TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 523/2024/HS-PT NGÀY 28/06/2024 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm là trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần là Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 274/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Trần Tuấn K. Do có kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại là bà Nguyễn Thị Thu T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 09/2024/HS-ST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
Tại điểm cầu thành phần là Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang:
- Bị cáo có kháng cáo và bị kháng cáo:
Trần Tuấn K, sinh ngày 21/3/1992; Quê quán: Huyện P - Kiên Giang. Nơi ĐKHKTT: Khu phố G, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở hiện nay: khu phố G, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Trần Văn Thanh B, sinh năm 1969 và bà Ngô Thị Mỹ C, sinh năm 1971; Chi, em ruột gồm: 04 người, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2001; Vợ Huỳnh Ngọc Phương T1 (đã ly hôn); Con Trần Hoàng L, sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 04/7/2012, bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách là 01 năm 10 tháng 18 ngày theo Bản án hình sự phúc thẩm số 126/2012/HSPT, đã chấp hành xong.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/10/2022 cho đến nay (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lại Hùng A - Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh K (có mặt).
- Bị hại: Ông Huỳnh Văn P (đã chết)
- Đại diện hợp pháp của bị hại:
1/ Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1971 (có mặt).
2/ Anh Huỳnh An K1, sinh năm 1997 (có mặt).
3/ Trẻ Huỳnh Bình A1, sinh năm 2007 (vắng mặt). Đại diện theo pháp luật của trẻ Huỳnh Bình A1: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1971 (có mặt).
Cùng địa chỉ: số G đường N, khu phố D, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người đại diện hợp pháp của bị hại bà Nguyễn Thị Thu T:
1/ Luật sư Đỗ Hải B1 - Văn phòng L2 Đoàn Luật sư thành phố L2 (có mặt). 2/ Luật sư Trịnh Bá T2 - Văn phòng Luật sư Trịnh Bá Thân thuộc Đoàn Luật sư thành phố L2 (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo: 1/ Ông Trần Văn Thanh B, sinh năm 1969 (có mặt). Địa chỉ: khu phố G, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. 2/ Bà Trần Thị Tuyết N, sinh năm 1990 (xin vắng mặt). Địa chỉ: Hẻm D, đường L, khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
3/ Ông Nguyễn Trọng Đ, sinh năm 1979 (xin vắng mặt) Địa chỉ: Tổ F, khu phố G, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
- Người tham gia tố tụng khác: Ông Lê Đăng K2 - Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh An Giang là người hỗ trợ tổ chức phiên tòa trực tuyến.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ, ngày 26/10/2022 Trần Tuấn K điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Mazda, màu đen, loại xe CX-5, biển số 68A-xxxxx chở ông Trần Văn Thanh B (cha K) lưu thông trên đường N, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang hướng từ khu vực vòng xoay sân bay cũ đi đến trụ sở phòng giáo dục thành phố P. Lúc này Trần Tuấn K điều khiển xe đi đến trước trụ sở phòng giáo dục tại số G đường N, khu phố D, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang thì dừng xe lại và đi bộ qua bên đường để mua hải sản của chị Hồ Thị Ngọc M còn ông B xuống xe định đi vệ sinh trước trụ sở phòng giáo dục thì bị Trần Lê N1 nhắc nhở yêu cầu ông B đi vệ sinh phía bên trong. Sau khi ông B đi vệ sinh xong thì đi ra bị té ngã (do đã uống rượu, bia trước đó) nên bị thương ở chân, ông B bực tức cự cãi với N1. Khi này