Bản án về tội giết người số 70/2024/HS-PT

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 70/2024/HS-PT NGÀY 17/01/2024 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Ngày 17 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1122/2023/TLHS-PT ngày 16 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Thị A và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo với Bản án số 366/2023/HS-ST ngày 25-8-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Các bị cáo kháng cáo:

1. Nguyễn Thị A sinh năm 1993; trú tại: tiểu khu P, thị trấn P, huyện P, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Phan Công B (đã chết) và bà Nguyễn Thị Q; có chồng là Hoàng Văn Đ và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/03/2023; có mặt.

2. Nguyễn Thị L sinh năm 1992; trú tại: tiểu khu P, thị trấn P, huyện P, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Nguyễn Tân D và bà Nguyễn Thị N; có chồng là Trần Xuân P và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam ngày 02/03/2023; có mặt.

- Người bào chữa cho các bị cáo:

+ Bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị A: Luật sư Nguyễn Văn D - Công ty luật TNHH A, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội; có mặt.

+ Bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị L: Luật sư Vũ Văn V – Công ty luật TNHH Thiên N, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội; đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị hại: cháu Phạm Tiến Đ sinh ngày 11-9-2021 (đã chết).

- Đại diện hợp pháp bị hại: Anh Phạm Văn T sinh năm 1981 và chị Phùng Thị T sinh năm 1984 (là bố mẹ đẻ bị hại); trú tại: thôn Đ, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyễn Thị A và Nguyễn Thị L là những người không có bằng cấp chuyên môn về sư phạm, có quan hệ quen biết nhau. Khoảng tháng 11/2022, A và L rủ nhau cùng mở lớp nhận trông giữ trẻ em. Cả hai đã thuê nhà của ông Ngô Bá T (sinh năm 1961) tại số xx, xóm x, thôn V, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội để làm địa điểm nhận trông giữ trẻ. Do trước đó nhà của ông T đã làm nơi trông giữ trẻ (nền nhà đã được trải bằng các tấm xốp, gian nhà ngoài được ngăn tấm vách chia làm 02 phòng, trên tường có vẽ tr ang trí hình các con vật) nên khi L và A thuê không phải sửa sang làm thêm gì. Đồng thời thu tiền là 1.350.000 đồng/01 cháu, bao gồm cả tiền ăn của các cháu và tiền công trông giữ trẻ của A và L; thời gian trông giữ các cháu từ 07 giờ đến 18 giờ các ngày trong tuần. Tính từ khi mở lớp đến ngày 01/3/2023, A và L đã nhận trông giữ 07 cháu bé. Khoảng giữa tháng 02/2023, chị Phùng Thị T đã gửi con trai là cháu Phạm Tiến Đ (sinh ngày 11/9/2021) tại cơ sở trông giữ trẻ của A và L.

