Bản án về tội hủy hoại tài sản số 119/2023/HS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM, TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 119/2023/HS-ST NGÀY 20/12/2023 VỀ TỘI HỦY HOẠI TÀI SẢN

Ngày 20 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 110/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

- Phạm Thị Ngọc H - sinh năm 1997; nơi cư trú: thôn T P, xã L P, huyện T L, tỉnh H; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn K (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; có chồng là Nguyễn Viết Đ và có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không. Hiện đang đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Ông Nguyễn Xuân H - sinh năm 1958;

2. Bà Hoàng Thị K - sinh năm 1960;

Cùng nơi cư trú: thôn T P, xã L P, huyện T L, tỉnh H.

- Người đại diện theo ủy quyền của các bị hại: anh Nguyễn Trường T - sinh năm 1990; nơi thường trú: tổ .., phường T C, thành phố V T, tỉnh Phú Thọ; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Bà Phạm Thị B - sinh năm 1967; vắng mặt.

2. Ông Nguyễn Viết D - sinh năm 1963; vắng mặt.

3. Anh Nguyễn Viết Đ - sinh năm 1989; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 20/9/2020, Phạm Thị Ngọc H đi bộ sang nhà bố mẹ chồng là ông Nguyễn Viết D và bà Phạm Thị B, trú cùng thôn nhưng không có ai ở nhà. Quan sát thấy nhà ông Nguyễn Xuân H (là anh trai ông D) ngay sát cạnh nhà ông D, bà B cũng không có ai, ở sân có 02 xe mô tô BKS 15-3..-FN và BKS 90B3- 107… dựng cạnh nhau. Do bực tức vì nghĩ rằng trước đó vợ ông H là bà Hoàng Thị K đã đổ cát vào cống thoát nước của gia đình H nên H nảy sinh ý định dùng dầu khoáng đốt xe mô tô của bà K. H liền lấy can nhựa đựng dầu khoáng có sẵn từ trước để trong ang nước ở sân nhà bà B, san đổ dầu vào ½ chai nhựa Numberone có sẵn rồi đi vào nhà bà B lấy chiếc bật lửa cầm ra, ngồi xuống cạnh hàng rào sắt ngăn cách giữa sân hai nhà, tay phải cầm chai Numberone đưa qua hàng rào rồi đổ dầu khoáng vào lốp bánh trước xe mô tô BKS15-3..-FN của bà K, sau đó chuyển chai Numberone đựng dầu khoáng sang tay trái, tay phải cầm bật lửa bật lên dí ngọn lửa sát vào vị trí vừa đổ dầu khoáng làm cháy lốp xe. Khi H đi ra tới cổng thì ngoái lại nhìn, thấy lửa cháy nhỏ nên H quay lại dùng tay phải đặt chai Numberone chứa dầu khoáng còn lại vào vị trí lốp xe đang cháy rồi cầm hơ chiếc bật lửa vào ngọn lửa làm bật lửa xì ga cháy bùng lên, H rụt tay lại làm bật lửa rơi vào đám cháy, sau đó H đi về nhà.

Hậu quả: 01 mắt camera nhãn hiệu Ezviz model CS-C6N (A01-1C2WFR) lắp bên dưới mái tôn ở sân nhà ông H; xe mô tô BKS 15-3..-FN và xe mô tô BKS 90B3-107… của vợ chồng ông H đều bị cháy trơ khung, hư hỏng hoàn toàn Sau khi tiếp nhận tin báo, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã tiến hành khám nghiệm hiện trường theo quy định và thu giữ vật chứng, tài sản, đồ vật, giấy tờ gồm:

- 01 mắt camera nhãn hiệu Ezviz đã bị cháy; xe mô tô BKS 15-3..-FN và xe mô tô BKS 90B3-107… đã bị cháy còn trơ khung.

