TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 267/2023/HS-ST NGÀY 08/06/2023 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI
Trong ngày 08/6/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, số A đường N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 289/2023/HSST ngày 17/4/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 2252/2023/QĐXXST-HS ngày 24/5/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Trí C; giới tính: nam; sinh ngày 13/10/2002 tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; trình độ học vấn: 08/12; con ông Nguyễn Trí H và bà Nguyễn Thị H1; nghề nghiệp: thợ sơn nước; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con;
Tiền án, tiền sự: không; Bắt, tạm giam: 31/3/2022; Bị cáo có mặt tại phiên tòa. Người bào chữa cho bị cáo:
1.Ông Đinh Ngọc A, luật sư của Công ty L1 và cộng sự, Đoàn luật sư Thành phố H; có mặt.
2.Bà Đoàn Thị Hồng L; luật sư của Công ty L1 và cộng sự, Đoàn luật sư Thành phố H; có mặt.
Bị hại: Chị Cao Thị Hồng N; sinh năm 2002; nơi cư trú: 18D đường T, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
Người làm chứng: Ông Phạm Văn D; sinh năm 2001; nơi cư trú: 289 đường K, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Trí C và chị Cao Thị Hồng N có quan hệ tình cảm với nhau từ nǎm 2016. Nǎm 2021, chị N đi học tại Trường Cao đẳng K. Đến khoảng đầu tháng 3/2022, C nghi ngờ chị N có mối quan hệ tình cảm với người đàn ông khác nên C ghen tuông và hai người thường xảy ra mâu thuẫn.
Ngày 26/3/2022, chị N đang ở nhà tại huyện H, tỉnh Bình Thuận thì các anh Phạm Văn D, Hoàng Lê Anh T và Nguyễn Quốc Thái P (bạn cùng quê với chị N và C) gọi điện thoại rủ chị N đến thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để chơi và uống bia. Khoảng 20 giờ cùng ngày, C dùng xe mô-tô mang biển số 61C1- 621.23 chở chị N đến quán “Hai Anh Em" tại số D đường K, phường H, thành phố T và gặp các anh D, T và P. Trong lúc uống bia, C thấy chị N nhắn tin cho người tên T1 (bạn ở cùng dãy nhà trọ với chị N) nên giữa C và chị N xảy ra tranh cãi. Chị N đi bộ ra bãi giữ xe để lấy đồ còn để trên xe của C, C đi theo nói chuyện và tiếp tục cự cãi. Khi đến chỗ để xe, C mở cốp xe mô-tô, chỉ vào bọc nylon màu đen cuộn lại, bên trong có con dao mũi nhọn, dài khoảng 20cm (loại dao Thái Lan) để trong xe cho chị N xem và nói “Em có tin là anh giết em không?". Chị N lấy đồ xong, rồi đi bộ trên đường P thành phố T. C và anh D mỗi người điều khiển một xe mô-tô chạy theo chị N. Chị N đi được khoảng 500m thì C chạy xe vượt lên bảo chị N dừng lại để nói chuyện. Chị N không dừng lại mà tiếp tục đi. Lúc này, anh D điều khiển xe đến chỗ chị N, khuyên chị N dừng lại nói chuyện với C. Chị N dừng lại và ngồi trên lề đường trước nhà A đường P, phường H, thành phố T. D thì chạy xe lên cách chỗ chị N khoảng 10m, rồi dừng lại và ngồi trên xe bấm điện thoại. Lúc này, C mở cốp xe mô-tô lấy con dao từ trong bọc nylon màu đen cầm trên tay phải, đi bộ đến và ngồi phía bên phải chị N. C và chị N tiếp tục cãi nhau về tin nhắn của T1. C dùng tay tát 01 cái vào mặt chị N làm chị N ngã xuống đường trong tư thế nằm ngửa. C nghiêng người qua bên trái, dùng tay phải cầm dao đâm 01 nhát vào mạn sườn trái của chị N. Sau khi đâm chị N, C thấy hối hạn nên đã buông dao và ngồi ôm chị N. Lúc này, anh D chạy đến đẩy C ra và đá con dao ra xa. Sau đó, anh D điều khiển xe của C chở chị N ngồi giữa còn C ngồi sau ôm chị N đưa đến Bệnh viện Q cấp cứu. Do vết thương quá nặng nên Bệnh viện Q chuyển chị N đến Bệnh viện N1 để phẫu thuật.
Ngày 29/3/2022, anh Cao Văn D1 (anh ruột của chị N) biết được sự việc nên đã đến Công an phường H, thành phố T trình báo.
Ngày 31/3/2022, C bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T bắt tạm giam.
Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 360/TT.20 ngày 18/5/2022 của Trung tâm P1 - Sở Y tế Thành phố H và các tài liệu chứng cứ thu thập, xác định được những nội dung liên quan đến thương tích của chị N như sau:
-Vết thương vùng mạn sườn trái gây thủng đứt da, đứt mặt trước cạnh trong thận trái, đứt ½ đường kính niệu quản trái, đứt nhánh động mạch thận trái, đứt bán phần tĩnh mạch thận chính trái, đứt một nhánh tĩnh mạch thận trái, thủng đại tràng góc lách kèm mạc treo đã được trị khâu mạch máu, thận, niệu quản, mạc treo, cắt đại tràng, nối tận thận, đặt ống thông niệu và dẫn lưu.
-Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 72%.
-Vết thương do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra, gây nguy hiểm đến tính mạng.
-Con dao Thái Lan như bị cáo mô tả (loại dao Thái Lan mũi nhọn, lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 20cm, bề bản lưỡi khoảng 02cm, cán bằng gỗ dài khoảng 15cm) có thể gây ra được thương tích như đã nêu (bl.66-69).
Về vật chứng: Theo sự chỉ điểm của bị cáo và anh D1, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm con dao bị cáo sử dụng gây án nhưng không tìm được.
Về mặt dân sự: Ngày 28/6/2022, gia đình bị cáo đã bồi thường cho chị N 100.000.000đ, chị N không có yêu cầu gì thêm (bl.102).
Tại bản Cáo trạng số 188/CT-VKS-P2 ngày 30/3/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật hình sự).
Tại phiên tòa, Bị cáo khai như sau: Vì ghen tuông nên bị cáo đã có hành vi dùng dao đâm chị N. Tuy nhiên, bị cáo chỉ tính đâm vào mông để hù dọa. Khi ở bãi giữ xe, chị N đã có hành vi tát bị cáo; trước khi đâm chị N, bị cáo quơ tay nên trúng mặt chị N, bị cáo không tát chị N.
Chị Cao Thị Hồng N trình bày ý kiến như sau: Việc bị cáo khai chị tát bị cáo ở bãi giữ xe và việc bị cáo khai quơ tay trúng mặt chị là không đúng. Khi chị ngồi ở lề đường, trước nhà 1032 đường Phạm Văn Đ, bị cáo đã dùng tay phải tát vào mặt chị. Về mặt hình sự, chị đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật; ngoài ra, chị không có yêu cầu gì khác.
Người làm chứng – anh Phạm Văn D – khai như sau: Khi anh khuyên chị N dừng lại nói chuyện với bị cáo, chị N dừng lại ngồi bên lề đường, anh ngồi trên xe máy bấm điện thoại cách vị trí chị N ngồi khoảng 7m – 8m. Lúc bị cáo đâm chị N thì anh không thấy, khi anh chạy lại thì thấy bị cáo ngồi ôm chị N, anh thấy con dao nằm trên đường nên đá con dao văng đi; sau đó anh và bị cáo đưa chị N đến bệnh viện.
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội như sau:
Căn cứ lời khai của bị cáo, kết quả giám định, các tài liệu, chứng cứ thu thập được, có đủ cơ sở để xác định truy tố của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử kết án bị cáo theo toàn bộ nội dung Cáo trạng:
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 đến 14 năm tù về tội “Giết người”.
Ghi nhận việc bị hại đã nhận tiền bồi thường và không có yêu cầu gì thêm.
Các luật sư bào chữa cho bị cáo như sau:
Bị cáo không có động cơ, mục đích giết chị N, bị cáo chỉ có ý định đâm vào mông chị N để hăm dọa nhưng do chị N thay đổi tư thế nên đã bị đâm trúng vào bụng. Bị cáo cũng không có ý thức để mặc hậu quả xảy ra. Ngay sau khi đâm chị N, bị cáo đã cùng anh D đưa chị N đến bệnh viện cấp cứu và chăm sóc chị N trong thời gian chị N ở bệnh viện. Do vậy, không có căn cứ truy tố bị cáo về tội giết người mà chỉ có thể truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích”. Cũng không có căn cứ để xác định bị cáo phạm tội “Có tính chất côn đồ”, bởi lẽ chị N có một phần lỗi, đã chia tay với bị cáo nhưng lại vẫn đi chơi với bị cáo:
Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đó là thành khai khai báo, ăn năn, hối cải, ngăn chặn làm giảm bớt tác hại của tội phạm; tự nguyện tác động đến gia đình để bồi thường chị người bị hại; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, có ông ngoại là người có công với cách mạng. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo với mức án dưới mức thấp nhất trong khung hình phạt.
Bị cáo đồng ý với ý kiến bào chữa của các luật sư.
Chị N tranh luận như sau: Việc các luật sư cho rằng bị cáo không có động cơ giết chị là không đúng. Trước đó, bị cáo đã đe dọa giết bị hại; nếu lúc xảy ra sự việc mà không có anh D thì chưa chắc bị cáo đã đưa chị đến bệnh viện.
Đại diện Viện kiểm sát tranh luận như sau: Bị cáo đã có hành vi đe dọa giết chị N khi ở bãi giữ xe. Khi chị N bỏ đi, bị cáo đi theo, khi chị N dừng lại theo lời khuyên của anh D thì bị cáo đã chủ động lấy dao ngồi gần chị N, sau đó đâm chị N. Không có căn cứ để cho rằng bị cáo chỉ muốn đâm vào mông. Do vậy, việc truy tố bị cáo về tội giết người là đúng pháp luật. Về các tình tiết giảm nhẹ, Viện kiểm sát đã đề nghị áp dụng điểm b và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, còn những nội dung khác mà luật sư nêu ra, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các luật sư bào chữa, đương sự đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2].Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, kết quả giám định, lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng, có căn cứ để xác định:
Bị cáo Nguyễn Trí C và bị hại Cao Thị Hồng N có quan hệ tình cảm nam nữ với nhau.