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 23/02/2023, chị T đưa cháu Đ đến gửi thì được A ra đón cháu Đ và đưa vào trong lớp. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, lớp có tổng cộng 07 cháu, A và L đưa các cháu vào phòng ngủ để quản lý thì cháu Đ bỏ chạy ra ngoài, đứng ở cửa và khóc. Bực tức, L chạy ra dùng hai tay bế cháu Đ lên mAg vào phòng ngủ, rồi ném cháu xuống tấm đệm xốp trải dưới nền nhà, làm đầu cháu Đ bị đập vào tấm đệm xốp. Cháu Đ tiếp tục quấy khóc nên L dùng tay phải tát 02 cái vào mặt cháu Đ và quát cháu Đ không được khóc, rồi để cháu Đ nằm ở đó và đi ra ghế ngồi. Thời điểm này, A đAg ở trong phòng ngủ, nhìn thấy L ném và tát cháu Đ nhưng không nói gì. Khi thấy L ra ghế ngồi và thấy cháu Đ vẫn khóc, A đi đến chỗ cháu Đ nằm trên tấm đệm, dùng chân phải (đi dép bọc lông, màu trắng) đạp vào bụng, ngực cháu Đ. Bị đạp vào người, cháu Đ quay ra nằm nghiêng sang bên phải, A tiếp tục dùng chân phải dẫm, đạp 01 - 02 cái vào vùng tai trái của cháu Đ. Sau đó, A và L để cho cháu Đ tự nín, không khóc nữa và chơi cùng các bạn. Đến khoảng 16 giờ 30 cùng ngày, chị T đến đón cháu Đ thì thấy hai bên tai của cháu Đ bị bầm tím. Chị T hỏi L nguyên nhân bầm tím thì L nói do cháu Đ chơi và bị ngã vào rổ đồ chơi. Do tin vào lời nói của L nên chị T đưa cháu Đ về nhà và đến tối ngày 23/02/2023, cháu Đ có hiện tượng nôn, trớ. Các ngày 24 và 25/02/2023, vợ chồng chị T tiếp tục đưa cháu Đ đến gửi tại cơ sở trông giữ của A và L. Do có việc riêng nên L nghỉ trông các cháu vào cuối ngày 24, ngày 25 và ngày 26/02/2023, cơ sở chỉ còn A trông giữ các cháu. Sáng ngày 26/02/2023, chị T đưa cháu Đ đến lớp như hàng ngày và gửi cháu Đ cho A. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, A thấy cháu Đ quấy khóc nên đã bực tức dùng hai tay xách, ném cháu Đ xuống nền nhà và dùng chân phải đạp vào bụng cháu Đ, rồi bỏ đi vào trong bếp. Khi quay ra, A thấy cháu Đ bất tỉnh, miệng nôn, tay tự cào vào mặt nên đã gọi điện thoại cho L thông báo tình trạng của cháu Đ. Khi nhận điện thoại của A thì L đã hướng dẫn A lấy nước cho cháu Đ uống nhưng cháu Đ không uống, A liền đổ cốc nước vào mặt và dùng tay tát vào mặt cháu Đ để cho cháu Đ tỉnh lại. Do cháu không tỉnh nên A đã gọi điện thoại cho chị T đến lớp. Khi chị T đến nơi thấy cháu Đ trong tình trạng người lạnh, chân tay cứng, mắt nhắm, quần áo ướt nên đã cùng A đưa cháu Đ đến Trạm Y tế xã Vạn Điểm sơ cứu, sau đó chuyển tiếp đến Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp I và Bệnh viện Nhi Trung ương để điều trị. Đến 16 giờ 15 phút ngày 02/3/2023, cháu Đ bị tử vong tại nhà.

Ngay sau khi vụ án xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thường Tín đã phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội và các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm, dựng lại hiện trường, thu thập dấu vết, vật chứng và trưng cầu giám định pháp y đối với bị hại Phạm Tiến Đ. Kết quả như sau:

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 10 giờ 30 phút ngày 03/03/2023 tại số nhà xx, xóm x - N, thôn V, xã V, huyện T, Hà Nội, thể hiện:

“… Hiện trường xảy ra vụ án là cơ sở trông giữ trẻ tại nhà số xx, xóm x N, thôn V, xã V, huyện T, Hà Nội.

Cơ sở trông giữ trẻ ở số nhà xx, xóm 3 N, thôn V, xã V, huyện Thường Tín, Hà Nội có cửa ra vào quay hướng Bắc giáp đường xóm 3, đối diện qua đường là ao thôn Vạn Điểm. Phía Tây giáp nhà số 87, phía Đông giáp nhà số 77 (giáp nhà ông Ngô Bá T). Cơ sở trông giữ trẻ số 85, xóm 3 Nam Phong là ngôi nhà xây 01 tầng mái lợp tôn nhà có kích thước (21,2x3,5) m, cửa nhà kích thước (2,7x2,7) m dạng cửa xếp sắt, sau cửa có hàng song sắt cao 1,1 m. Từ ngoài cửa vào trong, ngoài cùng là phòng vui chơi của trẻ có kích thước (10,2x3,5) m; giữa phòng, sát tường phải, cách cửa 3,4 m có 20 tấm thảm xốp, mỗi tấm có kích thước (60x60) cm, dày 0,8 cm ghép với nhau thành diện thảm (2,9x2,3) m. Sàn nhà lát gạch men màu đỏ. Trên thảm có để nhiều đồ chơi trẻ em bằng nhựa. Sát cạnh thảm, phía trong có để 02 giỏ nhựa màu đỏ để đồ chơi. Trên sàn nhà và trên thảm ở phòng vui chơi trẻ em không phát hiện dấu vết nghi vấn.

