Bản án về tội giết người số 33/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

BẢN ÁN 33/2024/HS-ST NGÀY 19/06/2024 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Ngày 19 tháng 6 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử Hình sự - Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh P; Xét xử trực tuyến, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2024/TL-HSST ngày 15 tháng 5 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 109/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Văn Q; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 24/10/1978 tại thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu N, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Đoàn thể đảng phái: Không; Con ông Trần Đình C (đã chết); con bà Trần Thị Đ, sinh năm 1958, trú tại: xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Vợ là Phí Thị N (đã ly hôn); Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2009; Anh chị em ruột, gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất;

- Tiền án, tiền sự: Không - Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/11/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P - Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn Q: Ông Chu Văn Q1 - Luật sư thuộc Công ty L1, Đoàn Luật sư tỉnh P. Địa chỉ: Số nhà A, đường Â, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ - Vắng mặt - Luật sư có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và bài bào chữa cho bị cáo gửi đến Tòa án.

2. Họ và tên: Lê Thanh T; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 02/02/1984 tại thị xã P, tỉnh Phú Thọ;Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu N, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Đoàn thể đảng phái: Không; Con ông Lê Huy C1, sinh năm 1957; con bà Hà Thị X, sinh năm 1958, đều trú tại: xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Tùy G, sinh năm 1985; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2018; Anh chị em ruột: Bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất;

- Tiền án, tiền sự: không - Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/11/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P - Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Thanh T: Ông Lê Văn C2 - Luật sư thuộc Công ty L2 - Đoàn Luật sư tỉnh P;

Địa chỉ: Số nhà B, đường H, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ - Có mặt.

- Bị hại: Ông Trần Quang T1, sinh năm 1962, địa chỉ: Khu H, thị xã P - Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Trần Ngọc Q2, sinh năm 1987, - Có mặt. Địa chỉ: Khu Hùng Thao, xã Hà Thạch, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ

2. Chị Nguyễn Thị Tùy G, sinh năm 1985, - Có mặt. Địa chỉ: khu Ngũ Phúc, xã Hà Thạch, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ

3. Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1958, - Có mặt. Địa chỉ: khu Ngũ Phúc, xã Hà Thạch, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ

4. Ông Trần Gia C3, sinh năm 1967, - Vắng mặt. Địa chỉ: khu Ngũ Phúc, xã Hà Thạch, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ

5. Ông Lê Huy C1, sinh năm 1957, - Vắng mặt. Địa chỉ: khu N, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Thanh T cho anh Trần Ngọc Q2 (Anh Q2 là con ông T1) vay số tiền 30.000.000 đồng với lãi suất 3000 đồng/1 triệu/1 ngày, Thời hạn vay từ ngày 09/7/2023 đến tháng 12 dương lịch năm 2023 thì anh Q2 phải trả hết cả tiền gốc và tiền lãi, việc T cho anh Q2 vay tiền có Trần Văn Q biết; Đến ngày 25/9/2023, T cho anh Q2 số tài khoản 1078669xxxxx Ngân hàng V1 của chị Nguyễn Thị Tùy G là vợ T để anh Q2 chuyển trả số tiền lãi là 5.000.000 đồng cho T vào số tài khoản trên. Sau đó T hỏi chị G thấy anh Q2 chuyển tiền chưa và bảo là tiền Q2 trả nợ, còn việc T và anh Q2 vay tiền thỏa thuận ra sao chị G không biết. Ngoài số tiền trả lãi trên anh Q2 không trả thêm khoản tiền lãi nào khác nên T nhiều lần gọi điện và tìm gặp Q2 nhưng không gặp được.

