TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
BẢN ÁN 61/2024/HS-ST NGÀY 30/10/2024 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI
Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 66/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Họ và tên: Thạch Thị Ngọc T . Sinh ngày: 01/01/1990.
Nơi sinh: Sóc Trăng.
Nơi thường trú: Ấp GC, xã LT, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
Dân tộc: Khơ me; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm thuê.
Trình độ học vấn: Không biết chữ.
Cha: Thạch C, sinh năm: 1948.
Mẹ: Lý Thị L, sinh năm: 1947. Anh chị em ruột: có 01 người Chồng: Lê Đức T, sinh năm: 1995.
Con ruột: Có 04 người, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2024 (mới sinh ngày 07/10/2024).
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị can Thạch Thị Ngọc T bị tạm giữ từ ngày 06/02/2024 đến ngày 15/02/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Trần Văn C, địa chỉ: số 84 LHN, phường 4, thành phố Tân An, tỉnh Long An (Có đơn xin xét xử vắng mặt và nộp bài bào chữa).
- Bị hại: Đặng Chí C (đã chết);
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
1. Ông Đặng Văn H, sinh năm 1970;
2. Bà Võ Thị M, sinh năm 1972;
Cùng địa chỉ: ấp PT, xã LP, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 12 năm 2022, Đặng Trí C quen biết với Thạch Thị Ngọc T và sống chung với nhau như vợ chồng tại nhà của C địa chỉ số 113, ấp PT, xã LP, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An và tại quán karaoke biển hiệu “TN” thuộc ấp Tây, xã Đông Thạnh, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An (nơi T thuê trọ ở). Trong thời gian sống chung, C và T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cự cãi nhau vì C hay nhờ T mượn tiền cho C để tiêu xài cá nhân. Vào khoảng 18 giờ ngày 04/02/2024 C tiếp tục nhờ T mượn tiền cho C thì cả hai xảy ra mâu thuẫn cự cãi, xô xát nhau tại quán TN nhưng được mọi người can ngăn, nên C bỏ về nhà. Khoảng 20 giờ cùng ngày, C điện thoại kêu T về nhà dọn đồ đi nếu không về thì C đem đồ đi đốt nên T thuê xe honda chở qua nhà C. Tại khu vực hàng tư phía sau nhà, C và T tiếp tục cự cãi và xô xát nhau, C lấy 01 con dao cán gỗ, dài khoảng 16cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn, 01 bề lưỡi sắc bén tại kệ chén đũa ném về phía T đang đứng cạnh bàn tròn và nói “Mày giết tao đi”, làm con dao rớt xuống bàn tròn nên T đẩy con dao vào trong gần giữa bàn. Nói xong, C bỏ đi đến nhà anh ruột là Đặng Văn Hùng chơi. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, do không thấy C về nên T gọi điện thoại nhưng C không nghe máy. Sau đó, T đi bộ tìm C nhưng không gặp nên quay về nhà. Lúc này, T nảy sinh ý định tự tử nên dùng con dao ở bàn tròn cắt dây dù dùng buộc vào thanh xà ngang kim loại của mái che nhà sau. Cột dây xong T đem con dao để lại trên bàn tròn và vào võng nằm nghỉ. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, thì C đi về nhà, mở cửa nhà sau và nói “Giờ sao, giết không”, T thấy C nên đứng dậy bước ra cửa, C dùng 2 tay đẩy T vào trong và nói “Mày không giết tao thì tao cũng giết mày”. Lúc này, cả hai đang đứng đối diện cách nhau khoảng 0,5 mét và tiếp tục cự cãi. T chụp lấy con dao trên bàn tròn bằng tay phải, cán dao nằm trong lòng bàn tay, mũi dao vuông góc với ngón út, T đâm từ trên xuống trúng vào vùng ngực bên trái của C và rút dao ra. C bỏ chạy ra phía trước sân nhà, T tiếp tục cầm dao bằng tay phải đuổi theo phía sau C. Khi đến khu vực trước sân nhà, T nhìn thấy C đứng với tư thế khom người muốn khụy xuống nên T chạy đến cầm dao đâm từ trên xuống liên tiếp 06 cái trúng vào vùng trên bả vai phải phía sau lưng của C và rút dao ra khỏi người C thì C té nằm xuống đất, T vứt con dao xuống ngay vị trí C nằm, T dùng tay sờ vào má của C và nói “Tại anh ép em”. Hậu quả anh Đặng Trí C tử vong. Sau khi gây án, T gọi và nhờ anh Châu Tấn Trung chạy xe đến chở T đón xe khách về nhà cha mẹ ruột tại ấp GC, xã LT, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Đến khoảng 11 giờ ngày 05/02/2024, T đến Công an xã LT, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tự thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
* Tại Kết luận giám định tử thi số: 135/KLGĐTT-KTHS ngày 11/3/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An đối với tử thi Đặng Trí C, kết luận:
1. Kết quả chính
1.1. Kết quả khám nghiệm
1.1.1. Mất máu cấp - Toàn thân da, niêm mạc nhợt nhạt;
- Trang phục mặc trên người thấm ướt máu đỏ;
- Máu đông lượng nhiều trong khoang ngực hai bên.