Sau phòng vui chơi là phòng ngủ cho trẻ có kích thước (5,1x3,5) m, phòng này được ngăn với phòng vui chơi phía ngoài bằng 01 tấm vách nhôm kính, cửa thông giữa hai phòng dạng cửa 02 cánh lùa, kích thước (1,7x2,3) m. Trong phòng, tại góc trong bên phải có để một số tấm đệm đơn, vỏ ga và gối. Cách tường phải 84 cm, cách vách kính ngăn phòng 45 cm có diện thảm xốp kích thước (2,4x2,4) cm được ghép bởi 16 tấm thảm xốp nhỏ kích thước (60x60) cm. Cách vách kính 03 m, sát tường trái có kê 01 bàn nhựa kích thước (47x88x48) cm. Trên tấm thảm màu tím ở góc ngoài bên phải, tại vị trí cách tường phải 1,2 m, cách vách kính 1,04 m có 01 vết chất màu nâu đỏ khô dính, kích thước (0,5x0,5) cm. Sau buồng ngủ của trẻ có 01 buồng ngủ, sau buồng ngủ là bếp, nhà vệ sinh, khu vực này không phát hiện dấu vết nghi vấn…”.

Vật chứng vụ án:

Quá trình khám nghiệm hiện trường và điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ các dấu vết, vật chứng liên quan gồm:

- Thu giữ khi khám nghiệm hiện trường: 01 dấu vết màu nâu đỏ nghi máu thu bằng tăm bông và 16 tấm thảm xốp.

- Thu giữ của Nguyễn Thị A: 01 đôi dép (mầu trắng bọc lông có ghi chữ LV màu đen ở trên phần quai), xác định là đôi dép do Nguyễn Thị A sử dụng dẫm vào đầu cháu Phạm Tiến Đ vào ngày 23/02/2023.

Tại biên bản xác minh của Cơ quA điều tra Công A thành phố Hà Nội vào hồi 11 giờ 10 phút ngày 26/02/2023 tại Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp, xác nhận tình trạng cháu Phạm Tiến Đ như sau: “… Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp tiếp nhận bệnh nhân Phạm Tiến Đ do bà Phùng Thị T (mẹ của cháu Đ) đưa đến. Cháu Đ nhập viện trong tình trạng: hôn mê, tím tái, không sốt. Tiếng tim rời rạc, huyết áp 70/50 mmHg. Đồng tử hai bên: Trái 04 mm, phải 02 mm, phản xạ ánh sáng yếu. Phổi: gắng sức, hô hấp, tần số 25 lần/phút, SPO2: 98%, phổi rì rào phế nang 02 bên giảm, ran nổ 02 bên. Chụp cắt lớp vi tính sọ não: hình ảnh theo dõi tụ máu dưới màng não cứng cấp tính diện rộng, tại bán cầu não trái/dịch đa xoang (có các kết quả cận lâm sàng đính kèm). Phương pháp điều trị: hỗ trợ hô hấp. Hỗ trợ tuần hoàn. Chống phù não. Trẻ ổn định chuyển về Bệnh viện Nhi Trung ương vào 12 giờ 32 phút cùng ngày”.

Tại biên bản xác minh của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Nội vào hồi 11 giờ ngày 26/02/2023 tại Bệnh viện Nhi Trung ương, thể hiện tình trạng bệnh của cháu Đ như sau:

“… Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 26/02/2023, cháu Phạm Tiến Đ nhập viện trong tình trạng: mạch bắt yếu, nhịp tim chậm, hôn mê sâu, bên tai trái có 01 vết bầm tím, đồng tử phải 02 mm, đồng tử trái giảm 05 mm tăng trương lưu cơ, da xanh thiếu máu. Đầu không có thương tích rách da vùng ngoài, được nhận định máu tụ dưới màng cứng lA tỏa, bán cầu trái phù não lA tỏa hai bên, không phát hiện dấu vết tác động hộp sọ.