Trần Tuấn K thấy ông B cự cãi với N1 nên đi đến dùng tay đánh nhiều cái vào vùng mặt N1 (chưa gây thương tích). Lúc này ông Huỳnh Văn P, Giang Thành Đ1 và Giang Thành D đang ngồi uống rượu phía trước nhà số G đường N, khu phố D, phường D, thành phố P thấy vậy đi qua cùng can ngăn thì bị nhiều người đánh (chưa xác định) nên D, Đ1 bỏ chạy. Riêng Trần Tuấn K đánh nhau bằng tay với ông Huỳnh Văn P, trong quá trình đánh nhau thì K dùng tay đánh trúng vào vùng mặt ông P làm ông P ngã ngửa về phía sau, đập đầu xuống đường. Sau khi ông P té ngã K không dừng lại mà tiếp tục dùng chân đá trúng vào vùng trán phải đến đỉnh thái dương trái (vùng đầu) ông Huỳnh Văn P bất tỉnh. Sau đó Trần Tuấn K điều khiển xe ôtô nhãn hiệu Mazda, màu đen, loại xe CX-5, biển số 68A-xxxxx chở ông Trần Văn Thanh B đi di chuyển thì bị Giang Thành D cầm 01 (một) thanh kim loại bị rỉ sét loại ống vuông có kích thước 2,5cm x 2,5 cm, dài 76cm đập nhiều cái làm vỡ kính chắn gió phía sau (kính lưng sau) của xe ôtô nhãn hiệu Mazda, màu đen, loại xe CX-5, biển số 68A-xxxxx (xe trên do ông Trần Văn Thanh B làm chủ). Riêng Huỳnh Văn P được người dân đưa vào Bệnh viện đa khoa tỉnh K cấp cứu, điều trị, đến ngày 28/10/2022 ông P tử vong. Sau đó Trần Tuấn K đi đến Công an thành phố P đầu thú và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đến ngày 29/10/2022 Trần Tuấn K bị Cơ quan Công an ra lệnh tạm giữ và ngày 01/11/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Kiên Giang ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, chuyển tạm giam để điều tra.
Trong quá trình điều tra và truy tố, bị can Trần Tuấn K và Giang Thành D có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; K đầu thú và nộp tiền khắc phục hậu quả. Ngoài ra Giang Thành D phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
*Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 1066/KL-KTHS ngày 24/11/2022 của Phòng K3 Công an tỉnh K kết luận đối với Huỳnh Văn P, sinh năm 1968 như sau:
1. Các kết quả chính:
- Vết thương từ trán phải đến đỉnh thái dương trái dài 32cm, đã khâu kín, bầm tụ máu.
- Tụ máu dưới da đầu vùng trán, đỉnh và thái dương trái kích thước 18cm x 13cm.
- Khuyết sọ vùng trán đỉnh thái dương trái kích thước 13cm x 9cm.
- Tụ máu ngoài màng cứng, dưới màng cứng và dưới màng nhện bán cầu đại não trái.
- Não phù và dập não vùng trán đỉnh thái dương trái.
- Kết quả CT - Scanner: Tụ máu dưới màng cứng bán cầu trái, đầy lệch đường giữa sang phải khoảng 13mm. Dập não trán, thái dương trái và các ổ đỉnh phải. Xuất huyết dưới nhện. Thoái vị não dưới liềm, thoát vị móc thái dương trái qua lều hướng xuống. Đường nứt sọ đỉnh phải đến đỉnh thái dương trái.
2. Nguyên nhân tử vong: Chấn thương sọ não.
3. Cơ chế hình thành thương tích: Huỳnh Văn P bị chấn thương sọ não dẫn đến tử vong do có sự tác động của ngoại lực do vật tày diện rộng gây nên.
* Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 15/KL-HĐĐGTS, ngày 28/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND thành phố P, tỉnh Kiên Giang kết luận:
- Thay mới 01 kính lưng sau xe ô tô nhãn hiệu Mazda CX-5, thời điểm định giá tháng 10 năm 2022 là 4.982.000 đồng (Bốn triệu chín trăm tám mươi hai nghìn đồng).
* Tại Bản kết luận giám định số 792/KL-KTHS, ngày 25/9/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh K kết luận như sau:
1. Trong mẫu cần giám định lưu trong USB ký hiệu A1:
- Không xác định được 02 (hai) tập tin video có bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hay không (do nội dung hình ảnh được phát trên một thiết bị khác và ghi lại qua màn hình của thiết bị đó). Không tiến hành giám định các yêu cầu giám định khác trong trường hợp này.
