Bản án về tội giết người số 36/2024/HS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 36/2024/HS-PT NGÀY 12/01/2024 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Ngày 12/01/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên toà công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 1094/2023/TLPT-HS ngày 09/10/2023 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2023/HS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.

* Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn Đ, tên gọi khác: Không; sinh ngày 05/8/1979 tại Lạng Sơn; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn L, xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp trước khi bị khởi tố: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; con ông: Nguyễn Văn T (đã chết) và con bà Lê Thị T1; vợ: Nguyễn Thị N và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 06/7/2011 bị Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn xử phạt hành chính 750.000đ về hành vi “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/6/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hoàng Thị N1, Luật sư Văn phòng L, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Lạng Sơn, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Xuất phát từ việc vợ chồng Nguyễn Văn Đ nợ tiền của bị hại là chị Đinh Thị T2, hai bên đã thỏa thuận khi gia đình Nguyễn Văn Đ thu hoạch thuốc lá sẽ bán cho chị T2 để trừ nợ; khoảng 13 giờ 30 ngày 09/6/2023 chị Nguyễn Thị T3 đến nhà Nguyễn Văn Đ để thu mua thuốc lá như đã thỏa thuận. Khi gặp Nguyễn Văn Đ chị Đinh Thị T2 hỏi tại sao Nguyễn Văn Đ lại bán thuốc lá cho người khác mà không bán cho chị T2 như đã thỏa thuận, dẫn đến giữa hai bên lời qua, tiếng lại. Chị Đinh Thị T2 tự ý gỡ thuốc lá đang phơi trên sào cho và bao, đồng thời gọi điện cho chồng là anh Nguyễn Văn D đến để chở thuốc lá về. Thấy vậy, Nguyễn Văn Đ1 ngăn cản, giằng lại bao đựng thuốc lá thì bị chị T2 đẩy ra. Nguyễn Văn Đ đi xuống bếp lấy một con dao nhọn dài khoảng 30cm quay lại đứng đối diện với chị Đinh Thị T2; chị Đinh Thị T2 thách thức Nguyễn Văn Đ đánh mình. Do bức xúc, tức giận vì bị chị T2 thách thức, nên Nguyễn Văn Đ dùng dao đâm một nhát vào 1/3 trên mặt trước ngoài cánh tay trái của chị Đinh Thị T2, chị T2 hai tay cầm sào sấy thuốc lá dơ lên chắn ngang, đồng thời dùng chân đạp về phía Nguyễn Văn Đ; Nguyễn Văn Đ tiếp tục đâm một nhát vào mặt ngoài đùi phải, một nhát vào 1/3 giữa mặt trong cánh tay trái, hai nhát vào đường nách giữa bên trái, một nhát vào ngón giữa và ngón áp út bàn tay phải, một nhát vào vùng mũi ức và một nhát vào 1/3 giữa mặt trong cánh tay phải của chị T2. Chị Đinh Thị T2 bỏ chạy thì Nguyễn Văn Đ vung dao chém một nhát vào ½ mặt sau cánh tay trái. Chị Nguyễn Thị N từ ngoài vào thấy vậy liền giữ Nguyễn Văn Đ, nhưng Nguyễn Văn Đ đã đẩy chị N ra để đuổi theo chị Đinh Thị T2 rồi vung dao chém một nhát vào vùng lưng bên phải, một nhát vào vùng cột sống thắt lưng; chị T2 tiếp tục chạy được khoảng 15m thì bị ngã, Nguyễn Văn Đ đuổi kịp đâm tiếp nhiều nhát vào vùng sau tai trái, vùng cổ; khi thấy chị T2 nằm bất tỉnh, Nguyễn Văn Đ mới dừng lại rồi điều khiển xe máy đến Công an xã V, huyện B để đầu thú.

Tại Bản kết luận giám định tử thi số 678/KLGĐTT-PC09, ngày 19/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Trên cơ thể chị Đinh Thị T2 có 14 vết thương rách da cơ bờ mép sắc gọn tại vùng cổ, ngực, lưng, hai tay và chân bên trái. Chảy máu, tụ máu dưới da, cơ. Đứt rách mó mạch thần kinh, động mạch cảnh bên trái, đứt 1/3 mặt trước bên trái cột sống C1. Đứt khí quản tại bờ trên sụn giáp. Nguyên nhân chết: Mất máu cấp không hồi phục do vết thương động mạch cảnh bên trái.

Với nội dung trên tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 63/2023/HS-ST ngày 31/8/2023, của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 39; Điều 50; Điều 48 Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Giết người”; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ tù chung thân; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt 09/6/2023.