- Thu giữ đám muội than, sản phẩm cháy phía dưới khung xe mô tô BKS 90B3-107… và xe mô tô BKS 15-3..-FN niêm phong trong túi ni lon ký hiệu M1, M2; thu giữ đám muội than, sản phẩm cháy tại vị trí giữa khung xe mô tô BKS 90B3-107… và khung xe mô tô BKS15-3..-FN được niêm phong trong túi ni lon ký hiệu M3 - 01 can nhựa hình trụ tròn đã cũ, chiều cao 34cm, đường kính đáy can 14cm, phần nhựa phía trên nắp can bị móp méo, bên trong can có chứa dung dịch chất lỏng màu nâu niêm phong ký hiệu M4 do chồng H là anh Nguyễn Viết Đ - sinh năm 1989; trú tại: thôn T P, xã L P, huyện T L tự nguyện giao nộp - 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy của xe mô tô BKS 90B3- 107… do ông Nguyễn Xuân H tự nguyện giao nộp Ngoài ra cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T còn trích xuất sao lưu hình ảnh có liên quan đến vụ án trong 01 USB niêm phong ký hiệu U1 Ngày 12/10/2020, cơ quan CSĐT - Công an huyện T ra Yêu cầu Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T xác định giá trị thiệt hại của 02 xe mô tô và 01 mắt camera nêu trên tại thời điểm ngày 20/9/2020.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 36/BB-HĐĐGTS ngày 03/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T kết luận: “Giá trị thiệt hại của 01 mắt camera nhãn hiệu Ezviz model CS-C6N (A01- 1C2WFR) mua mới tháng 11 năm 2019 tại thời điểm ngày 20/9/2020 là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng chẵn). Giá trị thiệt hại của 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Cub 81, màu đỏ, BKS:15-3..-FN, số khung: C50-60020064, số máy: C50E-6002297, đã qua sử dụng, mua lại vào tháng 8/2020 tại thời điểm ngày 20/9/2020 có giá trị là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng chẵn). Giá trị thiệt hại của xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha màu xanh đen bạc, BKS: 90B3- 107…, số khung: 3917KY411625, số máy: JA39E1281331, đã qua sử dụng, xe mua mới vào tháng 01/2020 tại thời điểm ngày 20/9/2020 là 16.020.000 đồng (Mười sáu triệu không trăm hai mươi nghìn đồng)” Ngày 27/11/2020 cơ quan CSĐT - Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu Viện khoa học hình sự - Bộ Công an giám định dấu vết cháy đối với các mẫu vật thu giữ niêm phong ký hiệu M1, M2, M3, M4 để xác định loại, chất gây cháy trong các mẫu M1, M2, M3, có phải là chất nguy hiểm về cháy nổ không và có cùng loại với chất lỏng có trong can nhựa niêm phong M4 hay không.

Tại bản Kết luận giám định số 8616/C09-P2 ngày 30/12/2020 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: “Chất lỏng đựng trong can nhựa được niêm phong trong thùng bìa cát tông ký hiệu M4 là dầu khoáng và là chất nguy hiểm về cháy nổ; Mẫu vật ký hiệu M2 tìm thấy dấu vết của xăng; Trong các mẫu vật ký hiệu M1 và M3 không tìm thấy dấu vết xăng, dầu hay dung môi dễ cháy; Các chất bên trong mẫu ký hiệu M1, M2, M3 không cùng loại với chất lỏng chứa trong can nhựa được niêm phong trong thùng bìa cát tông ký hiệu M4” Ngày 10/01/2021 cơ quan CSĐT - Công an huyện T có công văn đề nghị Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an làm rõ chất lỏng đựng trong can nhựa được niêm phong trong thùng bìa cát tông ký hiệu M4 có phải chất dễ cháy hay không? Dễ kích hỏa hay không? Khi cháy có bùng cháy nhanh hay chậm? Khi cháy có để lại sản phẩm cháy hay không? Nếu có để lại sản phẩm cháy thì sản phẩm cháy để lại là chất gì? Có tồn tại trong những mẫu vật ký hiệu M1, M2, M3 không? Quá trình dập lửa có sử dụng nước để chữa cháy thì các chất là sản phẩm cháy để lại của chất lỏng trong can nhựa được niêm phong trong thùng bìa cát tông kí hiệu M4 (nếu có) có tồn tại hay không? Tại công văn số 423/C09-P2 ngày 08/3/2021 của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an xác định: “Căn cứ Nghị định số 113/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật hóa chất thì mẫu chất lỏng (dầu khoáng) bên trong can nhựa ký hiệu M4 là chất dễ cháy, khi cháy bùng nhanh và tạo nhiều khói đen. Sau khi cháy xong, mẫu chất lỏng (M4) để lại các gốc Hydrocacbon (CxHy), không cùng loại với mẫu sản phẩm cháy bên trong mẫu ký hiệu M1, M2, M3. Không đủ điều kiện để xác định quá trình dập lửa có sử dụng nước để chữa cháy thì các chất là sản phẩm cháy để lại của chất lỏng trong can nhựa (M4) (nếu có) có tồn tại hay không” Ngày 07/4/2021 cơ quan CSĐT - Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an giám định xác định điểm xuất phát cháy, nguyên nhân cháy.

Tại bản Kết luận giám định số 2743 ngày 25/6/2021 của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: “Không đủ điều kiện để xác định điểm xuất phát cháy và nguyên nhân cháy của vụ cháy nói trên” Ngày 30/4/2023, cơ quan CSĐT - Công an huyện T có Công văn đề nghị Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an làm rõ: Chất lỏng chứa trong can nhựa được niêm phong trong thùng cát tông (ký hiệu M4) nếu đốt có cháy được không? Nếu dùng chất lỏng chứa trong can nhựa (ký hiệu M4) để tưới vào bánh lốp phía trước của xe mô tô Honda Cub BKS 15-3..-FN, sau đó sử dụng bật lửa ga châm lửa đốt vào vị trí lốp xe đã tưới dầu khoáng thì có gây cháy được xe mô tô Honda Cub BKS 15-3..-FN không? Nếu cháy được thì tại sao không tìm thấy sản phẩm cháy của chất lỏng chứa trong can nhựa (ký hiệu M4) ở các mẫu vật ký hiệu M1, M2, M3 đã gửi giám định? Tại Công văn số 1391/C09-P2 ngày 31/5/2023 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an xác định: “Khi đốt dầu khoáng (trong mẫu ký hiệu M4) thì cháy được, cháy bùng nhanh và tạo nhiều khói đen. Khi dùng dầu khoáng (trong mẫu ký hiệu M4) để tưới vào lốp phía trước của xe mô tô Honda cub BKS 15-3..-FN, sau đó sử dụng bật lửa ga châm lửa đốt vào vị trí lốp xe đã tưới dầu khoáng thì sẽ gây cháy được xe mô tô Honda cub BKS 15-3..-FN. Do hiện trường đã bị xáo trộn, các sản phẩm cháy không còn nguyên vẹn ở vị trí ban đầu nên không tìm thấy dấu vết của dầu khoáng (trong mẫu ký hiệu M4) ở các mẫu vật ký hiệu M1, M2, M3”.