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 04/11/2023, T mời Trần Văn Q, anh Trần Đức T2, ông Lê Văn C4 đến nhà T ăn cơm, uống rượu, trong lúc ngồi ăn, Q hỏi T về việc Q2 đã trả tiền cho T chưa thì T kể lại việc đã nhiều lần gọi điện và tìm gặp Q2 để đòi tiền nhưng không được. Nghe vậy, Q rủ T đến nhà anh Q2 để đòi số tiền nợ trên, T đồng ý. Sau đó đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, Q lấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner, màu đen biển số: 19M1-xxxxx của mình chở T đi đến nhà anh Q2 để đòi tiền. Khi đến nơi chỉ có ông Trần Quang T1 là bố đẻ anh Q2 ở nhà; T hỏi ông T1: “Thằng Q2 đâu?”, ông T1 trả lời: “Q2 không có nhà”. Do không gặp được anh Q2 nên T và Q đi về, trên đường về T rủ Q đi uống rượu tiếp. Đồng thời lấy điện thoại di động gọi cho anh T2 đến nhà anh Trần Nguyễn K ở xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ để uống rượu. Quá trình uống rượu tại nhà K đến khoảng 20 giờ 40 phút ngày 04/11/2023 thì T, Q, T2 ra về; Trên đường về T điều khiển xe mô tô chở Q đi trước và bảo về nhà ông T1 xem anh Q2 về chưa, còn anh T2 điều khiển xe mô tô một mình đi theo phía sau. Khi đến nhà ông T1 chưa thấy anh Q2 về nhà nên T dọa sẽ ném chất bẩn vào nhà ông T1, thì ông T1 nói không được ném chất bẩn vào nhà ông T1 và giữa ông T1 với T, Q xảy ra to tiếng với nhau. Sau đó T, Q, T2 đi về; Trên đường về, Q và T bực tức vì không tìm gặp được anh Q2 để đòi nợ nên Q bảo T về nhà lấy khẩu súng hơi dài 115cm, nòng súng màu đen dài 53cm, trên thân có in ký hiệu V122567, báng súng bằng gỗ màu nâu, bản rộng nhất 13cm; Khẩu súng hơi trên Q có biết là do T đã mượn của Trần Gia C3, ở khu N, xã H thị xã P, tỉnh Phú Thọ trước đó khoảng hai tháng để về đi bắn chim và đang cất giấu tại nhà T. Nghe Q nói vậy, T đồng ý. Lúc về đến sân nhà T, Q nói to: “Thái đâu, đưa khẩu súng đây cho bác” thì được cháu Lê Quốc T3 là con trai của T lấy khẩu súng ở trong nhà ra hè đưa cho Q, Q cầm súng và lấy đạn ở lọ nhựa để tại hè đúc vào túi quần đang mặc. Q ngồi ở hè nói với T về việc sẽ đến nhà anh Q2 và sử dụng khẩu súng hơi để đe dọa hoặc bắn vào người nhà anh Q2 để đòi nợ. Khi đó anh T2 về đến nhà T thì thấy Q và T mang súng đi, nhưng anh T2 không biết việc Q và T bàn bạc về nhà lấy súng đi đến nhà ông T1 để dọa, đòi tiền. Q bảo T lấy xô phân để đổ vào nhà ông T1, do không tìm được xô phân nên T đã lấy túi nilon màu xanh đựng dầu luyn cải ở giá đèo hàng phía trước của xe mô tô biển số: 19M1- xxxxx của Q. Sau đó, T điều khiển xe mô tô trên chở Q ngồi phía sau cầm theo khẩu súng hơi đến nhà ông T1, còn anh T2 lên xe máy đi về nhà. Lúc đến nhà ông T1 thì T dựng xe ở chỗ ngõ gần cổng nhà ông T1, rồi Q đi trước, T cầm túi nilon đựng dầu luyn đi sau vào nhà ông T1. Khi đi vào qua cổng sắt nhà ông T1 thì Q dùng tay gập nòng súng nạp đạn vào ổ đạn rồi cầm súng đi vào sân nhà ông T1. Khi vào đến sân giáp hè, Q thấy ông T1 đang ngồi trong bộ bàn ghế uống nước trong phòng khách, T lúc này cầm túi dầu luyn ném vào trong nhà ông T1 làm dầu luyn đổ ra nền nhà còn Q bảo “Thằng Q2 đâu, gọi nó về trả tiền” thì ông T1 nói “nó không có nhà, điện thoại nó không nghe” và đứng dậy đi ra cửa phòng khách tiếp giáp gian buồng, ông T1 đứng ở góc nhà ngay cạnh cửa phòng khách ra vào tiếp giáp với cửa buồng. Lúc này, Q đi lên hè đứng ở giữa cửa và đứng đối diện ông T1 cầm súng hướng nòng súng vào ngực ông T1 với khoảng cách 60 cm rồi bóp cò súng “phạch” một cái. Viên đạn bắn xuyên qua lớp áo cộc tay ông T1 đang mặc và trúng vào thành trước ngực vị trí trên mũi ức khoảng 5cm, găm vào xương ức nên ông T1 chỉ bị đau nhói, tức ở ngực. Lúc đó, T đứng sau cầm 01 chiếc ghế bằng kim loại ở sân nhà ông T1 đứng sau Q cầm giơ lên ném vào đầu ông T1 nhưng ông T1 né tránh được nên không bị thương tích gì. Rồi ông T1 đi ra hè ngay trước cửa chỗ gần cột nhà ở hè thì Q và T lùi ra ngoài hè đứng ở bậc hè. Q bẻ gập nòng súng lấy đạn cho vào ổ đạn nhưng viên đạn trượt rơi ra ngoài rồi tiếp tục cầm súng giơ nòng súng hướng vào ngang đầu ông T1 (cách khoảng 40cm) và nói “Mày quỳ xuống đây” ông T1 nói “Tôi không quỳ”, Q bảo “Mày nôn tiền ra trả cho tao”, ông T1 bảo không có tiền và không biết Q và T là ai thì Q lại bảo ông T1 gọi anh Q2 về, ông T1 bảo gọi Q2 không nghe máy rồi dùng tay trái gạt nòng súng ra phía sau. Thấy vậy, Q tiếp tục quay nòng súng hướng vào ngang đầu ông T1 lần nữa bóp cò “phạch” thì ông T1 lại dùng tay trái gạt ra và bảo “Bỏ súng xuống, không được chĩa súng vào người tôi”. Thì Q nói “Tao bắn chết mày, để ngày mai con mày về làm ma cho mày” rồi Q bước xuống sân ngay tiếp giáp bậc hè bẻ gập nòng súng lấy đạn trong túi quần ra cho đạn vào ổ đạn rồi giơ nòng súng hướng lên mái tôn ở sân bóp cò “phạch” một cái bắn lên mái tôn. Sau đó, T và Q ra lấy xe đi về. Trên đường về, Q đã làm rơi hết số đạn ở trong túi quần, lúc về đến nhà T thì Q để khẩu súng hơi ở hè nhà và T bảo cháu T3 cầm khẩu súng hơi mang lên nhà ông Lê Huy C1, trú tại khu N, xã H, thị xã P là bố đẻ T cất giấu. Còn ông Trần Quang T1 sau khi Q và T về, ông T1 bị đau tức ngực và chảy máu nên đã đến Bệnh viện đa khoa thị xã P phẫu thuật, điều trị.

