TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
BẢN ÁN 297/2024/HS-PT NGÀY 28/06/2024 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 236/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 đối với cáo Ngô Văn Đ và các đồng phạm về tội “Giết người”. Do có kháng cáo của các cáo đối với Bản án hình sự s thẩm số 33/2024/HS-ST ngày 06/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 1140/2024/QĐXXPT-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024.
* Bị cáo có kháng cáo:
1. NGÔ VĂN Đ;(Can); Sinh ngày 30 tháng 11 năm 1990, tại: Đà Nẵng; N i cư trú: k408/h84/62 đường H, tổ C phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: LĐPT; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc t ch: Việt Nam; con ông Ngô Hoài B và à Bùi Th T (Đều còn sống); có vợ Hồ Th Bích T1 và có 02 (hai) con (con lớn nhất sinh năm 2012 và nhỏ nhất sinh năm 2016); Tiền án, Tiền sự: Không.
Về nhân thân:
+ Ngày 07/12/2007 TAND quận T, TP Đà Nẵng xử phạt 03(ba) năm tù về tội “Cướp tài sản” (Bản án số 106/2007/HSST) phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi không có án tích.
1 + Ngày 29/01/2019, TAND TP Đà Nẵng xử phạt 01(một) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” (Bản án số 59/2019/HSST) đã chấp hành xong hình phạt và được xóa án tích;
+ Ngày 11/10/2016 Công an quận H, thành phố Đà Nẵng ra Quyết đ nh xử phạt hành chính ằng hình thức phạt tiền 8.250.000đ (Tám triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng) về hành vi “Tàng trữ đồ chơi nguy hiểm và sử dụng trái phép chất ma túy”
+ Ngày 15/9/2017 Công an phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng ra Quyết đ nh xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” B bắt tạm giam ngày 16.3.2023. B cáo hiện đang tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.
2. NGUYỄN VĂN T1, sinh ngày 12 tháng 6 năm 1988, N i sinh tại: Đà Nẵng; N i ĐKNKTT: Thôn C, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; N i cư trú: Số H đường Â, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Buôn án; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc t ch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn V và à Thái Th L (đều còn sống); Có vợ Võ Th Mai L1 (đã ly hôn) và có 02 (hai) con (Con lớn nhất sinh năm 2012 và nhỏ nhất 2016). Tiền sự: Chưa Tiền án: Ngày 05/7/2019 TAND quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xử phạt 01(một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã chấp hành xong hình phạt tù, nhưng nộp án phí vào ngày 28/3/2023 nên chưa được xóa án tích theo luật đ nh (Bản án số 31/2019/HSST).
B bắt tạm giam ngày 12/4/2023. B cáo hiện đang tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.
3. NGUYỄN ĐẮC B2; Sinh ngày 26 tháng 5 năm 1989; N i sinh tại: Đà Nẵng; N i ĐKNKTT: Tổ C, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng; N i cư trú: Số C đường K, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Nghề nghiệp: LĐPT; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc t ch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đắc C và à Trà Th H (Đều còn sống); Có vợ Phạm Th H1 và có 02 (hai) con (lớn nhất sinh năm 2013 và nhỏ nhất sinh năm 2023) Tiền án: Tiền sự: Không;
+ Về nhân thân:
Ngày 12/3/2007 TAND quận T, thành phố Đà Nẵng xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.
Ngày 17/4/2007 TAND quận T, thành phố Đà Nẵng xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 30/2007/HSST) Ngày 28/6/2007 TAND b Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của 03 Bản án, cáo phải chấp hành là 04 (bốn) năm, 09 (chín) tháng tù, cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và đã được xóa án tích.
Ngày 04/9/2013 TAND quận T, thành phố Đà Nẵng xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thư ng tích” (Bản án số 104/2013/HSST) đã chấp hành xong hình phạt tù và đã được xóa án tích.
Ngày 31/5/2019 b Công an quận C ra Quyết đ nh xử phạt hành chính ằng hình thức phạt tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) về hành vi sử dụng các loại vũ khí trái với quy đ nh nhưng chưa gây hậu quả.
B bắt tạm giam ngày 15/3/2023. B cáo hiện đang tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.