Ngoài ra Bản án còn buộc trách nhiệm bồi thường dân sự, xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08/9/2023 bị cáo Nguyễn Văn Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo giữ nguyên kháng cáo.

Bị cáo trình bày: Bản án sơ thẩm quy kết bị cáo về tội “Giết người” là đúng, nhưng với mức hình phạt tù chung thân là quá cao. Bởi vì, trong vụ án này nguyên nhân xuất phát từ việc chị T2 đến nhà bị cáo quậy phá, thách thức làm bị cáo bức xúc nên bị cáo mới dùng dao đâm bị hại làm bị hại chết; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm: Sau khi phân tích đánh giá chứng cứ, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát cho rằng, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử quy kết đối với bị cáo về tội “Giết người” và xử phạt bị cáo mức án tù chung thân là có căn cứ, không cao; tại cấp phúc thẩm không có thêm tình tiết gì mới làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Đ trình bày: Về tội danh không có ý kiến gì; cơ bản giữ nguyên quan điểm đã thể hiện tại phiên tòa sơ thẩm; trong vụ án này bị hại là người có lỗi, mặc dù Đ đã hứa trả nợ cho chị T2 nhưng chị T2 vẫn đến nhà Đ để lấy thuốc lá cho vào bao là vi phạm pháp luật; chị T2 đã đánh và xô xát với Nguyễn Văn Đ trước dẫn đến Đàm bức xúc mới chém bị hại. Do đó, bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo mức hình phạt tù chung thân là quá cao; bị cáo có trình độ hiểu biết pháp luật kém do bị cáo là người dân tộc thiểu số, thuộc hộ nghèo, hiện còn mẹ già nên đề nghị Hội đồng áp dụng điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo xuống mức từ 18 đến 20 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như bản án sơ thẩm đã mô tả và quy kết. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với lời khai người làm chứng, các chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Đặc biệt là các kết luận giám định. Vì vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Xuất phát từ việc Nguyễn Văn Đ nợ tiền chị Đinh Thị T2, khoảng 13 giờ 30 ngày 09/6/2023 khi chị T2 đến nhà Nguyễn Văn Đ mục đích lấy thuốc lá để trừ nợ, dẫn đến giữa hai bên đã xẩy ra mâu thuẫn, chị Đinh Thị T2 thách thức, Nguyễn Văn Đ đã dùng con dao nhọn đâm, chém nhiều nhát vào người của chị Đinh Thị T2, làm chị Đinh Thị T2 tử vong tại chỗ. Hành vi đó của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người”. Tội phạm được quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự.

[2] Xét hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Đ là đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội; xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhặt, vô cớ nhưng bị cáo Đ sẵn sàng dùng đao chém nhiều nhát vào những vùng trọng yếu trên cơ thể của chị T2. Hành vi đó của bị cáo thể hiện tính côn đồ, hung hãn, coi thường pháp luật, coi thường tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, trực tiếp tước đoạt tính mạng của người bị hại. Vì vậy, cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo về tội “Giết người” theo Điều 123 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung tăng nặng có tính chất côn đồ quy định tại điểm n khoản 1 là có căn cứ.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo; đã xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, như: Sau khi sự việc xẩy ra bị cáo đã chủ động đến Cơ quan Công an đầu thú; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ được Chủ tịch UBND tỉnh L tặng bằng khen vì đã có thành tích tham gia kháng chiến chống Mỹ; trong vụ án này phía bị hại cũng có một phần lỗi. Tuy nhiên, hành vi của bị cáo thể hiện quyết liệt, khi được vợ bị cáo là chị Nguyễn Thị N can ngăn và bị hại Đinh Thị T2 đã bỏ chạy, nhưng bị cáo vẫn không buông tha mà tiếp tục truy đuổi và tấn công quyết liệt, đến khi bị hại nằm bất tỉnh bị cáo mới dừng lại; hành vi của bị cáo thuộc trường hợp cố tình thực hiện tội phạm đến cùng, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, bị cáo có nhân thân xấu. Do đó, mức hình phạt tù chung thân như bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp, không cao. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không có thêm tình tiết nào có ý nghĩa làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt, nên không có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi đánh giá tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo đã đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên mức hình phạt như Bản án sơ thẩm là có căn cứ. Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo không có căn cứ để chấp nhận.

[4] Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 63/2023/HS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn;

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 39; Điều 50; Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Giết người”; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ tù chung thân, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt (09/6/2023).

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án số 63/2023/HS-ST ngày 31/8/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

158
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội giết người số 36/2024/HS-PT

Số hiệu:36/2024/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 12/01/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về