TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 30/2024/HS-ST NGÀY 17/01/2024 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI
Ngày 17 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 961/2023/HSST ngày 23 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 6167/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1995 tại Sóc Trăng; nơi thường trú: Ấp 11, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở: 606/11 N, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Bé N; có vợ (chưa đăng ký kết hôn), có 01 con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân:
+ tại Bản án số 25/2018/HS-ST ngày 09/11/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/02/2019;
+ ngày 16/11/2021, bị Công an xã Vĩnh Lợi, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng xử phạt hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”;
bị tạm giam từ ngày 07/11/2022, có mặt.
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Ông Đoàn Huy Hoàng, Luật sư của Văn phòng luật sư Trọng Anh thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
- Bị hại: Ông Phan Minh T1, sinh năm 1999 (đã chết ngày 06/11/2022).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
+ Ông Phan Văn C, sinh năm 1972, là cha của bị hại, có mặt;
+ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1970, là mẹ của bị hại, có mặt;
Cùng địa chỉ: tổ 3B, ấp 2, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 06/11/2022, Nguyễn Văn T cùng với anh Phan Minh T1 và Nguyễn Thanh H ăn uống tại quán H (địa chỉ tại 831 Nguyễn Xiển, khu phố Long Hòa, phường Long Thạnh Mỹ, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh). Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc tính tiền thì anh T và T1 xảy ra mâu thuẫn nên cả hai xông vào đánh nhau bằng tay không và được mọi người can ngăn. Lúc này, chị Trần Thị Q (là chủ quán) lấy xe chở T về khu nhà trọ của T tại số 606/11 N, khu phố L, phường L, thành phố T, rồi chị Q đi về. Do bực tức anh T1, nên T rủ D (là bạn quen biết, không rõ lai lịch) quay lại quán H tìm anh T1. Khi đi, T cầm theo 01 con dao tự chế dài khoảng 46 cm chở D cầm theo cây kim loại. Khi đến đầu hẻm 631 Nguyễn Xiển thì gặp anh T1 và H, 02 bên tiếp tục cự cãi, được mọi người can ngăn T đi về khu nhà trọ của mình. Khi T bỏ đi, anh T1 điện thoại cho anh ruột là Phan Minh H1 kể lại việc đánh nhau với T và rủ anh H1 đến phòng trọ tìm T nói chuyện. Sau đó, anh T1 điều khiển xe mô tô biển số 86P7-xxxx chạy đến khu nhà trọ của T, còn H1 cũng điều khiển xe chạy theo sau. Thấy vậy, H gọi điện thoại cho bạn là Lê Minh C đến chở H chạy theo anh T1 để can ngăn.
Khoảng 23 giờ cùng ngày, khi anh T1 chạy đến khu nhà trọ của T thì thấy T đang ngồi trước khu nhà trọ, anh T1 nhặt thanh gỗ dài khoảng 01 mét ở ven đường chạy đến đánh trúng vào cánh tay phải của T, T bỏ chạy vào phòng trọ lấy một con dao tự chế dài khoảng 46 cm, cầm trên tay trái chạy ra chém một nhát từ trên xuống trúng vào cổ bên phải của anh T1. Khi sự việc xảy ra, có anh Thái Đức T2 đang ở nhà trọ kế bên nhìn thấy, nên nói cho anh Trần Lâm K (ở cùng phòng) anh K kêu anh Đức T2 đóng cửa lại. Lúc này, anh Phan Minh H1 nhìn thấy anh T1 bị T chém chảy máu, nên cùng Nguyễn Thanh H đưa anh T1 đến Bệnh viện Lê Văn Việt cấp cứu. Một lúc sau, anh Đức T2 và anh K mở cửa đi ra thì nhìn thấy T ngồi trên ghế đá, T kể lại việc đã dùng dao chém vào cổ anh T1 cho anh Đức T2 và anh K nghe. Sau đó, T cầm dao đi về phòng trọ gặp D, D lấy con dao đem giấu vào lốp xe ô tô cũ bên hông khu phòng trọ và lấy xe mô tô của D chở T đến khách sạn (không rõ địa chỉ) để ngủ qua đêm cùng 02 người bạn khác là L, T3 (chưa rõ lai lịch).
Đến khoảng 09 giờ ngày 07/11/2022, D chở T ra cầu Đồng Nai để T đón xe về quê tại xã Vĩnh Lợi, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng. Còn anh Phan Minh T1 khi được anh H1 và H đưa đi cấp cứu đã tử vong trước khi đến Bệnh viện.
Theo Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 2023/TT.22 ngày 05/12/2022 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận nguyên nhân chết của anh Phan Minh T1: Choáng mất máu cấp do vết thương cổ phải gây đứt động mạch, tĩnh mạch vùng cổ phải.
Theo Bản kết luận giám định vật gây thương tích số 2023/KLVGTT- TTPY.2022 ngày 18/8/2023 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: con dao dài 46 cm, có cán dao bằng gỗ dài dài khoảng 14 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 32 cm được thu giữ tại hiện trường có thể gây ra vết thương tại vùng cổ làm nạn nhân tử vong.