4. NGUYỄN QUANG T3, Sinh ngày 31 tháng 10 năm 1992, tại: Đà Nẵng N i ĐKTT: Tổ C phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng; N i cư trú: Số A đường T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Buôn án; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam, Tôn giáo: Không, Quốc t ch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Quang B1 và à Trần Th L2 (đều còn sống); Có v Trư ng Th Thảo U và có 02 (hai) con (lớn nhất sinh năm 2018 nhỏ nhất sinh năm 2023); Tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân:
Ngày 09/6/2009 b Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thư ng tích” (Bản án số:120/2009/HSPT) : Do tại thời điểm b cáo phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên được coi không có án tích.
B bắt tạm giam ngày 17.10.2023. B cáo hiện đang tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.
5. BÙI XUÂN P; Sinh ngày 29 tháng 01 năm 1998 tại: Đà Nẵng; N i cư trú: K đường T, tổ I, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Buôn án, Trình độ học vấn:12/12; Giới tính: Nam, Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo, Quốc t ch: Việt Nam; Con ông Bùi Xuân C1 và a Phạm Th H1 (đều còn sống); Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
B bắt tạm giữ từ ngày 14/02/2023 đến ngày 23/02/2023 hủy bỏ biện pháp tạm giam đến ngày 15/6/2023 bắt tạm giam lại. B cáo hiện đang tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa;
+ Ông Nguyễn Huy V1 - Luật sư - thuộc Đoàn luật sư thành phố Đ ào chữa cho b cáo Nguyễn Văn T2 theo yêu cầu của Tòa án. Có mặt tại phiên tòa.
+ Ông Phạm Văn N - Luật sư - thuộc Đoàn luật sư thành phố Đ ào chữa cho b cáo Nguyễn Đắc B2 theo yêu cầu của Tòa án . Có mặt tại phiên tòa.
+ Ông Thái Quốc V2 - Luật sư - thuộc Đoàn luật sư thành phố Đ ào chữa cho b cáo Ngô Văn Đ theo yêu cầu của Tòa án. Có mặt tại phiên tòa.
+ Ông Ông Quốc C2 - Luật sư - thuộc Đoàn luật sư thành phố Đ ào chữa cho b cáo Bùi Xuân P theo yêu cầu của Tòa án. Có mặt tại phiên tòa.
+ Ông Hà Xuân B3 - Luật sư - thuộc Đoàn luật sư thành phố Đ ào chữa cho b cáo Nguyễn Quang T3 theo yêu cầu của Tòa án. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ s vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Minh L3 có nợ Huỳnh Bùi Hậu A số tiền 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng), chiều ngày 11 tháng 01 năm 2023 Nguyễn Th Kiều D (vợ của Huỳnh Bùi Hậu A) đăng ài trên Face ook với nội dung “Tiền, vàng anh đầy mà nợ nần anh không chịu trả, anh kêu binh là binh kiểu sao, giờ gia đình em có chuyện mà em con đàn bà ra đòi anh cũng nhây không chịu trả, giờ con em không có sữa uống” và nhắc tên tài khoản Facebook của Nguyễn Minh L3. Sau khi đăng ài, Nguyễn Nhật H2 (là bạn của L3) gọi điện thoại cho D yêu cầu gở ài đăng và ch D đã gở ài.
