TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
BẢN ÁN 993/2023/HS-PT NGÀY 29/12/2023 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI
Ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1054/2023/TLPT-HS ngày 02 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Trần Văn M do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 182/2023/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
* Bị cáo bị kháng cáo:
Họ và tên: Trần Văn M, sinh ngày 30 tháng 5 năm 2004 tại huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn I, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ và bà Nguyễn Thị N; chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: ngày 25/4/2022, bị Công an thành phố T xử lý vi phạm hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng mà đem theo các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc công cụ, đồ vật, phương tiện khác có khả năng sát thương và Cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác” (chưa nộp phạt); bị tạm giữ ngày 15/9/2022, tạm giam ngày 18/9/2022, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo do Tòa án chỉ định: Luật sư Trần Đại X - Văn phòng L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh T, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại có kháng cáo: Anh Phùng Văn Đ1, sinh năm 1988; nơi thường trú: Đ khu H, thị trấn A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số C đường C, phố T, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 17/7/2022, Trịnh Đức H cùng Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 2000, trú tại C P, phường N, thành phố T và khoảng 30 đối tượng khác kéo đến số nhà C T, phường Q chửi bới, đe dọa Trần Văn M và đánh gây thương tích anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1988, trú tại xã H, huyện H (vụ án này được Cơ quan CSĐT Công an thành phố T thụ lý giải quyết). Tuy nhiên, do bực tức nên M nảy sinh ý định đánh dằn mặt anh H. Chiều ngày 03/9/2022, M gọi điện thoại cho Nguyễn Đức K, sinh năm 2002, trú tại phường Q điều khiển xe máy Future (không lắp BKS) của K đến địa chỉ C N, phường Q để M mượn làm phương tiện đi tìm H (M không nói cho K biết mục đích này), đồng thời gọi điện thoại cho Nguyễn Hoàng N1 (là bạn xã hội) đến đi cùng M. Sau khi N1, K đến, M lấy hai bộ quần áo lao động màu ghi, hai đôi giày thể thao màu trắng, hai chiếc mũ bảo hiểm từ trong nhà ra để M, N mặc, mục đích tránh bị phát hiện khi đánh H. Nhật thắc mắc tại sao lại mặc trang phục này, M bảo N1 mặc để đi cùng M có việc, thấy M nhờ nên N1 đồng ý. M lấy hai con dao mèo dài khoảng 50cm bỏ vào trong hộp bìa cát tông mang đi làm hung khí chém H. Chuẩn bị xong, M lấy xe máy của K chở N1 đến quán cafe “Q”, địa chỉ số H đường C (là vị trí gần nhà H, H thường xuyên đi qua đoạn đường này) ngồi uống nước chờ, phục H đi qua. Tại thời điểm này, M chưa nói cho N1 biết mục đích đi tìm H để chém và N1 không biết việc M mang dao giấu trong bìa cát tông.
Khoảng 17h cùng ngày, M, N1 đang ngồi trước cửa quán cafe “Q” thì thấy H điều khiển xe máy SH chở theo anh Phùng Văn Đ1 đi từ ngã tư N ngang qua vị trí M, N. Ngay lập tức, M rút một con dao mèo từ trong bìa cát tông chạy lao ra chém H nhưng H kịp né tránh và chạy về hướng đường trường Đại học H2. Thấy anh Đ1 chưa kịp chạy, M vung dao chém liên tiếp nhiều nhát trúng vào tay, người và vùng đầu anh Đ1. Bị chém bất ngờ, anh Đ1 bỏ chạy ngược về hướng ngã tư N để thoát thân. Thấy M cầm dao chém H mặc dù không bàn bạc từ trước, không có mâu thuẫn với H nhưng N1 lấy con dao còn lại trong bìa cát tông chạy ra hỗ trợ M, nhưng chưa chém được ai.