2. Trong mẫu cần giám định lưu trong USB ký hiệu A2:
- Không phát hiện thấy dấu vết cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung trong tập tin video “1.MP4” gửi giám định. Đã trích xuất 11(mười một) tập tin hình ảnh, chi tiết trong bản phụ lục kèm theo.
- Phát hiện thấy dấu hiệu cắt bớt nội dung hình ảnh trong tập tin video “2.MP4”. Không tiến hành giám định các yêu cầu giám định khác trong trường hợp này.
3. Trong mẫu cần giám định lưu trong USB ký hiệu A3:
- Không xác định được 02 (hai) tập tin video “3856850844481” và “3856850847793.MP4” có bị cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung hay không (do nội dung hình ảnh được phát trên một thiết bị khác và ghi lại qua màn hình của thiết bị đó). Không tiến hành giám định các yêu cầu giám định khác trong trường hợp này.
- Phát hiện thấy dấu hiệu cắt bớt nội dung hình ảnh trong tập tin video “1395256142875438215.MP4”. Không tiến hành giám định các yêu cầu giám định khác trong trường hợp này.
- Không phát hiện thấy dấu vết cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung trong tập tin video “1554558544762050600.MP4”. Đã trích xuất 09 (chín) tập tin hình ảnh, chi tiết trong bản phụ lục kèm theo.
Kèm theo kết luận giám định: 01 bản phụ lục gồm 06 trang A4.
* Vật chứng vụ án gồm:
- 01 (một) thanh kim loại bị rỉ sét loại ống vuông có kích thước 2,5cm x 2,5 cm, dài 76cm.
- 01 (một) bì thư đã niêm phong sau giám định (gồm 03 USB chứa các video ghi nhận về diễn biến vụ án- kèm theo hồ sơ vụ án).
- Xét thấy những vật chứng trên có liên quan đến vụ án và không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 2 Điều 106 - Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Về phần trách nhiệm dân sự:
Trong quá trình điều tra bà Nguyễn Thị Thu T (vợ người bị hại Huỳnh Văn P) chưa cung cấp hóa đơn chứng từ, chưa yêu cầu giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án “Giết người” nhưng bị can Trần Tuấn K đã tác động gia đình nộp 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng) vào Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang để khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại Huỳnh Văn P (do bà Trần Thị Hồng N2 chị ruột K nộp theo biên lai thu tiền số 0008684, ngày 24/5/2023). Riêng người bị hại Trần Văn Thanh B không yêu cầu bị can Giang Thành D bồi thường trách nhiệm dân sự trong vụ án “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Tại bản Cáo trạng số: 95/CT-VKSTKG-P2 ngày 07/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Trần Tuấn K về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 và bị cáo Giang Thành D về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017..
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Tuấn K phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Áp dụng: Điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 - Xử phạt: Bị cáo Trần Tuấn K - 12 (Mười hai) năm tù, thời điểm chấp hành hình phạt tính từ ngày 29/10/2022.
* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 591 BLDS 2015:
Buộc bị cáo Trần Tuấn K phải có nghĩa vụ bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Nguyễn Thị Thu T các khoản chi phí điều trị, mai táng phí, tổn thất tinh thần và các khoản chi phí hợp lý khác với tổng số tiền là 424.080.270 đồng (Bốn trăm hai mươi bốn triệu tám mươi nghìn đồng).
Khấu trừ bị cáo đã nộp 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng), mà gia đình bị cáo đã nộp, theo biên lai thu số: 0008684, ngày 24 tháng 5 năm 2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang (BL: 133). Vì vậy, bị cáo K còn phải tiếp tục bồi thường cho bà Nguyễn Thị Thu T số tiền còn lại là (424.080.270 đồng - 250.000.000 đồng) = 174.000.000 đồng (Một trăm bảy mươi bốn triệu đồng).