Sau khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P tiến hành các hoạt động xác minh, điều tra theo quy định.

Ngày 05/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P ra Quyết định trưng cầu giám định số 162/QĐ-CSDT(ĐTTH) trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh P giám định tổn hại sức khoẻ của ông Trần Quang T1. Cùng ngày, Trung tâm Pháp y tỉnh P có Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 211/KLTTCT/TTPY kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể ông Trần Quang T1 là 09 % (chín phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích: “Vết thương chính giữa vết thương thành trước ngực, gây lún xương ức do kim khí (nhiều khả năng do đạn súng hơi bắn)”.

Ngày 08/11/2023, Cơ quan CSĐT Cơ quan CSĐT Công an thị xã P ra Quyết định trưng cầu giám định số 165/QĐ-CSDT(ĐTTH) trưng cầu Viện Khoa học hình sự Bộ Công an giám định súng, đạn. Ngày 16/11/2023, Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an có Kết luận giám định số 8216/KL-KTHS kết luận:

- Khẩu súng gửi giám định là súng hơi bắn đạn chì cỡ 4,5mm, thuộc súng săn. Hiện tại khẩu súng trên còn sử dụng để bắn được.

- 02 mẫu kim loại gửi giám định là đạn chì hình nấm cỡ 4,5mm, thuộc súng săn.

+ Viên đạn hình nấm do Lê Mạnh H giao nộp gửi giám định là do khẩu súng gửi giám định bắn ra.

+ Viên đạn hình nấm thu tại hiện trường gửi giám định không có dấu vết do súng bắn để lại.

Ngày 26/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 565/QĐ-VPCQCĐT trưng cầu Viện Khoa học hình sự Bộ Công an. Ngày 21/3/2024, Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an có Kết luận giám định số 1378/KL-KTHS kết luận: “Khi sử dụng khẩu súng hơi bắn đạn chì cỡ 4,5mm gửi giám định bắn vào cơ thể người ở khoảng cách 60cm gây chết hoặc bị thương”.

Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu - Ngày 05/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã khám nghiệm hiện trường thu giữ và niêm phong một số các đồ vật, tài liệu sau:

+ 01(một) túi nilon màu xanh, có chứa nhiều chất bẩn màu đen.

+ 01 đầu đạn hình nấm cỡ 4,5mm.

+ 01 ống kim loại - Ngày 05/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P tạm giữ: 01 mảnh kim loại, hình nấm, màu xám, mặt ngoài bám dính chất dịch màu nâu đỏ (dạng mô cơ tế bào), kích thước dài 0,6cm, đầu hình tròn, đường kính 0,4cm do Lê Mạnh H giao nộp;

Tạm giữ 01 thẻ nhớ tại gia đình bị can Lê Thanh T trong quá trình khám xét và được khai thác trong quá trình điều tra:

- 01 (một) chiếc thẻ nhớ, trên thẻ có in chữ Micro SD 32GB HIK VISION, đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì giấy và được dán kín. Tại mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia và được đóng dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P, mặt trước của bì niêm phong ghi chữ “Thẻ nhớ nhà T”.

Tạm giữ của ông Trần Quang T1:

- 01 (một) áo phông cộc tay, không có cổ, màu trắng, mặt trước in biểu tượng và chữ “VOGUE” màu vàng, cổ áo gắn mác in chữ “CH SE NEWDESIGN”; kích thước áo: thân dài 64cm, cạp áo rộng 46cm. Tại vị trí trước ngực có 01 lỗ rách thủng hình tròn kích thước 0,5cm, xung quanh bám dính chất bẩn màu đen, áo đã qua sử dụng.