1.1.2. Vết thương xuyên thấu ngực - Nhiều vết thương hở, bờ mép sắc gọn, kích thước tương đồng (2,0 x 0,5) cm, thấu ngực ở vùng ngực và vùng lưng;
- Đứt, thủng động mạch chủ;
- Đứt động mạch gian sườn sau;
- Thủng thấu hai phổi và rốn phổi;
- Xẹp phổi hai bên.
1.2. Kết quả xét nghiệm Nồng độ cồn ethanol trong máu toàn phần: 0,07 mg/100mL.
2. Kết luận:
- Kết luận nguyên nhân tử vong: Mất máu cấp không hồi phục do bị đa vết thương vùng ngực, lưng gây đứt, thủng động mạch chủ ngực và phổi.
- Kết luận khác (nếu có): không.
* Tại Kết luận giám định số: 1418/KL-KTHS ngày 14/3/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- Các dấu vết trên con dao, ghế nhựa, dấu vết tại vị trí 2, 4, 6, 18 và 22 có cùng một kiểu gen nam giới và trùng với kiểu gen nạn nhân Đặng Trí C.
- Trên đoạn dây dù có kiểu gen của Đặng Trí C và Thạch Thị Ngọc T .
- Phân tích được kiểu gen không đủ điều kiện truy nguyên từ dấu vết vị trí 16.
- Không phát hiện máu người trên áo và quần gửi giám. * Bản Kết luận giám định sự có thai số: 01/KLSCT-TTPY ngày 08/02/2024 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế Long An kết luận: Qua quá trình khám giám định, kết quả cận lâm sàng: Trễ kinh, mệt mỏi, buồn nôn, đầu vú thâm quầng. Túi thai giai đoạn sớm, hiện không thấy máu tụ dưới màng đệm. Beta HCG: 9792 mIU/ml, xác định Thạch Thị Ngọc T tại thời điểm giám định có thai, trong giai đoạn sớm khoảng 5 tuần tuổi.
Đại diện hợp pháp gia đình bị hại Đặng Trí C là ông Đặng Văn Hưởng và bà Võ Thị M không yêu cầu bồi thường về dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho Thạch Thị Ngọc T . T khắc phục một phần hậu quả, bồi thường chi phí mai táng cho gia đình C số tiền 5.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 75/CT-VKSLA-P2 ngày 02 tháng 10 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân tỉnh Long An để xét xử Thạch Thị Ngọc T , về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Bị cáo Thạch Thị Ngọc T có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng được công bố lời khai trong quá trình điều tra có thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng truy tố và xác định bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An truy tố về tội “Giết người” quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng, không oan. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện cho bị hại Đặng Trí C (đã chết) là ông Đặng Văn Hưởng và bà Võ Thị M vắng mặt nhưng trong quá trình điều tra xác định bị cáo T đã khắc phục một phần hậu quả, bồi thường chi phí mai táng cho gia đình C số tiền 5.000.000 đồng; Ông Hưởng và bà M không yêu cầu bồi thường về dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho Thạch Thị Ngọc T .
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm luận tội:
Lời khai nhận của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các T liệu, chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra thể hiện trong hồ sơ vụ án như: Bản kết luận giám định pháp y về tử thi; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Bản ảnh hiện trường;… có đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:
Đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự và được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bồi thường thiệt hại; người phạm tội là phụ nữ có thai; tự thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm b, n, r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những phân tích trên, đề nghị:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thạch Thị Ngọc T phạm tội “Giết người”.
- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 50; Điều 38; điểm b, n, r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Thạch Thị Ngọc T mức án từ 18 – 20 năm tù.
- Về hình phạt bổ sung: không.
* Về án phí: Buộc bị cáo Thạch Thị Ngọc T phải chịu án phí HSST theo quy định.
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy.
* Về trách nhiệm dân sự: không đề cập đến.
Người bào chữa cho bị cáo vắng mặt nhưng có nộp bài bào chữa trình bày: Xét thấy hành vi của bị cáo được thực hiện nguyên nhân một phần do lỗi của người bị hại, do đó việc truy tố bị cáo Thạch Thị Ngọc T theo điểm n, khoản 1, Điều 123 Bộ luật hình sự là chưa phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và xác định hành vi của bị cáo đã phạm vào khoản 2, Điều 123 Bộ luật hình sự về tội giết người.