- Đối với đám muội, sản phẩm cháy, chất lỏng thu giữ (tại các mẫu ký hiệu M1, M2, M3, M4) đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Tại bản Cáo trạng số 113/CT-VKS-SH ngày 23/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố Phạm Thị Ngọc H về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến bổ sung hoặc thay đổi gì. Sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Phạm Thị Ngọc H phạm tội “Hủy hoại tài sản”. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 178, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự - xử phạt Phạm Thị Ngọc H từ 27 đến 30 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 54 đến 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu, tiêu hủy 01 mắt camera; xe mô tô BKS 15-3..-FN và xe mô tô BKS 90B3-107… đã bị cháy rụi; lưu hồ sơ vụ án 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô xe máy BKS 90B3- 107… và 01 USB.

- Bị cáo Phạm Thị Ngọc H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: tại phiên toà cũng như tại Cơ quan điều tra, Phạm Thị Ngọc H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như trong nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 19 giờ ngày 20/9/2020 tại khu vực sân nhà ông Nguyễn Xuân H có địa chỉ tại thôn T P, xã L P, huyện T L, tỉnh H; Phạm Thị Ngọc H đã sử dụng dầu khoáng (được xác định là chất nguy hiểm về cháy nổ) đổ vào lốp bánh trước xe mô tô BKS 15-..4-FN rồi dùng bật lửa châm lửa đốt vào chỗ lốp xe đã đổ dầu khoáng làm 02 xe mô tô BKS 15-3..-FN và xe mô tô BKS 90B3-107… dựng cạnh nhau bị cháy còn trơ khung; 01 mắt camera nhãn hiệu Ezviz model CS-C6N (A01-1C2WFR) bị cháy. Các tài sản nêu trên đều bị hư hỏng hoàn toàn, tổng trị giá tài sản bị thiệt hại là 19.320.000 đồng.

Hành vi nêu trên của Phạm Thị Ngọc H đã phạm vào tội “Hủy hoại tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 178 của Bộ luật Hình sự; Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Hội đồng xét xử thấy cần ra bản án nghiêm khắc tương xứng hành vi phạm tội của bị cáo.

[3] Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt.

- Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã “tự nguyện bồi thường thiệt hại” và nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Vì vậy, xét thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, mà cho bị cáo được hưởng án treo, chịu sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú, cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao, hợp nhất Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Điều này thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội lần đầu biết ăn năn, hối cải.

- Về hình phạt bổ sung: xét thấy, bị cáo là lao động tự do, hoàn cảnh gia đình khó khăn, thu nhập không ổn định; nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Phạm Thị Ngọc H đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền là 28.300.000 đồng, đến nay ông H và bà K không có yêu cầu, đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng: 01 mắt camera nhãn hiệu Ezviz đã bị cháy; xe mô tô Honda Cub 81 BKS 15-3..-FN và xe mô tô Wave Anpha BKS 90B3-107… đã bị cháy rụi, hư hỏng hoàn toàn; bị hại không nhận lại, không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy. Lưu hồ sơ vụ án 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô xe máy BKS 90B3-107… và 01 USB.

[7] Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình sự: căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 178, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106, các điều 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Tuyên bố: bị cáo Phạm Thị Ngọc H phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Phạm Thị Ngọc H 27 (hai mươi bẩy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 54 (năm mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (20/12/2023).

Giao bị cáo Phạm Thị Ngọc H cho Ủy ban nhân dân xã Liêm Phong, huyện T, tỉnh H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy 01 mắt camera nhãn hiệu Ezviz đã bị cháy; xe mô tô Honda Cub 81 BKS 15-3..-FN và xe mô tô Wave Anpha BKS 90B3-107… đã bị cháy rụi (tình trạng vật chứng như trong Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 28/11/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T).

Lưu hồ sơ vụ án 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô xe máy BKS 90B3- 107… và 01 USB.

3. Án phí: bị cáo Phạm Thị Ngọc H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

5. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

132
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội hủy hoại tài sản số 119/2023/HS-ST

Số hiệu:119/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thanh Liêm - Hà Nam
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:20/12/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về