Tạm giữ của bị cáo Trần Văn Q:

- 01(một) xe mô tô, nhãn hiệu HONDA WINNER, màu đen, không lắp gương chiếu hậu, số máy KC34E5112243; số khung RLHKC4403PY006114, biển số 19M1-xxxxx, đã qua sử dụng.

- 01 (một) chiếc điện thoại di động dạng máy gập nhãn hiệu “Nokia 2720 Flip” màu đen, có số IMEI1: 352713076851163/OC; số IMEI2: 352713076851148/OC. Điện thoại không lắp sim (máy cũ đã qua sử dụng).

Tạm giữ của bị cáo Lê Thanh T:

- 01 (một) khẩu súng dài 115cm, trên súng có chữ: “CAL 4,5mm V122567”, nòng súng dài 53cm, đường kính ổ chứa đạn 4,5mm, bên ngoài dán giấy niêm phong có đóng dấu đỏ của của Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an kèm chữ ký, họ tên của những người tham gia niêm phong.

- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu đen, có số IMEI1: 350013883509894; số IMEI2: 352270633509891, lắp sim số: 0352 413 xxx. Máy cũ đã qua sử dụng.

Quá trình điều tra, Trần Văn Q, Lê Thanh T đã khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên. Lời khai của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ.

Về động cơ, mục đích: Do bị cáo Trần Văn Q, Lê Thanh T đã không làm chủ bản thân, bực tức về việc đến nhà Q2 đòi tiền nhưng không được và không gặp được Q2 nên T và Q đã bàn bạc thống nhất về nhà lấy khẩu súng hơi ở nhà T mang đến nhà Q2 yêu cầu ông T1 là bố anh Q2 trả tiền, ông T1 không có tiền trả nên Q đã dùng súng bắn ông T1 vào vùng ngực, dẫn đến việc ông T1 bị thương phải phẫu thuật, điều trị, ông T1 bị tổn thương cơ thể là 09% (chín phần trăm).

Về tính chất, mức độ do hành vi phạm tội gây ra: Hành vi sử dụng hung khí nguy hiểm là 01 khẩu súng hơi dài 115cm, bắn đạn chì cỡ 4,5mmm, nòng súng màu đen dài 53cm, trên thân có in ký hiệu V122567, báng súng bằng gỗ màu nâu, bản rộng nhất 13cm để bắn vào vùng ngực (là vùng hiểm yếu trên cơ thể) của ông T1 dẫn đến ông T1 bị tổn thương cơ thể là 9% của Trần Văn Q, Lê Thanh T đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.

Về bồi thường dân sự: Sau khi xảy ra vụ án, gia đình bị cáo Lê Thanh T đã tự nguyện bồi thường cho ông Trần Quang T1 số tiền là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng); gia đình bị cáo Trần Văn Q đã tự nguyện bồi thường cho ông Trần Quang T1 số tiền là 25.480.000đ (Hai mươi lăm triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng). Ông T1 đã nhận tiền và không yêu cầu bồi thường thêm khoản nào khác.

Đối với số tiền 30.000.000 đồng anh Trần Ngọc Q2 vay của Lê Thanh T vào ngày 09/7/2023, đến ngày 09/3/2024 anh Q2 đã trả cho T, chị Nguyễn Thị Tùy G là vợ T đã nhận thay T, được T đã thừa nhận.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo và gia đình các bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại ông Trần Quang T1 tổng số tiền là 55.480.000đ; bị hại ông T1 đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình Sự;

- Bị cáo Trần Văn Q có ông ngoại là Trần Văn V là người có công với cách mạng, được Ủy ban nhân dân tỉnh P truy tặng Bằng khen kháng chiến nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Bị cáo Lê Thanh T có bố vợ là ông Nguyễn Phương L là người có công với cách mạng được nhà nước được trao tặng Huân chương kháng chiến hạng ba nên bị can được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Gia đình bị cáo Trần Văn Q thuộc diện được cơ quan có thẩm quyền công nhận hộ nghèo.

Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội và thể hiện thái độ ăn năn hối cải và rất ân hận về việc dùng súng bắn ông T1, bị cáo Q, bị cáo T trình bày lời xin lỗi bị hại, được ông T1 chấp nhận và tha thứ cho các bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo Q xin nhận lại: 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu HONDA WINNER, màu đen, biển số 19M1-xxxxx; 01 (một) chiếc điện thoại di động dạng máy gập nhãn hiệu “Nokia 2720 Flip” màu đen, Tại phiên tòa bị cáo T xin nhận lại: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu đen, lắp sim số: 0352 413 xxx; Ngoài ra bị cáo T còn trình bày không yêu cầu gì về khẩu súng hơi và 01 thẻ nhớ, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo pháp luật.