Ngày 07/11/2022, Nguyễn Văn T đến Công an xã Vĩnh Lợi, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Đồng thời, chỉ điểm nơi cất giấu con dao để Cơ quan điều tra thu hồi.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời khai phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng thu giữ trong vụ án:
- 01 con dao dài khoảng 46 cm, có cán dao bằng gỗ dài khoản 14 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 32 cm.
- 01 thanh gỗ dài khoảng 124 cm, hình chữ nhật kích thước 2,5x2cm.
- 01 đôi dép da màu đen, trên quai dép có chữ “GUCCI” màu đỏ.
- 02 dấu vết máu.
- 01 xe mô tô hiệu WINNER, biển số 86P7-xxxx. Qua xác minh, xe trên do ông Phan Thanh H2 đứng tên chủ sở hữu. Sau đó, ông H2 bán lại xe trên cho anh Phan Minh T1.
Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh còn thu giữ của Nguyễn Văn T:
- 01 thẻ CCCD mang tên Nguyễn Văn T.
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen.
Tất cả các vật chứng trên hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đang tạm giữ.
Về bồi thường thiệt hại:
Sau khi sự việc xảy ra, gia đình của Nguyễn Văn T đã hỗ trợ chi phí mai táng cho anh Phan Minh T1 với số tiền 120.000.000 đồng. Ông Phan Văn C và bà Nguyễn Thị T (là cha và mẹ của anh T1) đã nhận số tiền trên và sẽ có yêu cầu bồi thường về tinh thần tại Tòa án khi vụ án được đưa ra xét xử.
Tại bản Cáo trạng số 619/CT-VKS-P2 ngày 20/11/2023, Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố đối với bị can Nguyễn Văn T (có lý lịch nêu trên) về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Phần tranh tụng tại phiên tòa:
sai.
- Bị cáo đồng ý với bản Cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội, không oan - Người đại diện hợp pháp của bị hại: xác nhận bị cáo và gia đình đã bồi thường chi phí mai táng cho bị hại số tiền 120.000.000 đồng. Nay tại tòa họ yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần số tiền 200.000.000 đồng.
- Bị cáo đồng ý với yêu cầu này của người đại diện hợp pháp của bị hại.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 20 năm tù về tội “Giết người”.
Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: thống nhất với phần luận tội của Kiểm sát viên về tội danh và điều luật. Nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ hơn đề nghị của Viện kiểm sát do thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã ra đầu thú; bị cáo và gia đình đã bồi thường chi phí mai tang cho gia đình bị hại số tiền 120.000.000 đồng; nguyên nhân của vụ án cũng do bị hại đánh bị cáo trước mà cho bị cáo bị kích động tinh thần gây án; ông nội của bị cáo là liệt sĩ; tại tòa bị cáo cũng đồng ý bồi thường tổn thất tinh thần số tiền 200.000.000 đồng cho cha mẹ của bị hại.
- Bị cáo đồng ý với phần trình bày bào chữa của luật sư, không bổ sung thêm.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại trình bày: nếu bị cáo và gia đình bồi thường tổn thất tinh thần số tiền 200.000.000 đồng ngay thì họ xin giảm nhẹ hình phạt và bãi nại cho bị cáo. Họ không đồng ý với luật sư cho rằng con họ có lỗi trước.
- Kiểm sát viên đối đáp: luận cứ của luật sư đồng quan điểm với luận tội, về giảm nhẹ hình phạt thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử; riêng việc trình bày của đại diện hợp pháp của bị hại về việc con họ không có lỗi là không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án.
- Bị cáo nói lời sau cùng đã ăn năn hối cải xin được khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:
[1] Xét lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Văn T tại phiên tòa phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, bản kết luận giám định pháp y tử thi, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, vật chứng đã được thu giữ, lời khai của người làm chứng, lời khai của bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định:
Do trước đó khoảng 22 giờ 30 phút ngày 06/11/2022 tại quán H (địa chỉ tại 831 Nguyễn Xiển, khu phố Long Hòa, phường Long Thạnh Mỹ, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh) giữa bị cáo Nguyễn Văn T và bị hại Phan Minh T1 có mâu thuẫn trong việc trả tiền nhậu nên xảy ra cải vả, đánh nhau bằng tay không và đã được mọi người can ngăn. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, tại khu nhà trọ địa chỉ số 606/11 N, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị hại T1 đi đến khu nhà trọ của bị cáo T và nhặt thanh gỗ dài khoảng 01 mét ở ven đường chạy đến đánh trúng vào cánh tay phải của bị cáo T, bị cáo T bỏ chạy vào phòng trọ lấy một con dao tự chế dài khoảng 46 cm, cầm trên tay trái chạy ra chém một nhát từ trên xuống trúng vào cổ bên phải của bị hại T1. Phan Minh H1 nhìn thấy bị hại T1 bị T chém chảy máu, nên cùng Nguyễn Thanh H đưa bị hại T1 đến Bệnh viện Lê Văn Việt cấp cứu nhưng đã tử vong trước khi đến Bệnh viện.