Nhận thấy trong vụ án này bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ như sau :
- Trong quá trình điều tra bị cáo đã khắc phục hậu quả, thật thà khai báo ăn năn hối cải, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Thạch Thị Ngọc T đang mang thai, sau khi phạm tội bị cáo tự thú, đó là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, n, r, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.
- Ngoài ra hiện nay bị cáo đang nuôi con nhỏ mới sinh được 20 ngày, bản thân bị cáo và con nhỏ đang gặp khó khăn dựa vào sự giúp đỡ của người khác, đề nghị Hội đồng xét xử xem đây là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn nhắc khi lượng hình đối với bị cáo Thạch Thị Ngọc T , cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất để tạo điều kiện cho bị cáo an tâm cải tạo, trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin vắng mặt nên không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Long An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt nhưng không có ý kiến hoặc khiếu nại bằng văn bản về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, vắng mặt bị cáo T do bị cáo mới sinh con vào ngày 07/10/2024, có đơn xin xét xử vắng mặt. Người bào chữa cho bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt và có nộp bài bào chữa. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt. Xét thấy, bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo đã được triệu tập hợp lệ và đều đã có đã có lời khai ở Cơ quan điều tra. Xét thấy, việc vắng mặt của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại không gây trở ngại cho việc xét xử, do đó căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 290, Điều 291 và Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo, người bào chữa và đại diện hợp pháp của bị hại.
[3] Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các T liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án như: Bản kết luận giám định pháp y về tử thi, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Bản ảnh hiện trường và những chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được, có đủ căn cứ xác định:
Đặng Trí C và Thạch Thị Ngọc T sống chung với nhau như vợ chồng tại nhà của C ở xã LP, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Xuất phát từ việc C thường xuyên nhờ T hỏi mượn tiền để tiêu xài cá nhân nhưng T không đồng ý nên cả hai thường xảy ra mâu thuẫn cự cãi, xô xát nhau. Ngày 04/02/2024, C và T tiếp tục cự cãi và xô xát nhau, C lấy 01 con dao cán gỗ, dài khoảng 16cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn, 01 bề lưỡi sắc bén tại kệ chén đũa ném về phía T đang đứng cạnh bàn tròn và nói “Mày giết tao đi”, làm con dao rớt xuống bàn tròn nên T đẩy con dao vào trong gần giữa bàn. Nói xong, C bỏ đi đến nhà anh ruột là Đặng Văn Hùng chơi. Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 04/02/2024 sau khi cự cải nhau C bỏ đi và T có ý định tự tử nên dùng dao cắt dây dù buộc vào thanh xà ngang kim loại của mái che nhà. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, C về nhà và nói “Giờ sao, giết tao không”, sau đó T và C dùng tay xô đẩy, cự cải nhau; C nói “Mày không giết tao thì tao cũng giết mày”, T tức giận cầm con dao cán gỗ, dài khoảng 16cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn, 01 bề lưỡi sắc bén đâm từ trên xuống trúng vào vùng ngực bên trái của C và rút dao ra. C bỏ chạy, T tiếp tục cầm dao đuổi đến khu vực trước sân nhà và đâm từ trên xuống liên tiếp 06 cái trúng vào vùng trên bả vai phải phía sau lưng C. Hậu quả C tử vong do: Mất máu cấp không hồi phục do bị đa vết thương vùng ngực, lưng gây đứt, thủng động mạch chủ ngực và phổi.
[4] Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sống của con người. Bị cáo cũng thừa biết quyền sống là quyền cơ bản nhất của con người nhưng bị cáo đã cầm con dao cán gỗ, dài khoảng 16cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn, 01 bề lưỡi sắc bén đâm từ trên xuống trúng vào vùng ngực bên trái của C, hậu quả làm C tử vong. Hành vi đó của bị cáo Thạch Thị Ngọc T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” được quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự
[5] Tuy nhiên, việc Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An truy tố bị cáo Thạch Thị Ngọc T với tình tiết định khung là “có tính chất con đồ” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là chưa phù hợp. Bởi vì: thứ nhất, bị hại sống chung với bị cáo như vợ chồng và thường xuyên cãi vả với nhau về chuyện bị hại yêu cầu bị cáo mượn tiền cho bị cáo tiêu xài là nguyên nhân mâu thuẫn. Vào khoảng 18 giờ ngày 04/02/2024 C tiếp tục nhờ T mượn tiền cho C thì cả hai xảy ra mâu thuẫn cự cãi, xô xát nhau tại quán TN nhưng được mọi người can ngăn, nên C bỏ về nhà. Sự việc cho thấy mâu thuẫn trong cuộc sống chung là đã có từ trước nguyên nhân do lỗi bị hại.