Khoảng 18 giờ cùng ngày, D đến quán Cà phê của Nguyễn Văn T2 tại số H đường Â, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng dự tiệc tất niên, D có kể cho Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Đắc B2 nghe lại sự việc. Nghe vậy, T2 gọi video cải nhau với H2, còn B2 gọi điện cho Nguyễn Minh T4 (em ruột của Nguyễn Minh L3), tiếp tục T2 gọi điện thoại cho L3 và hẹn đến quán cà phê số A T, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng để giải quyết mâu thuẩn. Sau đó, T2 nói người thanh niên tên T5 (chưa rõ về nhân thân, lai lịch) đang dự tất niên lấy 05 (năm) cây dao tự tạo bằng kim loại (có chiều dài khoảng từ 60cm đến 80cm), 02 (hai) con dao Thái Lan ằng kim loại (có chiều dài khoảng từ 25cm đến 30cm) để lên xe ô tô nhãn hiệu Peugeot 2008, BKS:43A-xxxxx đồng thời T2 rủ Nguyễn Đắc B2, Ngô Văn Đ, Lưu Hoàng T6, Bùi Xuân P, Nguyễn Quang T7 và Nguyễn Quang T3 xuống đ a điểm trên gặp T4 và L3 để đánh nhau, cả nhóm đồng ý. Riêng Bùi Xuân P, ban đầu nghe T2 rủ đi đánh nhau nên không đồng ý, ra xe ô tô 43A-xxxxx ngồi. Sau đó, cả nhóm lên xe, B2 điều khiển xe ô tô chở Đ ngồi ghế phụ phía trước, P, Trọng T8 và T3 ngồi ghế phía sau và trong xe có sẳn hung khí, Bùi Xuân P biết cả nhóm đi đánh nhau nên mặt nhiên đồng ý đi đánh nhau. Cả nhóm đến số A T gặp L3, H2, T4 và Trư ng Quang P1 đang ngồi tại đây. Nguyễn Đức B4 dừng xe ô tô, Đ, T3 , T8 mỗi người cầm 01(một) cây dao tự tạo, P cầm 02 (hai) cây dao tự tạo, T6 cầm 02 (hai) con dao Thái Lan xuống xe rồi cả nhóm xông vào đánh nhóm của Nguyễn Minh L3. Lúc này, T6 cầm dao đuổi đánh L3 thì L3 cầm một cái ghế đánh vào phần đầu khiến T6 r i 01(một) cây dao Thái Lan xuống đất, Đ và P thấy vậy thì cầm dao tự tạo xông đến đuổi đánh L3 được một đoạn thì dừng lại. Sau đó, L3 cầm 01(một) cây dao tự tạo xông đến chém 01(một ) nhát từ trên xuống dưới trúng vào tay trái Đ rồi Đ cầm dao tự tạo bằng tay phải chém 02(hai) nhát trúng vào tai trái và vùng cổ ên trái của L3 gây thư ng tích, T4 cầm cái ghế sắt đánh 01(một) cái trúng vào lưng của Đ rồi vứt cái ghế sắt xuống đường, cùng L3 cầm dao tự tạo bỏ chạy vào phía trong đường K T. Riêng phú, T3, T8 đuổi đánh H2, Pháp và T4. Sau khi đuổi đánh H2, P1, T4 xong P, T3 và T8 cùng với Đ, T6, cầm hung khí đuổi đánh L3 vào phía trong đường kiệt K195 Thái Th B5. Cả nhóm đuổi k p, L3 cầm 01(một) cây dao tự tạo chống lại thì vấp ngã về phía trước, Đ cầm dao tự tạo chém 01(một) nhát trúng vào đầu Lớn nhằm bất tỉnh. Lúc này, Nguyễn Đức B4 chạy đến, nói mọi người trong nhóm dừng lại và đi về, sau đó cả nhóm cầm hung khí đi ra xe ô tô 43A-xxxxx để B4 điều khiển chở về quán cà phê số H Â. Sau đó, T5 mang số hung khí trên đi cất giấu. B4 điều khiển xe ô tô 43A-xxxxx chở P về nhà.
Ngày 14/02/2023, Bùi Xuân P đến C quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, thành phố Đà Nẵng đầu thú và giao nộp xe ô tô nhãn hiệu Peugeot 2008, BKS 43A-xxxxx do Phan Ngọc Đ1 làm chủ sở hữu. Xe ô tô đã được xử lý trả lại cho chủ sở hữu anh Phan Ngọc Đ1 (do anh Đ1 không iết Nguyễn Đắc B2 sử dụng xe tô này của anh vào việc phạm tội). Ngoài ra, trong quá trình khám nghiệm hiện trường thu giữ các vật chứng gồm: 03(ba) chiếc ghế xếp có khung viền màu vàng, phần ghế ngồi và tựa lung màu đen, kích thước 40cm x 67cm x 10cm; 01(một) àn xếp màu vàng, mặt àn hình tròn có đường kính 45cm;
01(một) vỏ ao da màu nâu, kích thước 60cm x 11cm; 01(một) chiếc dép màu đen, kích thước 30cm x 10cm x10cm; 01(một) khúc cây ằng gỗ ống tre, b gãy làm hai phần dài lần lượt là 1,2m và 1,55m; 01(một) con dao có cán ằng nhựa màu đen, lưỡi dao bằng kim loại, kích thước 21cm x02cm; 01(một) khúc cây gỗ, kích thước (1,1 x 0,025 x 0,01) mét và 01(một) con dao cán ằng kim loại, kích thước 46 cm x 06cm, cán dao dài 12cm, tình trạng b cong.
