TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
BẢN ÁN 65/2023/HS-ST NGÀY 01/11/2023 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI
Vào ngày 01 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Bùi Minh T, sinh ngày 01 tháng 11 năm 2000 tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Buôn Thung, xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 07/12, giới tính: Nam, dân tộc: Ê Đê, tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam, con ông Bùi Văn T1, sinh năm 1977 và bà Lê Mô Hờ G, sinh năm 1980. Tiền sự: Không. Tiền án: Ngày 25/9/2019 bị TAND huyện Sông Hinh xử phạt 03 năm tù về tội Cố ý gây thương tích, quy định tại Điểm c, Khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Chấp hành xong ngày 12/01/2023. Bị bắt tạm giam từ ngày 17/4/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện S. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Bùi Minh T: Ông Phạm Hồng P - Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh P - Công ty L1; địa chỉ: G N, phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
*Người bị hại: Bùi Văn T1, sinh năm 1977, nơi cư trú: Buôn T, xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên (Là cha của bị cáo T). Vắng mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Lê Mô Hờ G, sinh năm 1980, nơi cư trú: Buôn Thung, xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên (Là mẹ của bị cáo T). Có mặt.
* Người làm chứng 1. Bùi Thị N, sinh ngày 25/4/2004, nơi cư trú: Buôn T, xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên (là em bị cáo T). Vắng mặt.
2. Kpă Y B, sinh năm 1979, nơi cư trú: Buôn T, xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
3. Ksor Y L, sinh năm 1987, nơi cư trú: Buôn Thung, xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sau khi ra tù, Bùi Minh T thấy ông Bùi Văn T1, là cha ruột của T nhiều lần uống rượu rồi chửi mắng T và bà Lê Mô Hờ G (mẹ ruột của T) nên T nảy sinh ý định giết ông T1. Khoảng 00 giờ 40 phút ngày 16/4/2023, sau khi đi nhậu về nhà tại buôn T, xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên, T đá trúng tay của bà G đang ngủ. Ông T1 chửi mắng T, T nói “ông im miệng chứ không tôi giết ông đó”. Ông T1 bỏ đi, T đi theo dùng tay cầm cổ áo kéo ông T1 vào nhà, nói “Bây giờ máy muốn gì, tao với máy không còn là cha con nữa, máy muốn tao đi tù nữa hay sao”, ông T1 trả lời “Máy muốn thì máy đi, chứ tao sợ máy ả”. T lấy một viên gạch ống loại 04 lỗ ném thẳng vào vùng đầu bên phải của ông T1 làm viên gạch vỡ thành nhiều mảnh. Ông T1 bỏ chạy, T đuổi theo dùng chân đạp ông T1 ngã xuống đất, dùng dây thắt lưng và chân đánh nhiều cái vào người ông T1, làm mặt dây thắt lưng rơi ra, T cầm mặt dây thắt lưng đấm nhiều cái vào mặt ông T1. Bà G ôm T can ngăn, ông T1 bỏ chạy ra ngoài sân, vừa chạy vừa la cứu. T đuổi theo, lấy 01 cây gỗ đường kính khoảng 4,5cm đuổi đánh nhiều cái vào vùng đầu ông T1, làm cây gỗ gãy thành nhiều khúc, ông T1 ngã sấp mặt xuống sân. T tiếp tục dùng chân đạp nhiều cái vào người ông T1. Bà G chạy đến ôm T, ông T1 bỏ trốn. T đi tìm nhưng không thấy ông T1 nên về nhà ngủ. Ông T1 được mọi người đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện S, sau đó được chuyển đến điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh P.
Kết luận giám định pháp y số 128 ngày 19/4/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận Bùi Văn T1 bị thương tích: Hai vết thương vùng đầu khoảng 10cm và 03cm; Sưng khuỷu tay phải; sưng đau ngực phải, xây xát vùng ngực; vết thương vành tai phải kích thước khoảng 2cm, đứt lìa sụn; XQuang ngực thấy gãy các xương sườn số 3, 4, 5, 6, 7 bên phải, mất liên tục cung trước xương sườn số 9 bên trái; CT Scanner sọ não thấy dập xuất huyết nhu mô não đỉnh phải, tỷ lệ thương tích 16%.
