Vắng mặt Địa chỉ: Bon M, xã N, huyện P1, tỉnh Đắk Nông.
Anh Lê Đ – sinh năm 1997. Vắng mặt Địa chỉ: Tổ M2, phường N, TP. P, tỉnh Đắk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội Dng vụ án được tóm tắt như sau:
Đinh Ngọc Th (tên thường gọi: Sơn T; trú tại thôn Quảng Tiến, xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong) ký hợp đồng giao khoán nhận trông coi, chăm sóc, thu hoạch lô cao su tại tỉnh lộ 6, thuộc thôn Quảng Tiến, xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong của ông Trần Đức Nhuận (sinh năm 1974; trú tại: khối 1, thị trấn kiến Đức, huyện Đắk R’lấp) từ năm 2018. Tại đây, Th thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp đất đai, cao su với bà Nguyễn Thị L (tên gọi khác: Nguyễn Thị Hoàng L2; sinh năm 1959; trú tại: tổ 9, phường Nghĩa Thành, thành phố Gia Nghĩa) và ông Trương Đình Nở (sinh năm 1957; trú tại: thôn 8, xã Đắk Ha, huyện Đắk Glong).
S ngày 26/5/2021, bà L thuê xe chở đồ dùng sinh hoạt cùng công nhân vào nhà lán ở khu vực lô cao su thì tiếp tục xảy ra mâu thuẫn với Th và nhóm người làm thuê của Th.
Khoảng 10 giờ cùng ngày, Th gọi điện cho Phạm D (sinh năm 1992; trú tại: tổ 2, phường Nghĩa Tân, thành phố Gia Nghĩa; làm nghề lái xe taxi) nhờ tìm thuê người vào đuổi nhóm công nhân của bà L. Đồng thời, Th chỉ đạo những người làm công cho Th chuẩn bị dao, gậy để chờ nhóm người của D vào đánh đuổi nhóm người bên bà L.
Nghe điện thoại của Th xong, D gọi điện cho gọi Lê Đ (tên thường gọi: Đen), Phạm Ngọc H5 (tên thường gọi: H5 Ngộ) nhờ tìm thêm người vào giúp Th. D chở Đ đến quán Lương Sơn Quán của Dư Ngọc S tại tổ 10, phường Nghĩa Thành, thành phố Gia Nghĩa thì gặp S, Hồ Văn T, Trần Quốc T, Nguyễn Anh Q, Thành, Ty và 02 người thanh niên (chưa rõ nhân thân, lai lịch), Đ rủ nhóm người trên cùng đi vào xã Quảng Sơn giúp Th thì tất cả đồng ý.
Phạm Ngọc H5 gọi điện rủ Đỗ Văn D, Phạm Hồng S tham gia thì D, S đồng ý. D chở theo nhóm người từ quán Lương Sơn Quán và gọi thêm 02 xe taxi do Đào Minh S, Trịnh Minh Kh điều khiển đến gặp H5. Sau đó, D chở Đ, T, T; Khánh chở S, Q, Th; S chở H, D, Sơn, T và 02 người thanh niên đi vào xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong.
Khi đến trung T xã Quảng Sơn, D gọi Th ra đưa cho Đ 2.000.000 đồng để trả tiền cơm. Sau đó, Th chạy xe máy dẫn đường cho 03 xe ô tô đi về hướng tỉnh lộ 6. Trên đường đi, H5, Đ xuống xe, nói chuyện với Th và thống nhất “Th trả công mỗi người 500.000 đồng, còn nếu đánh nhau thì tính toán sau”. Sau đó, Th đi về lô cao su trước, nhóm D, Đ, H5 tập trung tại Cây xăng Hưng Phước. D chở H5, Đ, T đến Cửa hàng vật liệu xây dựng Phú Huệ (thôn Quảng Tiến, xã Quảng Sơn) mua 03 cây sắt (đường kính 03 - 04cm, dài 06m) để làm hung khí. H5 mượn máy cắt thành các ống tuýp dài khoảng 80cm, D xin 01 bao tải để đựng, T bỏ bao tải chứa các ống tuýp sắt lên xe D, Đ trả tiền rồi quay lại Cây xăng Hưng Phước. Tại đây, Nguyễn Anh Q chuyển bao tải đựng tuýp sắt sang xe H5 rồi tất cả đi vào nhà Th.
Khoảng 16 giờ cùng ngày, Hồ Văn T cùng nhóm D, Đ đến nhà Th. Lúc này, tại nhà Th có Th, Nguyễn Thị T (sinh năm 1993, vợ Th), Tính, Hồng Thị Tre (sinh năm 1991, vợ Tính), Gi, Ch, D, Q, T, Phạm Văn S và một số người khác (chưa xác định nhân thân, lai lịch). Th nói Chạy, Hà Đình Q lấy gậy sắt, dao phát ra để trước cửa nhà, 01 người thanh niên (chưa xác định nhân thân, lai lịch) lấy bao tải đựng tuýp sắt trên xe ô tô, đổ ra cùng với đống dao phát. Th nói mọi người “Ai cầm gì thì cầm rồi đi”. D cùng 02 tài xế xe taxi ở lại xe ô tô chờ. T cùng nhóm người của Đ, H5 mỗi người cầm 01 cây tuýp sắt, nhóm của Th cầm dao phát, gậy sắt, tuýp sắt rồi đi theo Th vào vườn cao su. Khi đến gần ngôi nhà làm bằng tôn bà L cho công nhân ở, Th nói tất cả ngồi xuống, khi nào Th hô thì xông vào đuổi đánh những người trong nhà. Một lát sau, Th hô: “Anh em! Lên!” thì tất cả đồng loạt chạy về phía nhà tôn, đánh đuổi nhóm công nhân, đập phá nhà và đồ đạc.
