Bản án về tội giết người số 31/2024/HS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 31/2024/HS-ST NGÀY 12/01/2024 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Ngày 12/01/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H2 xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 725/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 762/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: D Th C, sinh ngày 21/12/19xx; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT: Thôn Hà Phong, xã Liên Hà, huyện Đông Anh, thành phố H2; Chỗ ở: Lang thang, không nơi ở cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 1/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: D2 Xuân H và con bà: D2 Thị N; Vợ: Phùng Thị Đ (Đã ly hôn); Con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Chưa.

Nhân thân:

- Ngày 30/10/1997, bị Tòa án nhân dân quận H, thành phố H2 xử phạt 42 tháng tù giam về tội Cướp tài sản công dân.

- Ngày 05/01/2000, bị Tòa án nhân dân thành phố H2 xử phạt 60 tháng tù giam về tội Cướp tài sản công dân và tội Trộm cắp tài sản.

- Ngày 25/07/2003, bị Tòa án nhân dân quận H, thành phố H2 xử phạt 12 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản.

- Ngày 28/02/2006, bị Tòa án nhân dân quận Tây Hồ xử phạt 24 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản.

- Ngày 26/02/2008, bị Tòa án nhân dân quận H, thành phố H2 6 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản.

- Ngày 20/10/2008, bị Tòa án nhân dân quận H, thành phố H2 xử phạt 30 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị bắt và tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/04/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, C2 an thành phố H2. Có mặt.

* Người bào chữa:

Luật sư Nguyễn Thị Kim M1, Văn phòng luật sư Nguyễn Minh, Đoàn luật sư thành phố H2. Có mặt.

* Bị hại:

Anh Nguyễn Trọng H sinh năm 19xx.

Trú tại: Số 9 ngõ Cầu Gỗ, phường Hàng Bạc, quận H, thành phố H2. Có mặt.

* Người làm chứng:

Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 19xx.

Trú tại: Tập thể Văn Ch, phường Văn Ch, quận Đống Đa, thành phố H2. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bị cáo D Th C là đối tượng sống lang thang không có nơi ở cố định, kiếm sống bằng nghề lượm nhặt ve chai, nhặt rác quanh khu vực hồ Q1, phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, thành phố H2.