[6] Thứ hai, bị cáo không chủ động chuẩn bị hung khí để nhằm ý thức tước đoạt sinh mạng của bị hại mà dao là do bị hại chuẩn bị và đưa ra với những lời lẽ thách thức bị cáo 02 lần như: bị hại ném dao về phía T đang đứng cạnh bàn tròn và nói “Mày giết tao đi”. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày bị cáo T do tâm lý của người mang thai quẫn bách nên đã có ý định tự tử nên dùng dao cắt dây dù buộc vào thanh xà ngang kim loại của mái che nhà. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, bị hại C về nhà tiếp tục gây gỗ và xô xát gây áp lực đối với bị cáo như “Giờ sao, giết tao không”. Sau đó, bị cáo T và bị hại C dùng tay xô đẩy, cự cải nhau; C nói “Mày không giết tao thì tao cũng giết mày”. Lúc này, bị cáo mới cầm con dao của chính bị cáo đã ném thời điểm trước đó đâm vào ngực của bị hại.
[7] Thứ ba, xét về tâm sinh lý của phụ nữ đang mang thai thì luôn có những bực tức, cáu gắt trong người nên khi bị cáo gặp sự dồn ép của bị hại về sự việc phải lựa chọn “Mày không giết tao thì tao cũng giết mày”. Những tình tiết nêu trên đã được xác định kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Long An và kết luận của Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An xác định qua lời khai của bị cáo.
[8] Từ những phân tích ở mục [5]. [6] và [7] nêu trên, hành vi của bị cáo từ sự kích động do những hành vi, lời nói, xô xát của bị hại C đối với bị cáo là có sự kích động trên thực tế nhưng chưa đủ kích động mạnh nên Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Thạch Thị Ngọc T đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Lời bào chữa luật sư bào chữa nêu trong bài bào chữa nộp cho Tòa án đề nghị xem xét bị cáo T phạm tội không có tính chất côn đồ là có căn cứ.
[9] Với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo thực hiện và hậu quả của hành vi mà bị cáo gây ra là bị hại tử vong nên cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[10] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Xét thấy, sau khi bị cáo đâm vào ngực bị hại, bị hại bỏ chạy nhưng bị cáo chạy theo đâm tiếp nhiều nhát dao vào người bị hại nên Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng “cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại 5.000.000đ; bị cáo khi phạm tội là phụ nữ đang mang thai, sau khi bị cáo phạm tội đã đi tự thú với cơ quan chức năng; bị cáo phạm tội do một phần lỗi của bị hại do có hành vi trái pháp luật và thách thức và hăm dọa đòi giết bị cáo, dẫn đến có sự kích động từ hành vi trái pháp luật của bị hại dù chưa đến kích động mạnh.
Đây là các tình tiết quy định tại điểm s, b, n, r và e khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo hiện mới sinh con (sinh ngày 07/10/2024) và đang còn trong thời gian nuôi con nhỏ (bị cáo có nộp giấy chứng sinh và giấy ra viện); gia đình có hoàn cảnh khó khăn tại phiên tòa đại diện bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo nên được xem xét là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[11] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt nhưng có lời trình bày không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[12] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy những vật chứng là T sản không còn giá trị sử dụng.
[13] Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1.Tuyên bố: Bị cáo Thạch Thị Ngọc T phạm tội “Giết người”
Áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, e, n, r và s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Thạch Thị Ngọc T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06/02/2024 đến ngày 15/02/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy những vật chứng là T sản không còn giá trị sử dụng, gồm: 01 (một) con dao cán gỗ, không rõ hiệu, kích thước cán dao 11,5cm x 2,8cm; lưỡi dao đã bị gãy chỉ còn lại một phần gắn liền với cán dài 02cm, rộng 02cm, 01 lưỡi cắt; 06 (sáu) dấu vết màu nâu đỏ nghi máu; 01 (một) chiếc ghế nhựa màu đỏ, kích thước 0,25m x 0,25m x 0,45m; 01 (một) đoạn dây dù bản tròn, màu trắng, đường kính 01cm, xếp đôi dài 2,9m; 01 (một) thẻ đeo nhân viên mang tên Đặng Trí C; 01 (một) áo vải ngắn tay màu đen, trên cổ áo có chữ QUEEN; 01 (một) quần vải dài màu đen.
Các vật chứng trên do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 10 năm 2024.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Thạch Thị Ngọc T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Án xử sơ thẩm công khai đại diện bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trang hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Bản án về tội giết người số 61/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 61/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Long An |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 30/10/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về