Chỉ vì ghen tuông vô cớ, vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 26/3/2022, ở tại trước nhà A đường P, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo đã dùng tay đánh vào mặt chị N làm chị N ngã xuống đường; rồi dùng dao nhọn loại dao Thái Lan đâm vào bụng chị N. Sau đó, vì hối hận nên bị cáo đã cùng anh Phạm Văn D đưa chị N đến bệnh viện cấp cứu.
Theo kết quả giám định của cơ quan pháp y, chị N bị vết thương ở mạn sườn trái gây thủng đứt da, đứt mặt trước cạnh trong thận trái, đứt ½ đường kính niệu quản trái, đứt nhánh động mạch thận trái, đứt bán phần tĩnh mạch thận chính trái, đứt một nhánh tĩnh mạch thận trái, thủng đại tràng góc lách; tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 72%; vết thương do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra, gây nguy hiểm đến tính mạng.
[3].Về các nội dung bào chữa của các luật sư và bị cáo:
Vào thời điểm bị cáo cầm dao đâm vào bụng chị Cao Thị Hồng N, bị cáo nhận thức được hành vi của mình có thể tước đoạt mạng sống của chị N nhưng bị cáo vẫn thực hiện; ngay trước đó, khi ở bãi giữ xe, bị cáo cũng đã có hành vi và lời lẽ đe dọa giết chị N. Do vậy, có căn cứ để xác định vào thời điểm thực hiện hành vi, bị cáo có ý định giết chị N. Tội phạm được xác định là đã hoàn thành khi bị cáo đâm chị N. Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Giết người” là có căn cứ. Việc bị cáo cùng với anh Phạm Văn D đưa chị N đến bệnh viện cấp cứu và những hành vi sau đó chỉ là những tình tiết cho thấy bị cáo hối hận về hành vi đã làm và chỉ được xác định là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội làm giảm bớt tác hại của tội phạm”.
Tại phiên tòa, bị cáo khai rằng khi ở bãi giữ xe, chị N đã có hành vi tát bị cáo; khi cùng chị N ngồi trước nhà A đường P, thành phố T, bị cáo không tát chị N mà chỉ quơ tay trúng mặt chị N; bị cáo chỉ đâm vào mông bị hại để hù dọa nhưng do chị N thay đổi tư thế nên bị đâm trúng vào bụng. Những nội dung mà bị cáo khai như đã vừa nêu là mâu thuẫn với nội dung bị cáo đã khai trong quá trình điều tra, không được chị N thừa nhận nên không có cơ sở để tin cậy.
[4].Hành vi của bị cáo đặc biệt nguy hiểm, không chỉ xâm hại trái phép đến quyền được sống, quyền được bảo vệ tính mạng của công dân mà còn xâm phạm đến an toàn trật tự công cộng. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là sai trái, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do bản tính ích kỷ, xem thường tính mạng người khác nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội.
[5].Căn cứ các nhận định đã nêu, đối chiếu với quy định của pháp luật, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.
[6].Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt cần áp dụng đối với bị cáo:
Bị cáo phạm tội lần đầu; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại; ngay sau khi phạm tội, bị cáo đã cùng anh Phạm Văn D đưa người đến Bệnh viện cấp cứu, làm giảm bớt tác hại của tội phạm. Do vậy, cần áp dụng điểm a, b và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt nên cần áp dụng Điều 57 Bộ luật hình sự khi lượng hình.
Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; đặc điểm nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, cần áp dụng hình phạt tù tương xứng để đảm có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho những hành vi tương tự.
[7].Các nhận định đã nêu cũng là căn cứ và lập luận để chấp nhận hoặc không chấp nhận ý kiến bào chữa của bị cáo và các luật sư.
[8].Về các biện pháp tư pháp: Tại phiên tòa, chị Cao Thị Hồng N cho biết đã nhận 100.000.000đ do gia đình bị cáo bồi thường; đồng thời, chị N cho biết không có yêu cầu gì khác. Căn cứ theo Điều 585 Bộ luật dân sự 2015, cần ghi nhận nội dung này.
[9].Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ n khoản 1 Điều 123; điểm a, b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 57 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 585 Bộ luật dân sự 2015,
1.Xử phạt bị cáo Nguyễn Trí C 13 (mười ba) năm tù về tội “Giết người”, thời hạn tù tính từ ngày 31/3/2022.
2.Ghi nhận tại phiên tòa các nội dung sau: Gia đình bị cáo đã thay mặt bị cáo bồi thường cho chị Cao Thị Hồng N 100.000.000đ; chị N không có yêu cầu gì khác đối với bị cáo.
3.Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
4.Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tội giết người số 267/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 267/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 08/06/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về