Khoảng 12 giờ ngày 31/03/2023, bị cáo C2 mua 01 chai rượu trắng khoảng 0,5 lít ở trước cổng Bệnh viện Việt Đức, thành phố H2 rồi đi xe đạp (Kiểu dáng xe mini có giỏ xe màu đen) về khu vực phố Trần Nhân Tông, phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, để nhặt rác. Đến khoảng 19 giờ, bị cáo C2 lấy chai rượu đã mua ngồi uống một mình, đến 20 giờ cùng ngày mang số rượu còn lại đến quán nước của bà Nguyễn Thị D2 (Sinh năm 1952; Tú tại tập thể Văn Ch, phường Văn Ch, quận Đống Đa, thành phố H2) ở tại vỉa hè hồ Q1 (Đối diện cổng C2 viên Thống Nhất, quận Hai Bà Trưng, thành phố H2 mục đích để uống cùng nhóm bạn lang thang ở khu vực hồ Q1. Khi đi xe đạp đến quán bà D2, bị cáo C2 mang theo 01 con dao (Dạng dao phay bằng kim loại dài khoảng 30cm, phần lưỡi dao dài khoảng 20cm, chuôi dao dài khoảng 10cm, bản rộng khoảng 10cm) thường xuyên mang theo người dùng để phân loại rác, đến nơi lúc này đã có anh Trần Văn T3 (Tên thường gọi là A1, hiện chưa xác định được nhân thân, lý lịch, là bạn xã hội của bị cáo C2) đang ngồi uống rượu, bị cáo C2 ngồi xuống quán uống rượu tiếp cùng anh T3. Ngồi tại quán nước với bị cáo C2 lúc này còn có anh Nguyễn Trọng H3 không quen biết với bị cáo C2; Anh H3 có gặp anh T3 vài ba lần ở khu vực hồ Q1 nên có biết anh T3) và chị Lê Thị U (Tên thường gọi là Ng2, sinh năm 1983; Trú tại xã Văn Bình, huyện Thường Tín, thành phố H2 là bạn gái anh H3) đang ngồi uống bia. Vị trí anh H3 và chị U ngồi chung bàn, đối diện với bị cáo C2. Anh T3 có mời anh H3 uống rượu nhưng anh H3 không uống. Lúc này, khoảng 21 giờ 30, bị cáo C2 dùng tay phải của mình rút từ sau lưng ra 01 con dao (Đã mang theo từ trước) rồi cầm thả mũi dao xuống đất. Anh H3 thấy vậy nói bị cáo C2 cất dao đi thì bị cáo C2 cất con dao vào sau lưng. Do anh T3 và C2 bị cáo chỉ ngồi uống rượu mà không uống nước nên bà D2 yêu cầu hai người đi chỗ khác để bà D2 còn bán hàng. Do bực tức vì bị bà D2 đuổi nên bị cáo C2 chửi bà D2: “Đ.mẹ, đây là nhà của bà à, quê bà ở đâu”. Do bà D2 là người quê gốc ở tỉnh Nghệ An nên nói: “Tao quê Bác Hồ” thì bị cáo C2 chửi: “Đ.mẹ bọn Nghệ An, bọn chọ chọe”. Thấy vậy, anh H3 nói: “Mày chửi bà làm gì, tao cũng quê Nghệ An đây, mày nói cho tử tế”. Do cũng là người tỉnh Nghệ An nên anh H3 giơ căn cước công dân của anh H3 lên trước mặt bị cáo C2 rồi nói: “Mày ăn nói cho cẩn thận, tao cũng quê Bác đây”. Bị cáo C2 tiếp tục chửi: “Đ.mẹ mày tao cũng quê Bác Trọng đây”. Trong lúc lời qua tiếng lại và cãi chửi nhau, bị cáo C2 dùng tay phải đưa ra sau lưng rút dao ra. Anh H3 nhìn thấy liền đứng dậy dùng chân đạp vào vai phải của bị cáo C2 để không cho bị cáo C2 lấy dao. Thấy anh H3 và bị cáo C2 xô sát đánh nhau nên anh T3 chạy đến ôm anh H3 đẩy ra, bà D2 cũng vào ôm bị cáo C2 để tách hai người ra xa nhưng bị cáo C2 vùng ra được. Bị cáo C2 dùng tay phải lấy con dao sau lưng rồi chạy đến nơi anh H3 đứng, vung dao lên chém 01 nhát theo hướng từ trên xuống trúng vào vùng đầu của anh H3, làm anh H3 bị choáng ngã xuống đất. Bị cáo C2 tiếp tục lao vào, cầm dao ở tay phải chém nhiều nhát trúng vào vùng đầu, mặt, tay của anh H3. Thấy bị cáo C2 dùng dao chém anh H3 nên chị U đã đến C2 an phường Nguyễn Du trình báo; Còn mọi người xung quanh can ngăn, giật được dao từ tay của bị cáo C2 vứt bỏ đi. Bị cáo C2 lấy xe đạp rời đi khỏi hiện trường thì nhìn thấy lực lượng C2 an phường Nguyễn Du đến hiện trường giải quyết. Bị cáo C2 đã bỏ xe đạp lại rồi đi đến trụ sở C2 an phường Nguyễn Du đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.

Hậu quả: Anh Nguyễn Trọng H3 bị thương tích nặng, được mọi người đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Thanh Nhàn, thành phố H2. Đến ngày 10/04/2023, anh H3 được ra viện.

Ngày 07/04/2023, bị cáo D Th C bị Cơ quan Cảnh sát điều tra C2 an quận Hai Bà Trưng, thành phố H2 bắt tạm giam để điều tra về hành vi phạm tội.