Ngày 07/11/2022, bị cáo Nguyễn Văn T đến Công an xã Vĩnh Lợi, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Đồng thời, chỉ điểm nơi cất giấu con dao để Cơ quan điều tra thu hồi.
Nguyên nhân chết của bị hại qua giám định kết luận: “Choáng mất máu cấp do vết thương cổ phải gây đứt động mạch, tĩnh mạch vùng cổ phải.” Kết luận giám định vật gây thương tích: “con dao dài 46 cm, có cán dao bằng gỗ dài khoảng 14 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 32 cm được thu giữ tại hiện trường có thể gây ra vết thương tại vùng cổ làm nạn nhân tử vong.” Đối với đối tượng tên D (chưa rõ lai lịch) là người biết việc bị cáo T dùng dao chém bị hại T1 tử vong nhưng sau đó đem dao cất giấu và chở T đi trốn, có dấu hiệu của tội “Che giấu tội phạm”. Nhưng do chưa rõ lai lịch nên chưa có cơ sở điều tra làm rõ, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đang tiếp tục truy xét, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
Xét hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo T nhận thức được hành vi của mình phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
Vì vậy, Hội đồng xét xử đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Giết người” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét chỉ vì bị hại T1 dùng cây đánh vào tay của bị cáo mà bị cáo đã dùng con dao tự chế chém vào cổ bị hại một nhát, tước đoạt mạng sống của bị hại. Hành vi khách quan này của bị cáo thể hiện tính chất côn đồ là dấu hiệu định khung hình phạt được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình).
Xét nhân thân của bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã ra đầu thú; đã bồi thường chi phí mai táng cho gia đình bị hại số tiền 120.000.000 đồng; phía bị hại có lỗi là đã đến nơi ở của bị cáo đánh bị cáo trước đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự về hình phạt đặt ra đối với bị cáo là tù có thời hạn mới đủ sức giáo dục họ ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
[2] Xét Cáo trạng của Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T về khung, điều luật và tội danh như đã viện dẫn trên là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Với lập luận tại đoạn [1] là căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận hay không chấp nhận phần luận tội của Kiểm sát viên, luận cứ bào chữa của luật sư cho bị cáo, trình bày của bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại.
[3] Xét về bồi thường thiệt hại: phía gia đình bị cáo đã bồi thường chi phí mai táng cho gia đình bị hại số tiền 120.000.000 đồng nên ghi nhận; tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần số tiền 200.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường nên ghi nhận và buộc bị cáo bồi thường cho họ số tiền này theo quy định tại Điều 591 Bộ luật Dân sự.
[4] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của họ đã thực hiện đều hợp pháp.
[5] Xét về xử lý vật chứng, án phí: [5.1] Xét về xử lý vật chứng:
- 01 (một) con dao dài khoảng 46 cm, có cán dao bằng gỗ dài khoảng 14 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 32 cm là hung khí gây án không còn giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy;
- 01 (một) thanh gỗ dài khoảng 124 cm, hình chữ nhật kích thước 2,5x2cm;
- 01 (một) đôi dép da màu đen, trên quai dép có chữ “GUCCI” màu đỏ là vật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy;
- 01 (một) xe hai bánh gắn máy; nhãn hiệu HONDA; số loại: WINNER; dung tích xi lanh: 149; biển số 86P7-xxxx; số khung: RLHKC2605KY005265; số máy: KC26E-1264166 (không gương, dàn nhựa bể, xe củ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra). Qua xác minh, xe trên do ông Phan Thanh H2 đứng tên chủ sở hữu. Sau đó, ông H2 bán lại xe trên cho Phan Minh T1 nên giao lại tài sản cho người đại diện hợp pháp của họ;
- 01 (một) thẻ CCCD mang tên Nguyễn Văn T;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen (không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong) là giấy tờ và tài sản của bị cáo không liên quan đến vụ án nên trả lại cho họ.
Theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[5.2] Xét về án phí: bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 19 (mười chín) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/11/2022.
Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 591 Bộ luật Dân sự.
Ghi nhận bị cáo và gia đình đã bồi thường tiền chi phí mai táng cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 120.000.000 đồng.
Buộc bị cáo bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 200.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu và tiêu hủy:
- 01 (một) con dao dài khoảng 46 cm, có cán dao bằng gỗ dài khoảng 14 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 32 cm;
- 01 (một) thanh gỗ dài khoảng 124 cm, hình chữ nhật kích thước 2,5x2cm;
- 01 (một) đôi dép da màu đen, trên quai dép có chữ “GUCCI” màu đỏ;
Trả lại cho người đại diện hợp pháp của bị hại: 01 (một) xe hai bánh gắn máy; nhãn hiệu HONDA; số loại: WINNER; dung tích xi lanh: 149; biển số 86P7-xxxx; số khung: RLHKC2605KY005265; số máy: KC26E-1264166 (không gương, dàn nhựa bể, xe củ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra).
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T:
- 01 (một) thẻ CCCD mang tên Nguyễn Văn T;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen (không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong), (Theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/113 ngày 28/12/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).
Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 10.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về tội giết người số 30/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 30/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 17/01/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về