Lúc này, H chạy vào quán Karaoke “T", ngõ H C lấy hai cái điếu cày cầm trên hai tay rồi chạy quay lại chỗ M, N để đánh lại. Khi quay lại, thấy N1 đang điều khiển xe chở M, H chạy lại vung chiếc điếu cày cầm trên tay phải vụt về phía N nhưng M ngồi phía sau vung dao chém đỡ ống điếu nên H vụt không trúng người Nhật. H quay đầu bỏ chạy thì bị N1, M đi xe máy đuổi theo (cả M, N1 lúc này đều cầm dao mèo trên tay). Khi đi đến đoạn ngã ba rẽ vào ngõ B N, M, N1 đuổi gần sát H thì H ném một chiếc điếu về phía M, N1 nhưng M, N1 né được nên không bị thương tích. H tiếp tục chạy sâu vào bên trong ngõ B N. N1 tiếp tục lái xe đuổi theo H để chém;
khi gần đến đường N thì H bị vấp ngã xuống đường; N1 điều khiển xe áp sát lại, M nhảy xuống xe chạy lao vào chém liên tiếp nhiều nhát vào người H, đồng thời N1 cũng xuống xe và cầm dao mèo lao vào chém H. Bị M, N1 chém liên tiếp, H cố gắng đứng dậy bỏ chạy nhưng vẫn bị M cầm dao đuổi theo. Khi chạy ra đến đầu đường N, H bị vấp ngã, M chạy đến chém với thì cũng bị trượt ngã nhưng M đã đứng dậy cầm dao lao vào chém liên tiếp nhiều nhát vào người H. Sau đó, M lên xe N1 điều khiển bỏ chạy về hướng biển T, huyện Q. Đến biển T, M, N1 lấy một chiếc túi nilon màu đen ở lán của ngư dân dựng sát bờ biển rồi cùng nhau cởi áo dài tay đang mặc, giày và bỏ hai con dao vào túi nilon này. M giấu chiếc túi này ở góc bên ngoài lán rồi cùng N1 đi đến một cửa hàng bán quần áo ở xã T, huyện Q mua áo mặc, xong cả hai quay lại bờ biển lấy chiếc túi nilon đựng quần áo và dao đang giấu ở lán của ngư dân để mang đi vứt. Khi đi đến khu vực chợ S, M đi vào một cửa hàng sửa điện thoại gần đó mượn điện thoại gọi cho K xuống lấy xe máy về, đồng thời gửi xe máy, chìa khóa tại cửa hàng điện thoại này để K đến lấy. Sau đó, M bắt xe taxi cầm theo túi nilon đựng quần áo, dao lên xe đi về hướng Hà Tĩnh rồi bắt xe đi Đắk Lắk. Trên đường di chuyển vào Hà Tĩnh, M vứt chiếc túi nilon đựng quần áo, dao xuống rìa đường QL1A (chưa xác định được vị trí cụ thể, đến nay thông báo truy tìm chưa thu giữ được). Nhật bắt xe khách vào thành phố Đ, tỉnh Bình Phước trốn. Quá trình bỏ trốn tại tỉnh Đắk Lắk và Bình Phước, M, N1 đi lang thang, thuê nhà nghỉ ở; đến ngày 15/9/2022, Trần Văn M về đầu thú, Nguyễn Hoàng N1 về trình diện, làm việc tại Cơ quan điều tra Công an tỉnh T. Đối với anh H và anh Đ1, sau khi bị chém gây thương tích nặng, được gia đình và quần chúng nhân dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T, ngay sau đó, được đưa đi cấp cứu, phẫu thuật tại Bệnh viện V ngay trong đêm 03/9/2022.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 8987/KL-KTHS ngày 03/01/2023, V1 Bộ C kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với H là 41%.
Tại Bản kết luận giám định vật gây thương tích số 827/KLVGTT-PYTH, ngày 07/6/2023, Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận: Đối với các vết thương trên cơ thể Trịnh Đức H do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật có cạnh sắc hoặc vật có cạnh sắc nhọn... nếu không được cấp cứu kịp thời có thể dẫn đến tử vong.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 8986/KL-KTHS ngày 24/4/2023, V1 Bộ C kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Phùng Văn Đ1 là 18%.
Tại Bản kết luận giám định vật gây thương tích số 826/KLVGTT-PYTH, ngày 07/6/2023, Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận: Đối với các vết thương trên cơ thể Phùng Văn Đ1 do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tày có cạnh, hoặc vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn... nếu không được cấp cứu kịp thời có thể dẫn đến tử vong.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 182/2023/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:
Căn cứ vào điểm a, n khoản 1 Điều 123, điểm e khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, Điều 57, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo Trần Văn M 13 (mười ba) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 15/9/2022.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hoàng N1, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 29/8/2023, người bị hại Phùng Văn Đ1 có đơn kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Trần Văn M. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử, không có ý kiến gì khác; người bị hại có kháng cáo vắng mặt và không cung cấp thêm các tình tiết mới.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phân tích đánh giá nguyên nhân, tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, kết luận: bị cáo Trần Văn M bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Giết người” theo điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật; hình phạt 13 (mười ba) năm tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, không có thêm tình tiết mới, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người bị hại về phần hình phạt và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố xét xử sơ thẩm, đã được cơ quan và người tiến hành tố tụng thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không có ý kiến khiếu nại.