Tại bản kết luận giám đ nh bổ sung tổn thư ng c thể trên người sống số:
65/KLTTCT-TTPYĐN ngày 23/3/2023 của Trung tâm pháp y thành phố Đ xác đ nh Nguyễn Minh L3 b thư ng tích như sau: Vết thư ng vũng giữa đỉnh gây nứt sọ, tụ khí nội sọ đã được phẩu thuật khâu vết thư ng, kích thước 8,5cm x 0,2 cm. Vết thư ng mất án phần vành tai trái dưới lộ sụn đã được phẩu thuật. Vết thư ng vùng cổ- gấy ên trái, đứt án phần c thang đã được phẩu thuật. Tỷ lệ tổn thư ng c thể của Nguyễn Minh L3 tại thời điểm giám đ nh là:26%.
Tại kết luận giám đ nh số: 1385/KL-KTHS ngày 17/7/2023 của Phân viện KHHS tại thành phố Đà Nẵng, kết luận: Trong dấu vết màu nâu đỏ ghi thu tại hiện trường có máu của Nguyễn Minh L3.
2.1. Căn cứ: Điểm n khoản 1 Điều 123, các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Xử phạt: B cáo Ngô Văn Đ: 12 (mười hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 16/3/2023.
2.2. Căn cứ: Điểm n khoản 1 Điều 123, điểm h khoản 1 Điều 52, các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Xử phạt: B cáo Nguyễn Văn T2: 12 (mười hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 12/4/2023.
2.3. Căn cứ: Điểm n khoản 1 Điều 123, các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Xử phạt: B cáo Nguyễn Đắc B2: 12 (mười hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 15/3/2023.
2.4. Căn cứ: Điểm n khoản 1 Điều 123, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57, Điều 58, khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Xử phạt: B cáo Nguyễn Quang T3: 09 (chín) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 17/10/2023.
2.5. Căn cứ: Điểm n khoản 1 Điều 123, các điểm b, s, t khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57, Điều 58, khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Xử phạt: B cáo Bùi Xuân P: 07 (bảy) năm tù (được trừ đi thời gian b tạm giữ từ 14/02 đến ngày 23/02/2023 là 10 ngày), Thời hạn chấp hành hình phạt tù còn lại của b cáo Bùi Xuân P là:06 (sáu) năm, 11(mười một) tháng 20 (hai mư i) ngày tù tính từ ngày bắt 15/6/2023.
Ngoài ra, ản án s thẩm còn quyết đ nh về hình phạt đối với b cáo khác, t ch thu tiền, tài sản liên quan, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.
Trong các ngày 09, 13, 20 tháng 4 năm 2024, các cáo Ngô Văn Đ, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Đắc B2, Nguyễn Quang T3 và Bùi Xuân P có đ n kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa b cáo Nguyễn Văn T2 rút kháng cáo, các cáo Ngô Văn Đ, Nguyễn Đắc B2, Nguyễn Quang T3 và Bùi Xuân P giữ nguyên kháng cáo.
Người ào chữa cho các cáo đề ngh HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ, giảm nhẹ cho các cáo một phần hình phạt.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, đề ngh không chấp nhận kháng cáo của các cáo Ngô Văn Đ, Nguyễn Đắc B2, chấp nhận kháng cáo của các cáo Nguyễn Quang T3 và Bùi Xuân P, sửa án s thẩm giảm hình phạt cho các cáo T3, P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận đ nh như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của các cáo trong thời hạn quy đ nh và đúng trình tự nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm theo quy đ nh của pháp luật. Các hành vi, quyết đ nh tố tụng của cấp s thẩm được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy đ nh của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
[2] Xét kháng cáo của các cáo Tại phiên tòa Nguyễn Văn T2 rút toàn ộ kháng cáo, do vậy HĐXX đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với b cáo T2 theo quy đ nh của pháp luật.