Theo Bệnh án ngoại khoa của Phạm Tiến Đ, thể hiện: rạch da question mark bán cầu trái. Tách cân cơ. Mở nắp sọ trán thái xương định chẩm trái gặm sát nền sọ. Màng cứng căng tím, đập yếu. Mở màng cứng hình C, máu tụ dưới màng cứng áp lực cao phun ra. Mở rộng màng cứng thấy: máu tụ dưới màng cứng dày khoảng hơn 1 cm lA tỏa toàn bộ bán cầu trái, não phù nhiều, đập kém, có xuất huyết dưới nhện. Nguồn chảy máu từ tĩnh mạch cầu vị trí đỉnh trái đổi về xoang dọc trên. Tiến hành lấy máu tụ dưới màng cứng cấp tính + cầm máu. Não phù nhanh đập kém, quyết định gửi mảnh xương sọ giải tỏa, vá trùng màng cứng..”.

Tại biên bản khám nghiệm tử thi cháu Phạm Tiến Đ hồi 19 giờ 00 phút ngày 02/3/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội, thể hiện: “… 1. Khám ngoài:

Nạn nhân là nam giới được nhận dạng xác định là cháu Phạm Tiến Đ, sinh ngày 11/9/2021 ở thôn Đ, xã V, huyện T, Hà Nội. Chiều dài tử thi: 80 cm; thể tạng: trung bình. Tình trạng tử thi: tử thi mềm, hoen tử thi nhiều tập trung ở mặt sau cơ thể, nhạt màu, ấn chuyển màu chậm. Các dấu vết, tổn thương trên cơ thể:

- Hai mắt nhắm, nhãn cầu căng, củng mạc nề, màu trắng. Hai lỗ mũi, hai lỗ tai khô sạch. Môi dưới tăng trễ, trắng nhợt có vết xây xát nhẹ, hàm trên 04 răng, hàm dưới 02 răng. Nửa đầu trên phải còn tóc, có máu khô dính, nửa đầu bên trái đã cạo tóc. Sau tai phải có vết bầm tụ máu kích thước (1,5x01) cm. Sát phía trên vết này có vết thương da, dạng kim tiêm. Vùng trán đỉnh thái dương trái có vết mổ cách điểm giữa cung mày 08 cm, chạy lên trên ra sau vòng ra trước, chiều dài vết mổ 27 cm.

- Vùng xương đòn phải còn đặt Cathetek, còn chảy máu. Vùng nếp gấp khuỷu cổ tay hai bên, cổ chân hai bên, dưới xương đòn trái có vết thủng da, dạng kim tiêm. Mặt trong đùi hai bên có vết hằn, lồng ngực vững, khung chậu vững, tứ chi không gãy, bộ phận sinh dục ngoài nguyên vẹn, hậu môn khô.

2. Mổ tử thi: rạch theo vết mổ tổ chức não căng, bên trái mủn nát, bên phải còn tương đối rõ.

Mảnh xương sọ vùng thái dương trán đỉnh trái đã mở kích thước (12x09) cm. Tụ máu dưới da đầu diện rộng, kích thước (25x07) cm. Tụ máu dưới màng cứng vùng đỉnh trái, chảy máu dưới nhện vùng đỉnh hai bên, thái dương trái, mặt dưới bán cầu đại não trái chảy máu dưới nhện dẫn lên tiểu não, tụ máu trên nền tiểu não trái. Cơ ngực màu hồng thuần nhất, xương sườn, xương ức nguyên vẹn, các tạng, hình thể kích thước bình thường.

Ngoài các tổn thương ghi nhận không phát hiện tổn thương nào khác”.

Tại bản Kết luận giám định pháp y 05X2023 số 17/GĐ-PY ngày 22/3/2023 của Viện Pháp y Quân Đội - Cục Quân y - Bộ Quốc phòng về nguyên nhân tử vong của cháu Phạm Tiến Đ, kết luận:

“…1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Tình trạng chấn thương sọ não, phù não đã phẫu thuật mở sọ giải ép: tụ máu dưới da đầu diện rộng, tụ máu dưới màng cứng vùng đỉnh trái, tụ máu lều tiểu não trái, chảy máu dưới nhện vùng đỉnh hai bên, vùng thái dương trái, mặt dưới bán cầu não trái, cuống tiểu não; tổ chức não căng, não trái mủn nát, đụng giập, chảy máu trong nhu mô não, chảy máu màng mềm đại não.

- Chấn thương phần mềm, tụ máu dưới da sau tai trái, tai phải.

- Mẫu máu, phủ tạng của Phạm Tiến Đ không có độc chất.

