TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
BẢN ÁN 220/2023/HS-PT NGÀY 05/07/2023 VỀ TỘI HỦY HOẠI TÀI SẢN
Ngày 05 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 141/2023/TLPT-HS ngày 28/4/2023 đối với bị cáo Đồng Bảo Q do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 123/2023/HS-ST ngày 23/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Bị cáo có kháng cáo:
Đồng Bảo Q (tên gọi khác: không có), sinh năm: 1974 tại Bình Dương.
Nơi đăng ký HKTT: Số A khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đồng Văn S, sinh năm 1948 (chết) và bà Nguyễn Thị G, sinh năm: không rõ (chết). Có vợ là Lý Thị Anh Đ, sinh năm: 1975 và chưa có con. Tiền sự: không.
Tiền án: Ngày 27/5/2020, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà xử phạt 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù giam về tội “Chống người thi hành công vụ”. Chấp hành xong hình phạt ngày 03/02/2021 (chưa được xoá án tích).
Bị bắt ngày 15/8/2022 (Theo lệnh truy nã).
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam B5 Công an tỉnh Đ – Có mặt.
(Ngoài ra trong vụ án còn có người bị hại nhưng do không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 13/02/2021, Đồng Bảo Q và Nguyễn Thị Kim N thuê phòng số 09, khách sạn K (Diamond H) thuộc chi nhánh công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên V, địa chỉ số A, đường N, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Tại đây, giữa Q và chị N đã xảy ra mâu thuẫn cãi nhau nên chị N bỏ đi. Đến khoảng 21 giờ 30 phút ngày 14/02/2021, sau khi uống rượu say, Quốc nghĩ đến việc đã cãi nhau với chị N nên nảy sinh bực tức. Q lấy 01 (một) cái búa ở vị trí cạnh ghế đá khu vực hồ bơi của khách sạn đập bể 02 (hai) tấm kính tại phòng ăn; 03 (ba) trụ đèn sân vườn trước phòng số 9, Q dùng tay giật hư 01 (một) tay khoá nắm cửa tròn và dùng búa đập bể màn hình 01 (một) tivi, nhãn hiệu S1 32 inch của phòng số 9 rồi Q bỏ đi ngủ.
Sau khi sự việc xảy ra, chị Bùi Thị Thảo Q1 là nhân viên của khách sạn K trình báo đến Công an phường B. Công an phường B lập hồ sơ, chuyển cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B theo quy định pháp luật. Trong quá trình điều tra, Đồng Bảo Q bỏ trốn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ra Quyết định truy nã đối với Q. Đến ngày 15/8/2022, Đồng Bảo Q bị bắt theo quyết định truy nã và bị điều tra xử lý theo quy định pháp luật.
Vật chứng vụ án: 01 (một) cây búa lưỡi bằng kim loại có một đầu bẹt để chặt và một đầu bằng để đóng đinh, cán bằng gỗ dài khoảng 40 cm là công cụ Đồng Bảo Q đã sử dụng để đập phá tài sản; 01 (một) tivi màn hình phẳng loại treo tường hiệu S1 32 inch bị thủng một lỗ giữa màn hình; 01 (một) ổ khoá cửa tròn bằng sắt không có nhãn hiệu, tất cả tài sản trên là của khách sạn Kim C, cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố B đã trả lại do anh Đàm Công H là người đại diện bị hại theo uỷ quyền của công ty.
Đối với các vật chứng là 03 (ba) trụ đèn và 02 (hai) tấm kính bị vỡ là vật chứng của vụ án, đã bị vỡ nát, cơ quan điều tra đã tiến hành chụp ảnh để ghi nhận, không tiến hành thu giữ các vật chứng nêu trên.
Bản kết luận định giá tài sản số 88/KL – HĐĐGTS ngày 11/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự T “02 (hai) tấm kính kích thước 1,1m x 0,9m, dày 7mm; 03 (ba) trụ đèn sân vườn; 01 (một) tay khoá nắm cửa tròn; 01 (một) tivi nhãn hiệu Samsung 32 inch, tất cả có giá trị định giá thiệt hại là 3.229.800 đồng (Ba triệu hai trăm hai mươi chín nghìn tám trăm đồng).