Trên c sở lời khai của các cáo, lời khai của những người liên quan, kết luận giám đ nh, cùng các tài liệu, chứng cứ có tại hồ s vụ án, Hội đồng xét xử có c sở khẳng đ nh:
Chỉ vì lý do nhỏ nhặt, Nguyễn Văn T2 đã kêu các cáo Nguyễn Đắc B2, Ngô Văn Đ, Lưu Hoàng T6, Bùi Xuân P, Nguyễn Quang T7 và Nguyễn Quang T3 đến tại số A đường T, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng, khi đến n i, B2 dừng xe cả nhóm cầm hung khí xông vào quán đuổi đánh nhóm của Nguyễn Minh L3. B cáo Ngô Văn Đ là người trực tiếp cầm hung khí (dao tự tạo) chém 03 nhát vào người của anh L3, trong đó có 02 nhát trúng vào vùng tai trái, vùng cổ và 01 nhát trúng vào vùng giữa đỉnh đầu (vùng trọng yếu trên cơ thể con người) gây nứt sọ, nằm bất tỉnh tại chỗ, Hậu quả của hành vi do các cáo gây ra cho anh Nguyễn Minh L3 b tổn thư ng c thể với tỷ lệ thư ng tích 26%, việc người b hại, anh L3 không chết là do được cứu chữa k p thời, nằm ngoài ý muốn chủ quan của các cáo. Do đó, hành vi của của các cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” quy đ nh tại Điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Vì vậy, Toà án cấp s thẩm xét xử các cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy đ nh của pháp luật.
Đây là vụ án đồng phạm giản đ n, không có sự câu kết chặt chẽ giữa các cáo. Trong vụ án này, cáo Ngô Văn Đ là người trực tiếp sử dụng hung khí (đao tự tạo) chém 03 nhát trúng vào người b hại anh Nguyễn Minh L3, trong đó có 02 nhát trúng vào vùng tai trái, vùng cổ gáy ên trái và 01 nhát trúng vào vùng giữa đỉnh đầu gây nứt sọ (là vùng trọng yếu) trên c thể của b hại gây ra hậu quả với tỷ lệ tổn thư ng c thể 26%, b cáo là người thực hành tích cực, chủ động và gây ra thư ng tích cho hại nên Toà án cấp s thẩm xử phạt b cáo 12 năm tù là phù hợp, có căn cứ.
Tại giai đoạn phúc thẩm mặc dù cáo có vận động gia đình nộp tiền khắc phục hậu quả nhưng với tính chất mức độ phạm tội như trên, xét nhân thân của b cáo và các tình tiết của vụ án xét thấy không có c sở để giảm nhẹ hình phạt cho b cáo Đ. Đối với các cáo Nguyễn Đắc B2, Nguyễn Quang T3 và Bùi Xuân P tham gia trong vụ án chỉ với vai trò đồng phạm giúp sức, các cáo không trực tiếp tác động gây thư ng tích gì cho hại, thư ng tích do b cáo Đ gây ra cho b hại b cũng không lớn, mức độ tham gia của các cáo cũng không quyết liệt, trong đó cáo B2 còn can các cáo dừng lại khi thấy b hại đã ngã xuống đất. B cáo B2 là người điều khiển xe để chở đồng bọn và có nhân thân xấu h n cáo T3, P nên cần áp dụng mức hình phạt cao h n cáo T3, P tuy nhiên mức hình phạt b cáo áp dụng bằng mức hình phạt của các cáo đầu vụ là chưa phù hợp. B cáo P tham gia với vai trò thứ yếu có nhân thân tốt, chưa tiền án tiền sự nên cần áp dụng một hình phạt nhẹ h n.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các cáo thành khẩn khai áo, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tác động gia đình góp tiền bồi thường cho anh Nguyễn Minh L3 số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng), tại phiên tòa anh L3 xin HĐXX xét giảm nhẹ hình phạt cho tất cả các cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình quy đ nh tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS mà các cáo được hưởng để áp dụng chung cho tất cả các cáo.
Trong quá trình điều tra, b cáo Bùi Xuân P là người tích cực hợp tác với c quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm (đồng phạm), đây là tình tiết giảm nhẹ quy đ nh tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS để áp dụng thêm cho cáo P.