Sau khi xảy ra sự việc, Cơ quan Cảnh sát điều tra C2 an quận Hai Bà Trưng đã phối hợp với các Cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng, trưng cầu giám định pháp y thương tích đối với anh Nguyễn Trọng H3... Kết quả như sau:

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ án hồi 18 giờ 30 phút ngày 01/04/2023, xác định:

“… Hiện trường nơi xảy ra vụ việc được xác định tại trước khu vực nhà vệ sinh công cộng trên vỉa hè hồ Q1 đối diện cổng C2 viên Thống Nhất, đường Trần Nhân Tông, phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, thành phố H2. Vỉa hè hồ Q1 nơi xảy ra vụ việc được lát gạch xi măng có chiều rộng 6,6m. Nhà vệ sinh công cộng được xây dựng kiên cố gồm 01 tầng. Từ nhà vệ sinh công cộng cách mép trong vỉa hè hồ Q1 5,7m. Khu vực nhà vệ sinh công cộng đến vỉa hè được lát gạch đá.

- Trên bề mặt nền gạch đá trước cửa nhà vệ sinh công cộng, vị trí cách mép đường Trần Nhân Tông 7,6m, cách tường phải nhà vệ sinh công cộng (Từ ngoài vào) 4,8m phát hiện 02 dấu vết màu nâu đỏ đã khô dạng nhỏ giọt (Nghi máu) trong diện (20x2)cm.

- Trên bề mặt đất đá và lá cây dưới gốc cây xà cừ số 24 trước cửa nhà vệ sinh công cộng, vị trí cách đường Trần Nhân Tông 9,2m, cách tường bên phải (Từ ngoài vào) nhà vệ sinh công cộng 3,1m phát hiện nhiều dấu vết màu nâu đỏ đã khô dạng nhỏ giọt (Nghi máu) trong diện (25x5)cm.

Theo lời khai và chỉ dẫn của bị cáo D Th C, xác định: Vị trí bị cáo C2 và anh H3 ngồi trước khi xảy ra xô xát được xác định tại trên nền gạch đá trước cửa nhà vệ sinh công cộng, cách mép tường trái (Từ ngoài vào) nhà vệ sinh công cộng 1,5m, cách mép tường phải (Từ ngoài vào) nhà vệ sinh công cộng 03m. Vị trí bị cáo C2 dùng dao chém anh H3 gây thương tích được xác định tại vị trí trên nền gạch đá trước cửa nhà vệ sinh công cộng, cách vị trí ngồi ban đầu của bị cáo C2 và anh H3 về phía đường Quang Trung 5m, cách mép đường Trần Nhân Tông 11,2m....

Trong quá trình khám nghiệm hiện trường đã: Đo, chụp ảnh, vẽ sơ đồ. Việc khám nghiệm hiện trường kết thúc hồi 19 giờ 00 ngày 01/04/2023”.

Vật chứng thu giữ: Quá trình khám nghiệm hiện trường và điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ các mẫu vật, đồ vật sau:

- Thu giữ tại hiện trường: 01 tăm bông thu giữ chất nâu đỏ (Nghi máu) trên nền gạch đá trước cửa nhà vệ sinh công cộng; 01 tăm bông thu giữ chất nâu đỏ (Nghi máu) dưới gốc cây xà cừ số 24 trước cửa nhà vệ sinh công cộng trên vỉa hè hồ Q1.

- Thu giữ 01 camera ghi lại một phần nội dung, diễn biến vụ việc tại cổng C2 viên Thống Nhất, đường Trần Nhân Tông, phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, thành phố H2.

Đối với con dao bị cáo D Th C sử dụng để chém anh H3, trong quá trình can ngăn có người đã vứt bỏ đi, Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm con dao trên nhưng không thu giữ được.