Quá trình đuổi đánh nhóm công nhân, Th dùng gậy sắt đánh trúng tay trái của anh Nguyễn Ngọc Th (sinh năm 1992; trú tại: khu 2, phường Thác Mơ, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước, là công nhân của bà L). Nhóm Th đuổi đánh nhóm công nhân rồi quay lại tiếp tục đập phá đồ đạc trong nhà.
Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, T đi cùng T, Đ tới gặp Th lấy 6.000.000 đồng tiền công. Khi về lại quán của S, Đ chia cho T và những người tham gia đánh nhau mỗi người 500.000 đồng.
Ngày 26/5/2021, anh Nguyễn Ngọc Th có đơn yêu cầu giám định thương tích, xử lý hình sự đối với các đối tượng đã gây ra thương tích cho anh Th; ngày 28/5/2021, bà Nguyễn Thị L có đơn yêu cầu xử lý các đối tượng đã đuổi đánh nhóm công nhân, đập phá, chiếm đoạt tài sản của bà L.
Tại bản giám định pháp y về thương tích số 187/TgT ngày 18/6/2021 của Trung T pháp y tỉnh Đắk Nông kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Ngọc Th hiện tại là:
+ Gãy thân xương trụ tay trái đã phẫu thuật, kết hợp xương, trục thẳng, chức năng cẳng tay không bị ảnh hưởng, tỷ lệ 08%;
+ Sẹo phần mềm cẳng tay trái kích thước trung bình, tỷ lệ cộng dồn 1,84%.
Tổng tỷ lệ: 08% + 1,84% = 9,84%, làm tròn bằng 10%. Tổn thương do bị vật tày tác động.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS ngày 20/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Đắk Glong kết luận: Tổng giá trị tài sản bị hủy hoại (13 tô sứ, 01 xô nhựa, 01 thau nhựa, 13 bình nước, 01 đĩa sứ, 03 bao gạo, 04 tấm tôn sóng vuông, màu xanh, 02 tấm tôn sóng, vuông, màu trắng) vào chiều ngày 26/5/2021 là 3.356.000 đồng (Ba triệu ba trăm năm mươi sáu ngàn đồng).
Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo bỏ trốn, đến ngày 12/7/2023, bị bắt theo lệnh truy nã của Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Glong.
Ngày 04/5/2023, anh Nguyễn Ngọc Th có đơn rút yêu cầu khởi tố đối với hành vi Cố ý gây thương tích mà bị cáo và những đối tượng khác gây ra vào ngày 26/5/2021.
Tại bản cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 07/9/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong đã truy tố bị cáo Hồ Văn T về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Hủy hoại tài sản”. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Đại diện VKS đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS, xử phạt bị cáo Hồ Văn T từ 08 đến 10 tháng tù.
- Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền 500.000 đồng bị cáo Hồ Văn T giao nộp.
Đối với những vật chứng Cơ quan CSĐT Công an huyện thu giữ trong quá trình điều tra: Đã được giải quyết tại bản án số 02/2022/HS-ST ngày 11/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình đã bồi thường cho bà Nguyễn Thị L số tiền 10.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu gì thêm.
Tại phiên tòa bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội Dng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 26/5/2021, Hồ Văn T tham gia cùng với nhóm người của Đinh Ngọc Th đập phá đồ đạc của bà Nguyễn Thị L tại lô cao su thuộc thôn Quảng Tiến, xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông, giá trị tài sản bị hủy hoại là 3.356.000 đồng. Vì vậy HĐXX xét thấy đã đủ cơ sở pháp lý kết luận hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của BLHS.
Khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào hủy hoại tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
2. ...
Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo Hồ Văn T về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, HĐXX xét thấy cần phải có mức hình phạt tương xứng với mức độ hành vi phạm tội bị cáo gây ra, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân tốt, biết tôn trọng tài sản của người khác và biết tôn trọng pháp luật, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; phạm tội gây thiệt hại không lớn; bị cáo được bị hại viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
[5] Hình phạt bổ sung: Không áp dụng [6]. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền 500.000 đồng bị cáo Hồ Văn T giao nộp.
Đối với những vật chứng Cơ quan CSĐT Công an huyện thu giữ trong quá trình điều tra: Đã được giải quyết tại bản án số 02/2022/HS-ST ngày 11/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình đã bồi thường cho bà Nguyễn Thị L số tiền 10.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu gì thêm.
[7] Trong vụ án còn có một số vấn đề khác: Đối với Đinh Ngọc Th, Võ Trường Giang, Trần Ngọc Tính, Huỳnh Văn Chạy, Đỗ Ngọc Dũng, Lê Đ, Nguyễn Anh Q, Phạm Văn Sung, Phạm Ngọc H5, Dư Ngọc S, Trần Quốc T, Nguyễn Đức Tân, Đỗ Văn Dy, Phạm Hồng Sơn, Phạm D, Hà Đình Q: Đã bị xử lý trong vụ án khác nên không tiếp tục đề cập giải quyết.
Đối với một số đối tượng tham gia vụ án nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch: Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Glong tiếp tục xác minh, xử lý khi có đủ căn cứ.
[8]. Xét đề nghị của đại diện viện kiểm sát về mức hình phạt là phù hợp nên cần chấp nhận.
[9]. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Hồ Văn T phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
Căn sứ khoản 1 Điều 178; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS.
1. Xử phạt bị cáo Hồ Văn T 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 12/7/2023.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền 500.000 đồng bị cáo Hồ Văn T giao nộp.
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 19/9/2023 giữa Công an huyện Đắk Glong và Chi cục thi hành án Dân sự huyện Đắk Glong).
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Hồ Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án về tội hủy hoại tài sản số 42/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 42/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Đắk Glong - Đăk Nông |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 27/09/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về