B cáo T2, Đ có gia đình có công với cách mạng. B cáo B2 hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha ruột được Thủ tướng Chính phủ tặng Huy hiệu vì nghĩa vụ quốc tế, có ông à nội, ngoại là những người có công với nước được tặng thưởng nhiều Huân, Huy chư ng kháng chiến hạng 3, gia đình có người thân là Liệt sỹ, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đ nh khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) để xem xét áp dụng cho các cáo T2, Đ, B2 khi quyết đ nh hình phạt cho các cáo.
Các cáo xét xử về tội Giết người nhưng hậu quả chết người chưa xẩy ra nên hành vi của các cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt nên được áp dụng quy đ nh tại Điều 15, 57 BLHS để quyết đ nh mức hình phạt phù hợp cho các cáo. Các cáo T3, P có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy đ nh tại khoản khoản 1 Điều 51 BLHS nên Toà án cấp s thẩm áp dụng cho các cáo khoản 1 Điều 54 BLHS là phù hợp.
Sau khi xét xử s thẩm, b cáo Nguyễn Đắc B2, Nguyễn Quang T3 và Bùi Xuân P xuất trình chứng cứ về việc nộp xong toàn ộ số tiền phải bồi thường cho b hại và án phí là 40.200.000 đồng. Tại phiên toà phúc thẩm, các cáo tiếp tục thể hiện thái độ thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải, bản thân gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Gia đình cáo T3 có đ n trình ày có xác nhận của UBND phường về việc b cáo có hai con nhỏ chưa được một tuổi nên cũng cần xem xét hoàn cảnh của b cáo.
Trên c sở các nội dung trên và xét thấy tại giai đoạn phúc thẩm, các cáo Nguyễn Đắc B2, Nguyễn Quang T3 và Bùi Xuân P có thêm tình tiết giảm nhẹ mới nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện để các cáo cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: B cáo Ngô Văn Đ phải ch u án phí hình sự phúc thẩm, các cáo Nguyễn Văn T2, Nguyễn Đắc B2, Nguyễn Quang T3 và Bùi Xuân P không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm theo quy đ nh của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355, 356 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của b cáo Nguyễn Văn T2. Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Ngô Văn Đ. Chấp nhận kháng cáo của các cáo Nguyễn Đắc B2, Nguyễn Quang T3 và Bùi Xuân P; sửa Bản án hình sự s thẩm số 33/2024/HSST ngày 06/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
1.1. Căn cứ: Điểm n khoản 1 Điều 123, các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Xử phạt: B cáo Ngô Văn Đ: 12 (mười hai) năm tù về tội „Giết người”.
Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 16/3/2023.
1.2. Căn cứ: Điểm n khoản 1 Điều 123, điểm h khoản 1 Điều 52, các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Xử phạt: B cáo Nguyễn Văn T2: 12 (mười hai) năm tù về tội “Giết người” Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 12/4/2023.
1.3. Căn cứ: Điểm n khoản 1 Điều 123, các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Xử phạt: B cáo Nguyễn Đắc B2: 10 (mười) năm tù về tội “Giết người”.
Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 15/3/2023.
1.4. Căn cứ: Điểm n khoản 1 Điều 123, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57, Điều 58, khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Xử phạt: B cáo Nguyễn Quang T3: 07 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Giết người”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 17/10/2023.
1.5. Căn cứ: Điểm n khoản 1 Điều 123, các điểm b, s, t khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57, Điều 58, khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Xử phạt: B cáo Bùi Xuân P: 06 (sáu) năm tù (được trừ đi thời gian b tạm giữ từ 14/02 đến ngày 23/02/2023 là 10 ngày) về tội “Giết người”; Thời hạn chấp hành hình phạt tù còn lại của b cáo Bùi Xuân P là: 5 (năm) 11(mười một) tháng 20 (hai mư i) ngày tù tính từ ngày bắt 15/6/2023.
2. Án phí phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 23 Ngh quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
B cáo Ngô Văn Đ phải ch u 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm. Các cáo Nguyễn Đắc B2, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Quang T3 và Bùi Xuân P không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết đ nh khác của Bản án hình sự s thẩm không có kháng cáo, kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật và được thực hiện theo quyết đ nh của Bản án hình sự s thẩm số 33/2024/HSST ngày 06/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tội giết người số 297/2024/HS-PT
| Số hiệu: | 297/2024/HS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân cấp cao |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 28/06/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về