Kết luận giám định bổ sung số 172 ngày 26/5/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: Tỷ lệ thương tích của ông Bùi Văn T1 là 30%, do vật tày và vật có cạnh gây nên.
Tại Bản Cáo trạng số: 70/CT - VKSPY - P1 ngày 03/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Bùi Minh T về tội “Giết người” theo quy định tại Điểm đ, p Khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Minh T vẫn khai nhận tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố là đúng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Minh T phạm tội “Giết người”.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm đ, p Khoản 1, Điều 123; Điểm s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51; Điều 15; Khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Bùi Minh T từ 14 (mười bốn) năm đến 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 17/4/2023).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Bùi Văn T1 không yêu cầu bồi thường khoản thiệt hại nào nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự để xử lý, cụ thể:
Đối với: + Chất màu nâu thẫm; + Sáu khúc gỗ có vết gãy nham nhở ở hai đầu, gồm:- Khúc 1: tròn, đường kính 4,5 cm, dài 27 cm.- Khúc 2: Tròn, đường kính 4,4cm, dài 17,5 cm- Khúc 3: Tròn, đường kính 3,5 cm, dài 22 cm.- Khúc 4: Tròn, đường kính 4,5 cm, dài 45 cm.- Khúc 5: Tròn, đường kính 4,7 cm, dài 34 cm. - Khúc 6: Mảnh cây gỗ, dài 39 cm, rộng 4,3 cm; + Nhiều mảnh vỡ gạch, mảnh lớn nhất có diện (17,5 x 7,5 x 5) cm, mảnh nhỏ nhất có diện (1 x 0,5 x 0,2) cm; + Một dây thắt lưng bằng vải; + Một mặt dây thắt lưng bằng kim loại; + Một quần dài, vải màu vàng nâu, trên lưng quần có ghi chữ ZAKA Fashion, mặt trước quần có dính chất màu nâu sẫm diện (75 x 45) cm được thu giữ là công cụ phạm tội và vật liên quan đến tội phạm không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Người bào chữa cho bị cáo Bùi Minh T là Luật sư Phạm Hồng P trình bày: Thống nhất về tội danh, nguyên nhân bị cáo phạm tội do có lỗi của người bị hại ông Bùi Văn T1 nhiều lần uống rượu rồi chửi mắng bị cáo T và đánh đập bà Lê Mô Hờ G nên bị cáo T bực tức, nảy sinh ý định giết ông Bùi Văn T1. Bị cáo Bùi Minh T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội khó khăn nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế; gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt thấp nhất cho bị cáo.
Quá trình đối đáp, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như luận tội.
Bị cáo Bùi Minh T nói lời sau cùng, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không ai ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Mặc dù tại phiên tòa, bị hại ông T1 và những người làm chứng vắng mặt, tuy nhiên, những người này đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án và không gây trở ngại cho việc xét xử. Riêng bị hại ông T1 có nhiều đơn xin bãi nại và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại. Do đó, chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Minh T tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm phạm tội, công cụ dùng vào việc phạm tội, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 25/9/2019, bị cáo Bùi Minh T bị Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điểm c, Khoản 3, Điều 134 Bộ luật Hình sự. Bị cáo chấp hành xong ngày 12/01/2023 và về sinh sống tại địa phương cùng gia đình cha mẹ ruột là ông Bùi Văn T1 và bà Lê Mô Hờ G. Do có mâu thuẫn trong cuộc sống gia đình, ông Bùi Văn T1 nhiều lần uống rượu rồi chửi mắng T và đánh đập bà Lê Mô Hờ G nên Bùi Minh T bực tức, nảy sinh ý định giết ông Bùi Văn T1. Khoảng 00 giờ 40 phút ngày 17/4/2023, tại buôn T, xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên, Bùi Minh T có hành vi dùng viên gạch ống 04 lỗ, dây thắt lưng có mặt bằng kim loại, cây gỗ có đường kính khoảng 4,5cm và tay, chân đánh nhiều cái vào đầu, ngực, bụng của ông T1. Ông T1 được cấp cứu kịp thời nên không nguy hiểm đến tính mạng nhưng bị thương tích tỷ lệ 30%. Hành vi của bị cáo Bùi Minh T thuộc trường hợp giết cha ruột của mình và tái phạm nguy hiểm nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Bùi Minh T phạm tội “Giết người” theo quy định tại Điểm đ, p Khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có 01 tiền án về tội “Cố ý gây thương tích”, chưa được xóa án tích, nhưng không tích cực sửa chữa lỗi lầm mà tiếp tục thực hiện tội phạm đặc biệt nghiêm trọng với 02 tình tiết định khung tăng nặng đó là tái phạm nguy hiểm và phạm tội đối với cha ruột của mình nên đối với bị cáo cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng răn đe, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Xét bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “phạm tội chưa đạt”, được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế xã hội khó khăn nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Bùi Văn T1 không yêu cầu bồi thường khoản thiệt hại nào nên Hội đồng xét xử không xét, giải quyết.