Tại Biên bản làm việc của C2 an phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, thành phố H2 với khoa chấn thương chỉnh hình - Bệnh viện Thanh Nhàn hồi 11h20 ngày 01/04/2023, hồ sơ bệnh án, thể hiện: “… Bệnh nhân Nguyễn Trọng H3 nhập viện hồi 22h00 ngày 31/03/2023. Thương tích sơ bộ theo hồ sơ bệnh án là: Đa vết thương vùng trán hai bên, vỡ thành ngoài xương trán phải, vết thương thấu khớp khuỷu phải vỡ hở thành ngoài đầu dưới xương cánh tay phải. Bệnh nhân đã được phẫu thuật xử trí theo thương tổn…”.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số:

866/KLTTCT-TTPY ngày 23/06/2023 của Trung tâm pháp y- Sở Y tế H2 đối với anh Nguyễn Trọng H3, như sau:

“…1. Các kết quả chính:

1.1. Vết thương vùng đỉnh chẩm phải 02%;

1.2. Vết thương vùng trán phải 06%;

1.3. Vết thương vùng trán trái 03%;

1.4. Vết thương vùng sống mũi 03%;

1.5. Vết thương, vết mổ mặt sau khuỷu phải 03%;

1.6. Mẻ bản ngoài xương trán phải 05%;

1.7. Mẻ đầu dưới xương cánh tay phải 01%.

2. Kết luận:

2.1. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Trọng H3 tại thời điểm giám định trong vụ việc ngày 31/03/2023 là 21% (Hai mươi mốt phần trăm).

2.2. Kết luận khác:

- Cơ chế hình thành thương tích: Do vật có cạnh sắc gây nên.

- Hiện chưa đánh giá được hết mức độ di chứng và biến chứng của các tổn thương. Đề nghị giám định bổ sung sau khi bệnh nhân điều trị ổn định ra viện.” Tại Biên bản rà soát camera ngày 01/04/2023 tại cổng công viên Thống nhất đường Trần Nhân Tông, phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, thành phố H2, xác định: “... Cơ quan C2 an tiến hành rà soát camera ghi lại hình ảnh vụ việc Cố ý gây thương tích xảy ra hồi 21 giờ 30 phút ngày 31/03/2023 tại vỉa hè hồ Q1 đối diện cổng C2 viên Thống Nhất đường Trần Nhân Tông, phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, thành phố H2.

Kết quả làm việc: Qua rà soát xác định tại khu vực cổng C2 viên Thống nhất, đường Trần Nhân Tông, phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, thành phố H2 có camera an ninh của UBND phường Nguyễn Du, có ghi lại được hình ảnh liên quan đến vụ việc nêu trên”.

Tại bản Kết luận giám định pháp y AND số: 453/23/KLGDADN-PYQG ngày 11/08/2023 của Viện pháp y Quốc gia, Kết luận:

“… Thử định tính phát hiện nhanh vết máu người trên mẫu dấu vết màu nâu đỏ nghi là máu thu tại mặt vỉa hè và dấu vết màu nâu đỏ nghi là máu thu tại gốc cây xà cừ số 24: D2 tính; AND thu từ mẫu dấu vết màu nâu đỏ nghi là máu thu tại mặt vỉa hè và dấu vết màu nâu đỏ nghi là máu thu tại gốc cây xà cừ số 24 trùng khớp hoàn toàn với AND của anh Nguyễn Trọng H3 trên tất cả các locus STR đã so sánh”.

Tại biên bản thực nghiệm điều tra vụ án hồi 15 giờ ngày 14/06/2023 tại Trại tạm giam số 1, C2 an thành phố H2, xác định:

“… Tiến hành thực nghiệm lại một số hành vi theo lời khai của bị cáo D Th C, sinh năm 1977; Trú tại thôn Hà Phong, xã Liên Hà, huyện Đông Anh, thành phố H2 và theo lời khai của người làm chứng Nguyễn Thị D2, sinh năm 1952; Trú tại số nhà 5A8, tập thể Văn Ch, quận Đống Đa, thành phố H2. Kết quả thực nghiệm như sau:

1. Trước khi bị cáo C2 và H3 xảy ra va chạm: Bị cáo C2 và H3 đang ở khoảng cách 2m, mặt đối diện nhau, tay phải của bị cáo C2 đang cầm 01 con dao và chuẩn bị tiến về phía H3.