Sau khi án có hiệu lực, bà Nguyễn Thị Thu T có nghĩa vụ đến Cục Thi hành án dân sự để nhận số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng) mà bị cáo đã nộp để bồi thường trước cho bà.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với Giang Thành D, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 03/3/2024, bà Nguyễn Thị Thu T là đại diện hợp pháp của bị hại có đơn kháng cáo yêu cầu tăng nặng hình phạt và tăng trách nhiệm dân sự đối với bị cáo, đồng thời yêu cầu xem xét xử lý các đối tượng có liên quan như ông Trần Văn Thanh B, Trần Thị Tuyết N và Nguyễn Trọng Đ về hành vi đồng phạm giết người hoặc gây rối trật tự công cộng.
Ngày 12/3/2024, bị cáo Trần Tuấn K có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Trần Tuấn K thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu, chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt do bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi xét xử sơ thẩm đã tác động gia đình bồi thường thêm cho đại diện hợp pháp của bị hại 174.000.000 đồng và nộp 9.200.000 đồng án phí sơ thẩm theo quyết định của bản án sơ thẩm; đồng thời, không đồng ý với kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại.
Người bào chữa cho bị cáo là Luật sư Lại Hùng A phát biểu ý kiến: Ngoài các tình tiết giảm nhẹ Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm cho bị cáo các tình tiết như sau khi xử sơ thẩm, bị cáo đã tác động gia đình thực hiện toàn bộ phần trách nhiệm dân sự theo bản án sơ thẩm; bị hại có một phần lỗi; bị cáo đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, từ đó giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại là không có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Đại diện hợp pháp của bị hại là bà Nguyễn Thị Thu T vẫn giữ kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm tăng nặng hình phạt đối với bị cáo K với lý do hành vi của bị cáo là côn đồ nên mức án sơ thẩm xử là quá nhẹ, không tương xứng với hành vi của bị cáo; mặt khác, số tiền mà bản án của Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo phải bồi thường là quá thấp so với thiệt hại bị cáo đã gây ra nên yêu cầu tăng mức bồi thường. Ngoài ra, yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét trách nhiệm hình sự của các đối tượng có liên quan như ông Trần Văn Thanh B, Trần Thị Tuyết N và Nguyễn Trọng Đ và một số đối tượng khác về hành vi đồng phạm giết người hoặc gây rối trật tự công cộng do những người này có tham gia đánh bị hại.
Đại diện hợp pháp của bị hại là ông Huỳnh An K1 không đồng ý kháng cáo của bị cáo K, yêu cầu Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị cáo và chấp nhận kháng cáo của bà T.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người đại diện hợp pháp của bị hại bà Nguyễn Thị Thu T là Luật sư Đỗ Hải B1 và Luật sư Trịnh Bá T2 thống nhất phát biểu ý kiến: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo K 12 năm tù là quá nhẹ vì sau khi bị hại đã bị té ngã, bất tỉnh thì bị cáo vẫn tiếp tục đá vào mặt bị hại nhằm tước đoạt đến cùng tính mạng của bị hại. Bản án sơ thẩm nhận định bị hại có lỗi là không đúng vì mục đích của bị hại chỉ can ngăn việc bị cáo đánh N1, bị cáo cho rằng bị hại đánh bị cáo trước nhưng không có chứng cứ nào thể hiện việc này. Về nhân thân, bị cáo từng bị kết án về hành vi cố ý gây thương tích, việc ông S xác nhận bị cáo đã bồi thường năm 2015 là không có giá trị pháp lý vì chỉ là xác nhận của cá nhân mà không có văn bản nào của cơ quan có thẩm quyền xác nhận nên bị cáo vẫn bị xem là có án tích, do đó lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm. Ngoài ra, cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào lời khai của bị cáo để xác định chỉ có mình bị cáo đánh bị hại là chưa đủ cơ sở vì người làm chứng là mẹ cháu N1 cũng như cháu N1 trình bày phía bị cáo có 4 người. Biên bản giám định pháp y xác định bị hại chết do chấn thương sọ não bởi tác động của ngoại lực do vật tày diện rộng gây nên. Như vậy, cấp sơ thẩm chưa làm rõ việc bị cáo đá vào mặt có thể gây ra cái chết cho bị hại hay không. Các vấn đề này chưa được làm rõ. Mặt khác, nơi xảy ra vụ án là nơi công cộng, hậu quả xảy ra có người chết nên những người tham gia gây ra vụ án cũng phải bị xử lý về hành vi gây rối trật tự công cộng, bỏ lọt tội phạm. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Văn Thanh B yêu cầu Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại vì ông B không tham gia đánh nhau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo K 12 năm tù về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự và giải quyết về trách nhiệm dân sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, đại diện hợp pháp của bị hại là kháng cáo yêu cầu tăng nặng hình phạt đối với bị cáo và tăng mức bồi thường nhưng đều không cung cấp được chứng cứ nào mới chứng minh nên không có căn cứ chấp nhận. Đối với kháng cáo của bà T về bỏ lọt tội phạm là không có cơ sở. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại là bà Nguyễn Thị Thu T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Tuấn K đã thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo như bản án sơ thẩm đã nêu; qua lời khai nhận của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở để xác định như sau:
[1.1] Vào khoảng 22 giờ ngày 26/10/2022, Trần Tuấn K điều khiển xe ô tô biển số 68A-xxxxx chở ông Trần Văn Thanh B lưu thông đến trước trụ sở phòng giáo dục (77 - 79) đường N, khu phố D, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang thì xảy ra mâu thuẫn, cự cãi với Trần Lê N1. Sau đó K dùng tay đánh vào mặt N1 (chưa gây thương tích) nên ông Huỳnh Văn P, Giang Thành Đ1 và Giang Thành D can ngăn thì bị nhiều người đánh (chưa xác định được nhân thân) nên D, Đ1 bỏ chạy. Riêng Trần Tuấn K đánh nhau bằng tay với ông Huỳnh Văn P, trong quá trình đánh nhau thì K dùng tay đánh trúng vào vùng mặt ông P làm ông P ngã ngửa về phía sau, đập đầu xuống đường. Không dừng lại, K tiếp tục dùng chân đá trúng vào vùng trán phải đến đỉnh thái dương trái (vùng đầu) làm ông P tử vong do chấn thương sọ não. Sau đó, Trần Tuấn K điều khiển xe ô tô định di chuyển thì bị Giang Thành D cầm 01 (một) thanh kim loại đập vỡ kính chắn gió phía sau xe ô tô nhãn hiệu Mazda, màu đen, loại xe CX-5, biển số 68A-xxxxx (qua giám định thiệt hại là 4.982.000 đồng) của ông Trần Văn Thanh B.
[1.2] Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Tuấn K phạm tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2] Xét thấy, hành vi của bị cáo K là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính côn đồ, coi thường pháp luật, gây đau thương, mất mát cho gia đình bị hại, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, an ninh xã hội tại địa phương; vì vậy cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[3] Xét kháng cáo giảm nhẹ hình phạt của bị cáo K. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện tác động gia đình khắc phục bồi thường tiền cho gia đình bị hại (250 triệu đồng), sau khi phạm tội đã ra đầu thú và trong vụ án này phía bị hại cũng có lỗi, quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, từ đó xử phạt bị cáo 12 năm tù, bằng mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy, giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn, bị hại chỉ đi đến nhằm mục đích can ngăn K đánh N1 nhưng do thái độ hung hăng, côn đồ mà bị cáo cho rằng phía bị hại muốn gây sự với bị cáo, từ đó dẫn đến lời qua tiếng lại rồi ra tay đánh bị hại, đây là ý thức chủ quan của bị cáo, bị hại không có lỗi. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị hại cũng có một phần lỗi để làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là không đúng.