Tại phiên tòa, bị hại ông Trần Quang T1 trình bày: Ông đã được Lê Thanh T bồi thường số tiền là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng); gia đình bị cáo Trần Văn Q đã bồi thường số tiền 25.480.000đ (Hai mươi lăm triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng), nay ông không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường khoản tiền nào nữa và ông T1 còn trình bày ông đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Q và T, hôm nay ông vẫn đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo vì các bị cáo bồng bột mà phạm tội; Ông T1 còn trình bày về chiếc áo phông của ông mà cơ quan điều tra thu giữ nay ông không xin nhận lại.

Tại phiên tòa những người liên quan có mặt, trong đó có người liên quan thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho ông T1 thay bị cáo đều trình bày không yêu cầu gì về quyền lợi, người liên quan đến vật chứng của vụ án là khẩu súng mà các bị cáo sử dụng để gây án cũng không yêu cầu gì về quyền lợi và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết khẩu súng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa những người liên quan vắng mặt đều đã trình bày trong hồ sơ vụ án có nội dung không ai yêu cầu gì về quyền lợi.

Tại bản cáo trạng số: 38/CT-VKSPT-P2 ngày 13/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tố các bị cáo Trần Văn Q và Lê Thanh T về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ vẫn giữ quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Trần Văn Q và Lê Thanh T phạm tội “Giết người”. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 57; điều 54; điều 58; điều 38 Bộ luật Hình Sự đối với các bị cáo Trần Văn Q và Lê Thanh T.

Xử phạt bị cáo Trần Văn Q từ 11 đến 12 năm tù. Xử phạt bị cáo Lê Thanh T từ 08 đến 09 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử:

Tịch thu để tiêu hủy:

- 01(một) túi nilon màu xanh, có chứa nhiều chất bẩn màu đen;

- 01 đầu đạn hình nấm cỡ 4,5mm;

- 01 ống kim loại;

- 01 mảnh kim loại, hình nấm, màu xám, mặt ngoài bám dính chất dịch màu nâu đỏ (dạng mô cơ tế bào), kích thước dài 0,6cm, đầu hình tròn, đường kính 0,4cm do Lê Mạnh H giao nộp;

- 01 (một) khẩu súng dài 115cm, trên súng có chữ: “CAL 4,5mm V122567”, nòng súng dài 53cm, đường kính ổ chứa đạn 4,5mm, bên ngoài dán giấy niêm phong có đóng dấu đỏ của của Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an kèm chữ ký, họ tên của những người tham gia niêm phong;

- 01 (một) áo phông cộc tay, không có cổ, màu trắng, mặt trước in biểu tượng và chữ “VOGUE” màu vàng, cổ áo gắn mác in chữ “CH SE NEWDESIGN”; kích thước áo: thân dài 64cm, cạp áo rộng 46cm. Tại vị trí trước ngực có 01 lỗ rách thủng hình tròn kích thước 0,5cm, xung quanh bám dính chất bẩn màu đen, áo đã qua sử dụng.

Tịch thu lưu hồ sơ vụ án đối với bị cáo Lê Thanh T:

- 01 thẻ nhớ, trên thẻ có in chữ Micro SD 32GB HIK VISION, đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì giấy và được dán kín. Tại mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia và được đóng dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P, mặt trước của bì niêm phong ghi chữ “Thẻ nhớ nhà T”.

Trả lại cho bị cáo Trần Văn Q:

- 01(một) xe mô tô, nhãn hiệu HONDA WINNER, màu đen, không lắp gương chiếu hậu, số máy KC34E5112243; số khung RLHKC4403PY006114, biển số 19M1-xxxxx, đã qua sử dụng.

- 01 (một) chiếc điện thoại di động dạng máy gập nhãn hiệu “Nokia 2720 Flip” màu đen, có số IMEI1: 352713076851163/OC; số IMEI2: 352713076851148/OC. Điện thoại không lắp sim (máy cũ đã qua sử dụng) Trả lại cho bị cáo Lê Thanh T:

- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu đen, có số IMEI1: 350013883509894; số IMEI2: 352270633509891, lắp sim số: 0352 413 xxx. Máy cũ đã qua sử dụng.

Các vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng đến Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Phú Thọ ngày 20 tháng 5 năm 2024.

Về trách nhiệm dân sự; Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 584; Điều 590 của Bộ luật Dân sự; Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bị cáo Trần Văn Q, Lê Thanh T và bị hại ông Trần Quang T1, cụ thể Lê Thanh T đã tự nguyện bồi thường được cho ông Trần Quang T1 tổng số tiền là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng); gia đình bị cáo Trần Văn Q đã tự nguyện bồi thường cho ông Trần Quang T1 tổng số tiền là 25.480.000đ (Hai mươi lăm triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng).

Về án phí đề nghị Hội đồng xét xử: Buộc bị cáo Lê Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Văn Q.

Quan điểm của các Luật sư bào chữa cho các bị cáo: Về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt chính, hình phạt bổ sung và xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự các luật sư nhất trí với quan điểm của Kiểm sát viên; Các Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất để các bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.