Về dân sự: Đại diện theo uỷ quyền của bị hại là anh Đàm Công H yêu cầu bị cáo Đồng Bảo Q bồi thường số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Hiện bị cáo chưa bồi thường.
Bản án số 123/2023/HSST ngày 23/3/2023 của Tòa án nhân dân THÀNH PHỐ Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai quyết định:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 178; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 589 Bộ luật dân sự 2015.
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên bố bị cáo Đồng Bảo Q phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
Xử phạt bị cáo Đồng Bảo Q 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/8/2022.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, bồi thường thiệt hại và quyền kháng cáo của bị cáo.
Ngày 27/3/2023, bị cáo Đồng Bảo Q có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đồng Bảo Q khai nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã mô tả, bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết gì mới.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:
Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo phù hợp về nội dung, hình thức và trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: Cấp sơ thẩm đã căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Đồng Bảo Q làm trong hạn luật định, đúng quy định pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đồng Bảo Q thừa nhận hành vi phạm tội như mô tả tại bản án sơ thẩm; không bị oan sai, đồng thời trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử ở cấp sơ thẩm bị cáo không bị ép cung hoặc dùng nhục hình, lời khai của bị cáo hoàn toàn chính xác và tự nguyện. Do đó, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại Điều 178 Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng người và đúng tội.
[3]. Về nội dung kháng cáo:
Bản án sơ thẩm nhận định: Bản án 142/HSST ngày 30/9/1996 bị Toà án nhân dân tỉnh Sông Bé (Bản án HSPT số 659/HSPT ngày 23/4/1997 của Tòa án nhân dân tối cao THÀNH PHỐ Hồ Chí Minh) xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân” (Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/10/2002) chưa được xóa án tích nên là tiền án; Tuy nhiên tại Biên bản xác minh về việc đóng án phí ngày 07/01/2020 (BL 90A) xác định Q đã đóng án phí sơ thẩm nhưng không xác định ngày, về phần bồi thường dân sự người bị hại không có đơn yêu cầu; tại Biên lai thu án phí sơ thẩm của bản án 142/HSST ngày 30/9/1996 Toà án nhân dân tỉnh Sông Bé (BL 89) thể hiện Quốc đóng 158.000đ ngày 03/6/2008; tại Biên bản xác minh án phí phúc thẩm (BL 113) ngày 13/01/2023 xác định Q chưa đóng án phí phúc thẩm do cơ quan thi hành án chưa ra quyết định thi hành. Việc bồi thường dân sự là do người bị hại không có yêu cầu, án phí phúc thẩm cơ quan thi hành án chưa ra quyết định thi hành nên tính tới thời điểm lần phạm tội này đã hết thời hiệu thi hành bản án.
Mặt khác, tại bản án 231/2009/HSST và 238/2009/HSPT ngày 29/7/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã xử bị cáo 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phần tiền án của bản án này ghi bị cáo không có tiền án tiền sự (BL77). Như vậy, căn cứ vào các quy định của BLHS 1999 và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành thì Bản án số 142/HSST ngày 30/9/1996 của Toà án nhân dân tỉnh Sông Bé đã được xóa án tích.
Vì vậy, trong vụ án này bị cáo chỉ có tình tiết tăng nặng là tái phạm theo điểm h khoản 1 điều 52 BLHS chứ không phải là tái phạm nguy hiểm theo tình tiết định khung điểm g khoản 2 Điều 178 nên Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án theo khoản 1 điều 178 BLHS với tình tiết tăng nặng là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Q, giảm mức hình phạt cho bị cáo.
[4]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đồng Bảo Q nên bị cáo không phải chịu án phí HSPT.
[5]. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị y án sơ thẩm là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận phần đề nghị này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đồng Bảo Q, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 123/2023/HS-ST ngày 23/3/2023 của Tòa án nhân dân THÀNH PHỐ Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm h khoản 1 điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 589 Bộ luật dân sự 2015.
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử phạt bị cáo Đồng Bảo Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 15/8/2022.
3. Về án phí: Bị cáo Đồng Bảo Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các phần khác của bản án hình sự sơ thẩm số 123/2023/HS-ST ngày 23/3/2023 của Tòa án nhân dân THÀNH PHỐ Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tội hủy hoại tài sản số 220/2023/HS-PT
| Số hiệu: | 220/2023/HS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Đồng Nai |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 05/07/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về