[5] Về xử lý vật chứng: Đối với: + Chất màu nâu thẫm; + Sáu khúc gỗ có vết gãy nham nhở ở hai đầu, gồm:- Khúc 1: tròn, đường kính 4,5 cm, dài 27 cm.- Khúc 2: Tròn, đường kính 4,4cm, dài 17,5 cm- Khúc 3: Tròn, đường kính 3,5 cm, dài 22 cm.- Khúc 4: Tròn, đường kính 4,5 cm, dài 45 cm.- Khúc 5: Tròn, đường kính 4,7 cm, dài 34 cm. - Khúc 6: Mảnh cây gỗ, dài 39 cm, rộng 4,3 cm; + Nhiều mảnh vỡ gạch, mảnh lớn nhất có diện (17,5 x 7,5 x 5) cm, mảnh nhỏ nhất có diện (1 x 0,5 x 0,2) cm; + Một dây thắt lưng bằng vải; + Một mặt dây thắt lưng bằng kim loại; + Một quần dài, vải màu vàng nâu, trên lưng quần có ghi chữ ZAKA Fashion, mặt trước quần có dính chất màu nâu sẫm diện (75 x 45) cm được thu giữ là công cụ phạm tội và vật liên quan đến tội phạm không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: Bị cáo Bùi Minh T bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Minh T phạm tội “Giết người”.
1. Về hình phạt: Áp dụng Điểm đ, p Khoản 1, Điều 123; Điểm s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51; Điều 15; Khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Bị cáo Bùi Minh T 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 17/4/2023).
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy đối với: : + Chất màu nâu thẫm; + Sáu khúc gỗ có vết gãy nham nhở ở hai đầu, gồm:- Khúc 1: tròn, đường kính 4,5 cm, dài 27 cm.- Khúc 2: Tròn, đường kính 4,4cm, dài 17,5 cm- Khúc 3: Tròn, đường kính 3,5 cm, dài 22 cm.- Khúc 4: Tròn, đường kính 4,5 cm, dài 45 cm.- Khúc 5: Tròn, đường kính 4,7 cm, dài 34 cm. - Khúc 6: Mảnh cây gỗ, dài 39 cm, rộng 4,3 cm; + Nhiều mảnh vỡ gạch, mảnh lớn nhất có diện (17,5 x 7,5 x 5) cm, mảnh nhỏ nhất có diện (1 x 0,5 x 0,2) cm; + Một dây thắt lưng bằng vải; Một mặt dây thắt lưng bằng kim loại; + Một quần dài, vải màu vàng nâu, trên lưng quần có ghi chữ ZAKA Fashion, mặt trước quần có dính chất màu nâu sẫm diện (75 x 45) cm.
(Tất cả các vật chứng có đặc điểm mô tả như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06 tháng 10 năm 2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Bùi Minh T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết công khai hoặc tống đạt hợp lệ.
Bản án về tội giết người số 65/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 65/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Phú Yên |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 01/11/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về