Ngày 29/8/2023, người bị hại Phùng Văn Đ1 kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 182/2023/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa là trong thời hạn luật định nên được xem xét theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị hại có kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định.
[2] Xét kháng cáo của người bị hại Phùng Văn Đ1:
[2.1] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, những lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của bị hại, lời khai người làm chứng; biên bản dựng lại hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đủ cơ sở để kết luận: Xuất phát từ mâu thuẫn, ngày 17/7/2022, Trịnh Đức H cùng khoảng 30 đối tượng khác kéo đến số nhà C phố N, phường Q chửi bới, đe dọa M và đánh gây thương tích cho anh Nguyễn Văn T1. Mặc dù, đã được cơ quan pháp luật giải quyết, nhưng Trần Văn M vẫn có ý định tìm H để đánh dằn mặt. Để thực hiện hành vi này, M đã rủ Nguyễn Hoàng N1 đi cùng rồi mượn xe máy, mặc quần áo, bịt khẩu trang che giấu nhận dạng và mang 02 con dao mèo để làm hung khí chém gây thương tích cho H. Ngày 03/9/2022, tại đoạn đường trước số nhà H đường C, kéo dài đến ngõ H C và ngõ B N, phố T, phường Q, thành phố T, khi phát hiện thấy H điều khiển xe máy chở anh Phùng Văn Đ1, M chặn đầu xe, dùng dao chém H nhưng H kịp chạy thoát nên không gây thương tích cho H. Lúc này, M quay sang chém gây thương tích cho anh Đ1 làm anh Đ1 bị tổn hại 18% sức khỏe. Bị chặn đầu xe chém, H chạy vào quán karaoke gần đó cầm hai chiếc điếu cày quay lại thì bị M, N1 đi xe máy đuổi theo chém liên tiếp nhiều nhát vào chân, tay, người, vào đầu làm H tổn hại 41% sức khỏe.
[2.2] Hành vi của Trần Văn M dùng dao là hung khí nguy hiểm, chém vào vùng đầu là vị trí trọng yếu của cơ thể của anh H và anh Đ1 là hành vi rất nguy hiểm và buộc bị cáo phải biết hậu quả có thể dẫn đến chết người. Hành vi đó của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính chất côn đồ, phạm vào tội đặc biệt nghiêm trọng; việc người bị hại không chết là do được cấp cứu kịp thời. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và kết án Trần Văn M về tội “Giết người” theo quy định tại điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.3] Bị cáo Trần Văn M là người có nhân thân xấu, đã bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng mà đem theo các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc công cụ, đồ vật, phương tiện khác có khả năng sát thương và Cố ý làm hư hỏng của người khác” vào ngày 25/4/2022; khi thực hiện hành vi phạm tội đã cố tình thực hiện tội phạm đến cùng là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, có tính chất côn đồ. Tuy nhiên, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ như khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình; đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại Trịnh Đức H được 200.000.000 đồng, khắc phục một phần thiệt hại xảy ra; được người bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt; có tham gia nộp tiền ủng hộ địa phương trong phòng chống dịch Covid-19; sau khi bỏ trốn đã ra đầu thú là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị hại không tử vong, nên hành vi của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, theo quy định tại Điều 15 của Bộ luật hình sự, nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 57 Bộ luật hình sự phạt bị cáo 13 năm tù là thỏa đáng. Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị hại vắng mặt và không có thêm tình tiết mới, nên không có cơ sở để xem xét đối với nội dung kháng cáo của người bị hại đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Trần Văn M.
[3] Từ những nhận định trên, xét thấy không có cơ sở để xem xét chấp nhận các nội dung kháng cáo của người bị hại, nên cần giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm như quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đã phát biểu tại phiên tòa là phù hợp.
[4] Về án phí: Người bị hại có kháng cáo không phải chịu án phí theo quy định.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét lại.
Vì các lẽ trên, Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án.
QUYẾT ĐỊNH
1. Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại là anh Phùng Văn Đ1, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 182/2023/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, về phần hình phạt.
Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123, điểm e khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, Điều 57, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo Trần Văn M 13 (mười ba) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 15/9/2022.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
3. Về án phí: Người kháng cáo là anh Phùng Văn Đ1 không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Bản án về tội giết người số 993/2023/HS-PT
| Số hiệu: | 993/2023/HS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân cấp cao |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 29/12/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về