2. Kết luận theo trưng cầu:

2.1. Nguyên nhân tử vong: nguyên nhân tử vong của Phạm Tiến Đ là suy tuần hoàn hô hấp không hồi phục do chấn thương sọ não nặng (tụ máu dưới màng cứng, chảy máu dưới nhện, dập não, chảy máu nhu mô não, phù não).

2.2. Cơ chế hình thành thương tích: chấn thương sọ não do tác động của vật tày vào vùng trán - đỉnh - thái dương trái. Chấn thương phần mềm, tụ máu dưới da sau tai hai bên do tác động của vật tày.

2.3. Xác định chất độc: mẫu máu, phủ tạng của Phạm Tiến Đ không có độc chất./.”.

Tại bản Kết luận giám định AND số HT99.23/PY-XNSH ngày 07/3/2023 của Viện Pháp y Quân Đội - Cục Quân y - Bộ Quốc phòng, kết luận: “… Dấu vết trên 01 tăm bông thu giữ được tại hiện trường (Ký hiệu là M1) gửi giám định có AND nhiễm sắc thể thường nồng độ rất thấp; không trùng khớp với AND nhiễm sắc thể thường từ mẫu máu của cháu Phạm Tiến Đ trên các locus gen phân tích được”.

Tại bản Kết luận giám định hoá pháp số/299/PY-XNĐH ngày 21/3/2023 của Viện Pháp y Quân Đội - Cục Quân y - Bộ Quốc phòng, kết luận: “… Không tìm thấy các chất độc nêu trên trong mẫu phủ tạng, máu của Phạm Tiến Đ…”.

Đối với vết máu thu giữ tại hiện trường, Cơ qu an điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định, xác định vết máu trên không phải là máu của cháu Phạm Tiến Đ. Cơ quan điều tra đã làm việc với các phụ huynh của 06 cháu bé được gửi cùng cháu Đ tại cơ sở trông giữ trẻ của Nguyễn Thị A và Nguyễn Thị L và đề nghị cho các cháu đi kiểm tra thương tích. Tuy nhiên, gia đình của 06 cháu bé không đồng ý nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để truy nguyên, làm rõ.

Tại Bản án số 366/2023/HS-ST ngày 25-8-2023, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã áp dụng các điểm b và n khoản 1 Điều 123; các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt:

- Bị cáo Nguyễn Thị A tù chung thân, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/03/2023.

- Bị cáo Nguyễn Thị L 20 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/03/2023.

Đều về tội “Giết người”.

Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận sự tự nguyện của gia đình các bị cáo Nguyễn Thị A và Nguyễn Thị L đã bồi thường cho đại diện người bị hại là Ah Phạm Văn Tuấn, chị Phùng Thị T tổng số tiền 500.000.000 đồng (mỗi gia đình bồi thường số tiền 250.000.000 đồng).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định việc xử lí vật chứng, về án phí theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06-9-2023, các bị cáo Nguyễn Thị A và Nguyễn Thị L kháng cáo xin giảm hình phạt.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo đề nghị chấp nhận kháng cáo giảm hình phạt cho các bị cáo, với lí do: đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại; hoàn cảnh gia đình rất khó khăn; con còn nhỏ.

Luật sư và gia đình các bị cáo giao nộp tài liệu là đơn xin giảm hình phạt (có xác nhận của chính quyền địa phương) của đại diện hợp pháp bị hại, có nội dung xin giảm hình phạt cho 2 bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao cho rằng việc Tòa án cấp sơ thẩm kết án các bị cáo Nguyễn Thị A, Nguyễn Thị L về tội “Giết người” là đúng. Về hình phạt: ngoài các tình tiết giảm nhẹ đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo, sau khi xét xử sơ thẩm, đại diện bị hại có đơn đề nghị xem xét giảm hình phạt cho các bị cáo; đây là tình tiết mới tại giai đoạn phúc thẩm; xét thấy mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo là quá nghiêm khắc; đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo A xuống 20 năm tù và giảm 1 phần hình phạt cho bị cáo L.