Các bị cáo Trần Văn Q và Lê Thanh T nhất trí ý kiến bào chữa của các luật sư, các bị cáo không bổ sung thêm nội dung nào khác và không có ý kiến gì tranh luận.

Bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa không ai có ý kiến gì tranh luận.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo trình bày đều có nội dung rất ân hận về hành vi phạm tội của bản thân, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1. Về Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát, của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Giám định viên trong quá trình điều tra vụ án, truy tố đối với bị cáo đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật sư bào chữa cho các bị cáo đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

2. Về căn cứ buộc tội: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, phù hợp với thời gian địa điểm nơi xảy ra vụ án, phù hợp với các vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo T, bị cáo Q đã không kiềm chế trong mâu thuẫn cá nhân với anh Q2 và ông T1 nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể như sau:

Do mâu thuẫn với anh Q2 con ông T1 trong việc vay nợ tiền, T đã cùng Q đến nhà ông T1 đòi nợ nhiều lần và đã xảy ra việc các bị cáo chửi, đe dọa ông T1 nhưng vẫn không đòi được tiền, T và Q đã bàn bạc thống nhất về nhà lấy khẩu súng hơi ở nhà T, Q còn bảo T lấy xô phân đổ vào nhà ông T1 do không có phân nên T lấy dầu luyn đựng vào túi ni lon. Khoảng 21 giờ ngày 04/11/2023, T là người lái xe mô tô chở Q ngồi phía sau cầm theo súng hơi dài 115cm, bắn đạn chì cỡ 4,5mm, nòng súng màu đen dài 53cm, trên thân có in ký hiệu V122567, báng súng bằng gỗ màu nâu, bản rộng nhất 13cm cùng túi dầu luyn treo ở xe mô tô đi đến nhà Q2 yêu cầu ông T1 là bố anh Q2 trả tiền, ông T1 không có tiền trả nên T cầm túi dầu luyn ném vào trong nhà ông T1 làm dầu luyn đổ ra nền nhà, còn Q cầm khẩu súng hơi chĩa nòng súng và bắn trúng vào vùng ngực ông T1, T cầm 01 chiếc ghế sắt ở sân nhà ông T1 ném về phía ông T1 nhưng không trúng, sau đó Q tiếp tục nạp đạn và chĩa súng vào vùng đầu ông T1 để bắn nhưng do khi nạp đạn, viên đạn đã bị rơi xuống đất nên khi bóp cò để bắn thì do súng không có đạn nên ông T1 không bị thương tích ở vùng đầu, Q còn tiếp tục nạp đạn và bắn một phát lên phía mái tôn sân nhà ông T1; sau khi bị bắn vào ngực ông T1 phải đi bệnh viện phẫu thuật, điều trị, ông T1 bị tổn thương cơ thể là 09% (chín phần trăm).

Hành vi của Trần Văn Q và Lê Thanh T mà người trực tiếp là Trần Văn Q đã dùng súng hơi bắn vào vùng trọng yếu trên cơ thể của ông T1 gây thương tích nêu trên có nguy cơ tử vong cao. Do vậy hành vi của các bị cáo đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Giết người” thuộc trường hợp “có tính chất côn đồ”.

Bị cáo Trần Văn Q là người khởi xướng việc dùng súng để đi đòi nợ và T đồng ý ngay, điều đó thể hiện khi Q sai con của T vào lấy súng đưa cho bác, T nghe rõ mà không ngăn cản, bị cáo T đã giúp sức tích cực, T chuẩn bị chất bẩn là dầu luyn ném vào nhà ông T1, sau khi Q bắn ông T1, T dùng ghế sắt ném vào người ông T1, quá trình Q và T thực hiện hành vi bắn ông T1, Q còn tuyên bố “Tao bắn chết mày để ngày mai con mày về làm ma cho mày”; Do vậy bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm với Q về tội “Giết người” thuộc trường hợp “có tính chất côn đồ”.

Do đó, hành vi của các bị cáo Trần Văn Q và Lê Thanh T đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự và thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Do vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

3. Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng; Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, hành vi đó là gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ, hành vi đó đã gây mất trật tự trị an, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, vì vậy hành vi phạm tội của các bị cáo phải được xử lý nghiêm để giáo dục các bị cáo và làm gương cho người khác.

4. Về động cơ, mục đích, nguyên nhân, điều kiện dẫn đến phạm tội của các bị cáo: Với mâu thuẫn về việc vay nợ giữa con ông T1 với bị cáo T mà T và Q đã bàn bạc dùng súng để đến nhà ông T1 đòi nợ, do ông T1 không có tiền trả nợ thay anh Q2 nên các bị cáo đã dùng súng bắn ông T1, các bị cáo biết việc làm đó là trái pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

5. Về nhân thân của bị cáo: Trước khi phạm tội các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, nhưng các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý về một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, do đó các bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi mà từng bị cáo đã thực hiện.

6. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Lần phạm tội này các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; Người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Bị cáo Q có ông ngoại là Trần Văn V là người có công được Ủy ban nhân dân tỉnh P truy tặng Bằng khen kháng chiến; Bị cáo T có bố vợ là Nguyễn Phương L là người có công được nhà nước tặng Huân chương chiến công hạng ba; Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Kiểm sát viên đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo; Lời đề nghị của các Luật sư bào chữa, đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và mức hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, vai trò của từng bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, đó là: Các bị cáo đều được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự và đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng bị cáo Q là người khởi xướng về việc lấy súng đem đến nhà ông T1 để đòi nợ, khởi xướng về việc dùng chất bẩn ném vào nhà ông T1 để uy hiếp và Q trực tiếp bắn ông T1 một phát trúng ngực gây tổn thương cơ thể thiệt hại 9% sức khỏe và một phát Q bắn vào đầu ông T1 nhưng do Q nạp đạn không được nên không gây ra thương tích; Còn T là người giúp sức sau khi tiếp nhận ý chí của Q về việc dùng súng đi đòi nợ T đã đồng ý ngay, T còn trực tiếp chuẩn bị chất bẩn để ném vào nhà ông T1, sau khi Q bắn ông T1 lần thứ nhất T dùng ghế sắt ném vào người ông T1. Như vậy bị cáo Q có vai trò chính trong việc thực hiện hành vi phạm tội nên Q phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo T. Tuy nhiên các bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích nêu trên, nên được áp dụng điều 57 Bộ luật Hình sự quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt và áp dụng điều 54 Bộ luật Hình sự quy định về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nên Hội đồng xét xử xem xét buộc các bị cáo phải chịu mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ để giáo dục các bị cáo trở thành người tốt;

Trên cơ sở thể hiện sự nghiêm minh cũng như thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian theo quy định tại khung hình phạt, để các bị cáo có thời gian cải tạo, tu dưỡng trở thành người tốt; Mức hình phạt mà Kiểm sát viên tại phiên tòa, Các Luật sư bào chữa cho các bị cáo tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.

7. Về hình phạt bổ sung: Kiểm sát viên tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.

8. Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị như đã nêu trên là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận;

9. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Văn Q vì gia đình bị cáo Q thuộc diện hộ nghèo và tại phiên tòa bị cáo Q trình bày xin được miễn án phí.

10. Trong vụ án này còn có những người liên quan đến sự việc:

- Đối với anh Q2 vay số tiền 30.000.000 đồng của bị cáo T, T thu lãi suất 3000 đồng/1 triệu/1 ngày, đã thu lãi được số tiền 5.000.000đ; T có hành vi tàng trữ trái phép, sử dụng súng hơi (súng săn) nhưng chưa cấu thành tội theo quy định tại Điều 201 và Điều 306 Bộ luật hình sự; Công an tỉnh P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 360 đối với Lê Thanh T về hành vi: “Không đăng ký ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự mà cho vay tiền không cầm cố tài sản nhưng lãi suất cho vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự”; “Ném chất thải vào nhà ở của người khác”; “Tàng trữ, sử dụng súng săn” là phù hợp được chấp nhận.

- Đối với hành vi sử dụng súng hơi (súng săn) của Trần Văn Q chưa đủ yếu tố cấu thành tội theo quy định tại Điều 306 Bộ luật hình sự; Công an tỉnh P đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 359 đối với Trần Văn Q về hành vi “Sử dụng súng săn” là phù hợp được chấp nhận.

- Đối với cháu Lê Quang T4 là con của bị cáo T cầm súng đưa cho Q nhưng cháu T4 không biết việc vay tiền cũng như việc đòi nợ của T và Q với gia đình anh Q2, cháu T4 không biết mục đích Q bảo đưa khẩu súng hơi cho Q để đi đâu làm gì, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ được chấp nhận.

- Đối với Trần Văn C5, năm 2008 cho Trần Minh T5 là cháu gửi tại nhà ông C5 01 khẩu súng hơi dài 115cm, trên súng có chữ: “CAL 4,5mm V122567”, nòng súng dài 53cm báng súng bằng gỗ màu nâu, bản rộng nhất 13cm; Năm 2010, ông T5 chết, ông C5 không đem giao, nộp cho chính quyền địa phương mà đem cất giấu trên trần nhà ở của mình. Đến khoảng tháng 10/2023, C5 đã cho Lê Thanh T mượn khẩu súng trên về để đi bắn chim và xảy ra sự việc trên C3 không biết, không được bàn bạc gì. Do vậy, Trần Văn C5 không đồng phạm với Trần Văn Q, Lê Thanh T nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ. Hành vi tàng trữ súng săn của C3 chưa đủ yếu tố cấu thành quy định tại Điều 306 Bộ luật hình sự; Công an tỉnh P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Gia C3 về hành vi “Tàng trữ súng săn” là phù hợp được chấp nhận.