Mặt khác, bị cáo đã từng bị kết án về hành vi cố ý gây thương tích. Tòa án cấp sơ thẩm xác định đây không phải là tiền án do bị cáo đã được xóa án tích nên bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm” nhưng lại không xem xét tình tiết này là nhân thân của bị cáo khi lượng hình là thiếu sót, không đúng quy định tại Điều 50 Bộ luật hình sự, từ đó, chỉ xử phạt bị cáo 12 năm tù là nhẹ, có lợi cho bị cáo.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình tình tiết đã tác động gia đình bồi thường thêm cho đại diện hợp pháp của bị hại 174.000.000 đồng và nộp 9.200.000 đồng án phí sơ thẩm theo quyết định của bản án sơ thẩm theo các biên lai nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang. Tuy nhiên, tình tiết tự nguyện bồi thường đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo. Hơn nữa, đây là nghĩa vụ bị cáo phải thi hành, trường hợp bị cáo không tự nguyện thi hành thì sẽ bị cưỡng chế thi hành khi bản án có hiệu lực, nên đây cũng không phải là tình tiết đặc biệt mới làm thay đổi đáng kể tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện. Do đó, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo K không có cơ sở chấp nhận.
[4] Xét kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại.
[4.1] Đối với kháng cáo tăng nặng hình phạt đối với bị cáo.
Như phân tích tại mục [3], Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng không đúng tình tiết giảm nhẹ và chưa xem xét đến nhân thân của bị cáo khi lượng hình đối với bị cáo là thiếu sót. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về hành vi cố ý gây thương tích. Thay vì lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân thì bị cáo K lại tiếp tục chọn cách giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực, phạm tội với tính chất nghiêm trọng hơn nên cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo. Hơn nữa, trước khi giết bị hại thì bị cáo đã ra tay đánh N1, khi bị hại can ngăn thì bị cáo đánh luôn bị hại, làm ông P ngã ngửa về phía sau, đập đầu xuống đường, mất khả năng chống trả nhưng bị cáo vẫn không dừng lại mà còn tiếp tục dùng chân đá vào vùng đầu ông P, dẫn đến bị hại tử vong. Hành vi của bị cáo thể hiện bản chất hung hăng, côn đồ, thích giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực, xem thường pháp luật, tính mạng, sức khỏe của người khác, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị hại chết là sự mất mát lớn lao không gì bù đắp được cho gia đình bị hại, con mất cha, vợ mất chồng, đồng thời ảnh hưởng lâu dài đến cuộc sống của những người thân của bị hại sau này. Do đó, mức án 12 năm tù mà bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo K là chưa nghiêm, không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện cũng như hậu quả do hành vi đó gây ra và nhân thân của bị cáo, không đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo này của đại diện hợp pháp của bị hại, tăng nặng hình phạt đối với bị cáo.
[4.2] Đối với kháng cáo yêu cầu tăng trách nhiệm dân sự. Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo phải bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại các khoản chi phí mà bị hại xuất trình được chứng cứ chứng minh gồm: Tiền cấp cứu, chi phí mai táng hợp lý cho bị hại là 244.080.270 đồng; tiền tổn thất tinh thần là 180.000.000 đồng, tổng số tiền bồi thường là: 424.080.270 đồng, khấu trừ số tiền 250.000.000 đồng bị cáo đã nộp, buộc bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho bà Nguyễn Thị Thu T số tiền là 174.000.000 đồng; đồng thời buộc bị cáo phải có nghĩa vụ cấp dưỡng mỗi tháng cho cháu Huỳnh Bình A1 theo mức quy định với số tiền là 4.160.000đ/tháng, thời điểm cấp dưỡng từ ngày bị hại chết (ngày 28/10/2022) cho đến khi cháu A1 đủ 18 tuổi, là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 586, 591 Bộ luật dân sự 2015 và Điều 8 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và Điều 3 Nghị định số 38/2022/NĐ-CP của Chính phủ.
Riêng đối với các khoản bà T yêu cầu bị cáo bồi thường mà tại cấp sơ thẩm bà T chưa cung cấp được các chứng từ, hóa đơn hợp lệ cũng như tiền chi phí mua đất để chôn cất bị hại theo phong tục tập quán tại địa phương, Tòa án cấp sơ thẩm tách phần dân sự này và dành cho bà T quyền khởi kiện vụ kiện dân sự khác, khi bà T có đủ chứng cứ là phù hợp. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà T cũng thống nhất tách phần yêu cầu này.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T yêu cầu tăng mức bồi thường nhưng không cung cấp được chứng cứ nào mới chứng minh cho yêu cầu này nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo nêu trên của bà T.