Luật sư bào chữa cho bị cáo A có mặt tại phiên tòa và Luật sư bào chữa cho bị cáo L, vắng mặt và có gửi bài bào chữa, đều đề nghị cân nhắc giảm hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra, trAh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Nguyễn Thị A và Nguyễn Thị L là những người không có bằng cấp, chứng chỉ về nuôi dạy trẻ, không được cấp có thẩm quyền cấp phép mở lớp trông giữ trẻ. Khoảng tháng 11/2022, A và L thuê nhà ông Ngô Bá T ở số 85, xóm 3 - Nam Phong, thôn Vạn Điểm, xã Vạn Điểm, huyện Thường Tín, để mở lớp trông giữ trẻ trái phép. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 23/02/2023, khi A và L đAg trông 07 cháu bé, trong đó có cháu Phạm Tiến Đ (sinh ngày 11/9/2011), thì thấy cháu Đ chạy ra phòng ngoài đứng quấy khóc. L đã dùng hai tay bế cháu Đ vào phòng ngủ và ném cháu xuống nền nhà có lát đệm xốp, làm đầu cháu Đ bị đập vào đệm xốp trải dưới nền nhà. Sau đó, L dùng tay phải tát 02 cái vào mặt bên phải và bên trái cháu Đ. Khi thấy cháu Đ vẫn khóc, A đi đến chỗ cháu Đ nằm, dùng chân phải (đi dép bọc lông, màu trắng) dẫm đạp vào bụng, ngực, vùng tai trái của cháu Đ. Đến ngày 26/02/2023, trong khi trông cháu Đ, A thấy cháu Đ quấy khóc nên đã bế xốc nách, ném cháu Đ xuống nền nhà và dùng chân phải đạp vào người cháu Đ, làm cháu Đ bất tỉnh, miệng nôn trớ. A đã gọi điện thoại cho chị T (là mẹ cháu Đ) đến, cùng đưa cháu Đ đến Trạm Y tế của xã Vạn Điểm để cấp cứu; sau đó chuyển đến Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp I và Bệnh viện Nhi Trung ương để điều trị. Đến 16 giờ 15 phút ngày 02/3/2023, cháu Đ bị tử vong tại nhà vì suy tuần hoàn hô hấp không hồi phục do chấn thương sọ não nặng (tụ máu dưới màng cứng, chảy máu dưới nhện, dập não, chảy máu nhu mô não, phù não). Tòa án cấp sơ thẩm kết án các bị cáo Nguyễn Thị A, Nguyễn Thị L về tội “Giết người” quy định tại các điểm b và n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là đúng.

Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, trong đó vai trò, mức độ phạm tội của bị cáo A cao hơn vai trò, mức độ phạm tội của bị cáo L. Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án bị cáo L 20 năm tù và áp dụng mức hình phạt tù không thời hạn đối với bị cáo A.

Xem xét kháng cáo xin giảm hình phạt của các bị cáo, xét thấy:

Ngoài các tình tiết giảm nhẹ đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình bồi thường kịp thời thiệt hại cho đại diện bị hại, hoàn cảnh gia đình các bị cáo khó khăn, con còn nhỏ, chưa có tiền án, tiền sự; thì sau khi xét xử sơ thẩm, đại diện hợp pháp bị hại là anh T, chị T đã có đơn đề nghị giảm hình phạt cho 2 bị cáo; ngoài ra, trong trường hợp này các bị cáo phạm tội có tính chất bộc phát.

Xem xét đầy đủ, toàn diện, khách quan các tình tiết của vụ án trước và sau khi xét xử sơ thẩm, nhân thân các bị cáo, xét thấy mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với các bị cáo là quá nghiêm khắc; có căn cứ chấp nhận kháng cáo, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa giảm hình phạt cho các bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước là nghiêm trị kết hợp với kho an hồng; giáo dục, cải tạo trong việc xử lý tội phạm.

[2]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật.

[3]. Về án phí: các bị cáo không phải nộp án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Sửa Bản án số 366/2023/HS-ST ngày 25-8-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội như sau: áp dụng các điểm b và n khoản 1 Điều 123; các điểm b và s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt:

- Bị cáo Nguyễn Thị A 20 năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/03/2023.

- Bị cáo Nguyễn Thị L 18 năm 06 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02-3-2023.

Đều về tội “Giết người”.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm nêu trên đã có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

150
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội giết người số 70/2024/HS-PT

Số hiệu:70/2024/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 17/01/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về