- Đối với anh Trần Đức T2 và ông Lê Văn C4 đến nhà Lê Thanh T ăn cơm, uống rượu nhưng không tham gia, bàn bạc gì hoặc biết việc T và Q sử dụng súng hơi để đi đòi nợ tại nhà ông T4 nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp được chấp nhận.

- Đối với ông Trần Minh T5 là chủ nhân của khẩu súng hơi không có giấy phép sử dụng súng. Do ông T5 đã chết nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp được chấp nhận.

- Đối với chị Nguyễn Thị Tùy G là vợ của bị can Lê Thanh T, chị G không biết, không liên quan gì đến việc T cho Q2 vay lãi nặng nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp được chấp nhận.

- Đối với ông Lê Huy C1 là bố đẻ bị cáo Lê Thanh T, việc T mang súng lên nhà ông C1 cất giấu ở đâu, như thế nào thì ông C1 không biết nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 57; điều 54; điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình Sự đối với bị cáo Trần Văn Q và bị cáo Lê Thanh T.

Tuyên bố các bị cáo: Trần Văn Q và Lê Thanh T phạm tội “Giết người”. Xử phạt bị cáo Trần Văn Q 11 (Mười một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 05/11/2023.

Xử phạt bị cáo Lê Thanh T 8 (T6) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 05/11/2023.

Tiếp tục tạm giam các bị cáo Trần Văn Q và Lê Thanh T để đảm bảo thi hành án.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu để tiêu hủy:

- 01(một) túi nilon màu xanh, có chứa nhiều chất bẩn màu đen;

- 01 đầu đạn hình nấm cỡ 4,5mm;

- 01 ống kim loại;

- 01 mảnh kim loại, hình nấm, màu xám, mặt ngoài bám dính chất dịch màu nâu đỏ (dạng mô cơ tế bào), kích thước dài 0,6cm, đầu hình tròn, đường kính 0,4cm do Lê Mạnh H giao nộp;

- 01 (một) khẩu súng dài 115cm, trên súng có chữ: “CAL 4,5mm V122567”, nòng súng dài 53cm, đường kính ổ chứa đạn 4,5mm, bên ngoài dán giấy niêm phong có đóng dấu đỏ của của Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an kèm chữ ký, họ tên của những người tham gia niêm phong;

- 01 (một) áo phông cộc tay, không có cổ, màu trắng, mặt trước in biểu tượng và chữ “VOGUE” màu vàng, cổ áo gắn mác in chữ “CH SE NEWDESIGN”; kích thước áo: thân dài 64cm, cạp áo rộng 46cm. Tại vị trí trước ngực có 01 lỗ rách thủng hình tròn kích thước 0,5cm, xung quanh bám dính chất bẩn màu đen, áo đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Trần Văn Q:

- 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu HONDA WINNER, màu đen, không lắp gương chiếu hậu, số máy KC34E5112243; số khung RLHKC4403PY006114, biển số 19M1-xxxxx, đã qua sử dụng.

- 01 (một) chiếc điện thoại di động dạng máy gập nhãn hiệu “Nokia 2720 Flip” màu đen, có số IMEI1: 352713076851163/OC; số IMEI2: 352713076851148/OC. Điện thoại không lắp sim (máy cũ đã qua sử dụng) Trả lại cho bị cáo Lê Thanh T:

- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu đen, có số IMEI1: 350013883509894; số IMEI2: 352270633509891, lắp sim số: 0352 413 xxx. Máy cũ đã qua sử dụng.

Các vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng đến Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Phú Thọ ngày 20 tháng 5 năm 2024.

Tịch thu lưu hồ sơ vụ án đối với bị cáo Lê Thanh T:

- 01 thẻ nhớ, trên thẻ có in chữ Micro SD 32GB HIK VISION, đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì giấy và được dán kín. Tại mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia và được đóng dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P, mặt trước của bì niêm phong ghi chữ “Thẻ nhớ nhà T”.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 590 của Bộ luật Dân sự.

Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo Trần Văn Q, bị cáo Lê Thanh T và bị hại ông Trần Quang T1, cụ thể bị cáo Lê Thanh T đã tự nguyện bồi thường được cho ông Trần Quang T1 số tiền là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng); gia đình bị cáo Trần Văn Q đã tự nguyện bồi thường cho ông Trần Quang T1 số tiền là 25.480.000đ (Hai mươi lăm triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng). Xác nhận ông Trần Quang T1 đã nhận đủ số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) do Lê Thanh T bồi thường và đã nhận đủ số tiền 25.480.000đ (Hai mươi lăm triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng) do gia đình bị cáo Trần Văn Q bồi thường;

Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Thanh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Văn Q.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội để yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm; Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội để yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

66
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội giết người số 33/2024/HS-ST

Số hiệu:33/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Phú Thọ
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:19/06/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về