[4.3] Đối với kháng cáo yêu cầu xem xét trách nhiệm hình sự của các đối tượng có liên quan như ông Trần Văn Thanh B, Trần Thị Tuyết N, Nguyễn Trọng Đ và một số đối tượng khác về hành vi đồng phạm giết người hoặc gây rối trật tự công cộng.
Hồ sơ vụ án thể hiện, sự việc đánh nhau tại hiện trường diễn biến sự việc cũng đã có camera ghi lại, Cơ quan điều tra cũng thu thập đầy đủ và trích xuất dữ liệu hình ảnh lưu trong camera tại hiện trường để trưng cầu giám định. Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ chứng minh là có đồng phạm giúp sức bị cáo để gây nên cái chết cho bị hại Phồn nên không có căn cứ xác định ông Trần Văn Thanh B, Trần Thị Tuyết N, Nguyễn Trọng Đ đồng phạm với bị cáo về tội “Giết người”. Riêng đối với hành vi “Gây rối trật tự công cộng” thì trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra Công an tỉnh K, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang chưa xác định được các đối tượng đã gây ra, nên Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra khi nào có đủ căn cứ thì xử lí sau. Hơn nữa, vấn đề này cũng không ảnh hưởng đến hành vi phạm tội và trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án này nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét là phù hợp.
[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo cũng như đề nghị của người bào chữa, chấp nhận một phần kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại là bà Nguyễn Thị Thu T như phân tích tại mục [4.1], sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt của bị cáo. Lập luận này cũng là căn cứ để không chấp nhận đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa.
[6] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Trần Tuấn K phải chịu theo quy định pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.
[8] Án phí dân sự phúc thẩm: bà Nguyễn Thị Thu T được miễn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 2 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Tuấn K; chấp nhận một phần kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại là bà Nguyễn Thị Thu T. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 09/2024/HS-ST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang về hình phạt đối với bị cáo Trần Tuấn K.
[1] Tuyên bố: Bị cáo Trần Tuấn K phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Áp dụng: Điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt: Bị cáo Trần Tuấn K - 16 (mười sáu) năm tù, thời điểm chấp hành hình phạt tính từ ngày 29/10/2022.
Tiếp tục giữ bị cáo Trần Tuấn K để đảm bảo thi hành án.
* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 591 BLDS 2015:
Buộc bị cáo Trần Tuấn K phải có nghĩa vụ bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Nguyễn Thị Thu T các khoản chi phí điều trị, mai táng phí, tổn thất tinh thần và các khoản chi phí hợp lý khác với tổng số tiền là 424.080.270 đồng (Bốn trăm hai mươi bốn triệu tám mươi nghìn đồng).
Khấu trừ bị cáo đã nộp 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng), mà gia đình bị cáo đã nộp, theo biên lai thu số: 0008684, ngày 24 tháng 5 năm 2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang (BL: 133). Vì vậy, bị cáo K còn phải tiếp tục bồi thường cho bà Nguyễn Thị Thu T số tiền còn lại là (424.080.270 đồng - 250.000.000 đồng) = 174.000.000 đồng (Một trăm bảy mươi bốn triệu đồng).
Sau khi án có hiệu lực, bà Nguyễn Thị Thu T có nghĩa vụ đến Cục Thi hành án dân sự để nhận số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng) mà bị cáo đã nộp để bồi thường trước cho bà.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
[2] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[3] Số tiền 183.200.000 đồng bị cáo Trần Tuấn K đã nộp tại cấp phúc thẩm theo các biên lai thu số 0005614 và số 0005615 cùng ngày 14/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang, sẽ được đối trừ trong giai đoạn thi hành án.
[4] Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Trần Tuấn K phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
[5] Án phí dân sự phúc thẩm: bà Nguyễn Thị Thu T được miễn. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Bản án về tội giết người số 523/2024/HS-PT
| Số hiệu: | 523/2024/HS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân cấp cao |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 28/06/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về