2. Tình huống bị cáo C2 cầm dao chém vào H3: Bị cáo C2 tiến đến cách H3 khoảng 0,5m, tay phải cầm dao vung lên ngang đầu chém về phía H3 nhiều nhát. Trong đó nhát đầu tiên, H3 giơ tay phải lên đỡ, bị cáo C2 vung dao chém vào tay phải H3. Tiếp theo, bị cáo C2 thu dao về rồi tiếp tục giơ lên chém vào phía trán của H3.

3. Tình huống H3 bị ngã ngửa ra sau, bị cáo C2 tiếp tục lao đến tay cầm dao chém nhiều lần: Khi H3 ngã ngửa, bị cáo C2 áp sát, đứng cạnh phía bên chân phải của H3, mặt đối diện nhau. Tay phải của bị cáo C2 cầm dao chém 01 nhát vào khuỷu tay phải của H3 khi H3 đang giơ tay lên đỡ. Sau đó bị cáo C2 tiếp tục vung dao chém vào cằm của H3 01 nhát và vào trán của H3 01 nhát”. Đối với Nguyễn Trọng H3 có hành vi dùng chân đạp vào vai phải bị cáo D Th C, tại Cơ quan điều tra anh H3 khai thấy bị cáo C2 lấy ở sau lưng ra 01 con dao nên anh H3 mới dùng chân đạp vào người bị cáo C2. Do vậy, hành vi trên không đủ căn cứ chứng minh anh H3 cố ý gây tổn hại sức khỏe cho bị cáo C2. Tuy nhiên, việc anh H3 và bị cáo C2 đã sử dụng rượu, bia tại vỉa hè bờ hồ Q1 dẫn đến mâu thuẫn đánh nhau, gây mất trật tự công cộng, quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 7 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Ngày 07/11/2023, Cơ quan điều tra đã có C2 văn đề nghị C2 an quận Hai Bà Trưng, thành phố H2 tiến hành lập hồ sơ xử lý hành chính đối với bị cáo D Th C và anh Nguyễn Trọng H3.

Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vụ án, anh Nguyễn Trọng H3 yêu cầu bị cáo D Th C phải bồi thường số tiền 10.000.000 đồng và đề nghị xử lý bị cáo C2 theo pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số: 663/CT-VKS HN-P2 ngày 24/11/2023 đã truy tố bị cáo D Th C về tội Giết người. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n, khoản 1, Điều 123 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

Bị cáo D Th C khai nhận hành vi phạm tội. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố H2 giữ quyền công tố tại phiên toà, phân tích nội dung, tính chất của vụ án, đặc biệt nghiêm trọng, tính côn đồ, anh H3 không chết do được cấp cứu kịp thời, bị hại cũng có lỗi, giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo C2, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm n, khoản 1, Điều 123; Điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo D Th C: Từ 12 năm đến 13 năm tù.

Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận tại phiên tòa về việc anh Nguyễn Trọng H3 không yêu cầu bị cáo C2 bồi thường về dân sự.

* Luật sư bào chữa cho bị cáo D Th C:

Đồng nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, nhưng đề nghị áp dụng hình phạt giảm nhẹ hơn mức án cho bị cáo mà Viện kiểm sát đề nghị. Vì bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ra đầu thú ngay. Tuy bị cáo C2 nhân thân xấu bị nhiều bản án nhưng đã xóa án tích, hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế, có phần lỗi của bị hại, thương tích của bị hại 21% (Hai mươi mốt phần trăm), có tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tạo điều kiện cho bị cáo C2 có cơ hội sửa chữa sai lầm. Trách nhiệm dân sự: Không.

Bị cáo C2 xin được giảm hình phạt.

Bị hại không yêu cầu bị cáo C2 phải bồi thường.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi và tội danh của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo D Th C tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để Kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 31/03/2023, bị cáo D Th C ngồi uống rượu cùng Trần Văn T3 tại quán nước của bà Nguyễn Thị D2 ở vỉa hè hồ Q1, đoạn đối diện cổng C2 viên Thống Nhất, đường Trần Nhân Tông, phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, thành phố H2. Do thấy bị cáo C2 và anh T3 uống rượu nên bà D2 đã bảo hai người rời khỏi quán để còn bán hàng. Bị cáo C2 đã bực mình và chửi bà D2. Thấy vậy, anh Nguyễn Trọng H3 (Là người đồng hương gốc tỉnh Nghệ An với bà D2) can ngăn nên xảy ra mâu thuẫn qua lại giữa bị cáo C2 và anh H3. Khi thấy bị cáo C2 lấy ở sau lưng 01 con dao phay thì anh H3 đã dùng chân đạp vào vai phải của bị cáo C2 thì được mọi người can ngăn. Bị cáo C2 vùng ra được, dùng tay phải cầm dao chém nhiều nhát vào đầu, vào người anh H3 làm anh H3 ngã xuống đất. Bị cáo C2 tiếp tục lao đến dùng dao chém nhiều nhát vào vùng đầu, mặt và tay của anh H3, làm anh H3 bị thương nặng, chảy nhiều máu ở đầu và mặt. Do được mọi người đã can ngăn, giằng lấy con dao trên tay của bị cáo C2 vứt bỏ nên bị cáo C2 lấy xe đạp bỏ đi và đến C2 an phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.

Hậu quả: Anh Nguyễn Trọng H3 bị bị cáo D Th C dùng dao chém nhiều nhát vào vùng đầu, mặt, tay... gây ra đa vết thương vùng trán hai bên, vỡ thành ngoài xương trán phải, vết thương thấu khớp khuỷu phải vỡ hở thành ngoài đầu dưới xương cánh tay phải... Do được cấp cứu và được điều trị kịp thời nên anh H3 không tử vong, nhưng bị tổn hại 21% sức khỏe.

Hành vi nêu trên của bị cáo D Th C đã phạm vào tội Giết người. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n, khoản 1, Điều 123 của Bộ luật hình sự.

§iÒu 123. Téi giết người.

1. Ngưêi nµo giÕt ngưêi thuéc mét trong c¸c trưêng hîp sau ®©y, th× bÞ ph¹t tï tõ 12 n¨m ®Õn 20 n¨m tï chung th©n hoÆc tö h×nh:

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng;

………...

n) Cã tÝnh chÊt c«n ®å;

………...

Hành vi của bị cáo D Th C là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của anh H3 bị cáo C2 trực tiếp dùng dao chém nhiều vào đầu, chán, vai trái, bắp chân đùi bên phải của anh H3 dẫn đến anh H3 bị thương tích là 21% (Hai mươi mốt phần trăm), làm mất trật tự tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, gây bức xúc cho dư luận. Bản thân bị cáo là người có nhận thức pháp luật kém, chưa có ý thức tu dưỡng nên phạm tội. Vì vậy cần phải có biện pháp trừng trị nghiêm khắc đối với bị cáo C2 nhằm phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo C2:

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ra đầu thú, có lỗi của bị hại. Tuy bị cáo C2, nhân thân xấu bị nhiều bản án đã xóa án tích, hoàn cảnh gia đình khó khăn, có tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự .

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại không yêu cầu bị cáo C2 phải bồi thường 10 triệu đồng nữa được Hội đồng xét xử ghi nhận.

[2] Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự; Căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; Căn cứ nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo C2 ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo C2 và nhằm phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về hình phạt bổ sung: Không. [4] Về vật chứng vụ án: Không.

[5] Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[6] Các cơ quan tiến hành tố tụng của thành phố H2 thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố. Kết luận điều tra của C2 an thành phố H2, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H2, áp dụng với bị cáo là đúng, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo D Th C phạm tội: Giết người.

Căn cứ vào điểm n, khoản 1, Điều 123; Điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo D Th C: 15 (Mười lăm năm) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 01/04/2023 Về xử lý vật chứng: Không.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc bị hại Nguyễn Trọng H3 không yêu cầu bị cáo D Th C phải bồi thường dân sự.

Về án phí:

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo D Th C phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

Quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

104
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội giết người số 31/2024/HS-ST

Số hiệu:31/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:12/01/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về