TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
BẢN ÁN 25/2025/HS-PT NGÀY 09/01/2025 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI
Ngày 09 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1190/2024/TLPT-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Đình L, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 539/2024/HS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Đình L, sinh năm 1989 tại Hà Nội; nơi ĐKTT: Đội 4 thôn C, xã V, huyện H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; giới tính: nam; con ông Nguyễn Đình T và bà Nguyễn Thị Đ; bị cáo khai có vợ là Lưu Thị N (chưa đăng ký kết hôn) và 02 con (sinh năm 2008 và năm 2014); tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2024 tại Trại giam S Công an thành phố H (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình L: Ông Dương Văn C, Luật sư của Văn phòng Luật sư Dương Văn C thuộc Đoàn Luật sư thành phố H (có mặt).
- Bị hại: Anh Đỗ Viết T1, sinh năm 1991 - chết ngày 18/9/2010.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1973 (là mẹ đẻ anh Đỗ Viết T1); địa chỉ: thôn L, xã V, huyện H, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
Ngoài ra, vụ án còn có 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng cáo kháng nghị (Tòa án không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 10/9/2010, anh Nguyễn Sỹ C1 tổ chức đám cưới và dựng rạp tại nhà ở Đ, thôn C, xã V, huyện H, thành phố Hà Nội. Buổi tối ngày 10/9/2010, anh C1 mời họ hàng và một số bạn bè đến uống nước tại đám cưới. Khoảng 20 giờ cùng ngày, anh Đỗ Viết T1 cùng các anh Đỗ Viết B, Nguyễn Viết N1, Nguyễn Công C2, Nguyễn Viết T2 và Đỗ Viết T3 đi ngang qua đám cưới nhà anh C1. Mặc dù không quen biết anh C1 nhưng nhóm anh Đỗ Viết T1 vẫn vào trong rạp cưới ngồi uống nước và nghe nhạc.
Trong lúc nhóm anh Đỗ Viết T1 đang uống nước thì Nguyễn Đình L ngồi ở bàn nước bên cạnh tung chén nước trúng vào bàn của nhóm anh T1 làm vỡ chiếc chén, dẫn đến hai bên xảy ra mâu thuẫn cãi chửi nhau. Sau đó, hai nhóm cùng cầm ghế nhựa giơ lên đe dọa và đuổi đánh nhau chạy ra khỏi rạp cưới. Do bị một số người trong rạp cưới đuổi đánh nên anh N1, anh C2, anh T2 và anh T3 bỏ chạy theo nhiều hướng khác nhau. Còn anh Đỗ Viết T1 nhặt 02 viên gạch cầm trên hai tay đuổi theo Nguyễn Đình L chạy dọc theo đường thôn C hướng rẽ vào ngõ nhà ông Nguyễn Sỹ H1 (là hàng xóm gần nhà anh C1); anh B cũng chạy cùng hướng với anh Đỗ viết T1 nhưng không cầm theo đồ vật gì. Cùng lúc này, anh Nguyễn Sỹ T4 từ trong rạp cưới thấy ồn ào nên cũng cầm 01 viên gạch chạy phía sau anh Viết T1. Khi anh Viết T1 đuổi L chạy đến khu vực ngã ba rẽ vào nhà ông Nguyễn Sỹ H1, cách rạp cưới khoảng 30m thì anh Sỹ T4 đuổi kịp anh Viết T1. Lúc này, anh Sỹ T4 nhận ra anh Viết T1 là bạn học cũ nên vứt viên gạch đang cầm trên tay đi và hỏi: “Ông có biết tôi là ai không?”, Anh Viết T1 trả lời: “Tôi lạ gì ông nữa” thì anh Sỹ T4 nói: “Ông bỏ gạch xuống không đánh nhau nữa, đi về đi”. Anh Viết T1 nghe theo và vứt bỏ 02 viên gạch đi. Anh Sỹ T4 hỏi: “Sao lại đánh nhau thế này?” thì anh Viết T1 trả lời: “Đang ngồi thì có thằng nó cầm chén nước ném vào bàn”.
Khi anh Viết T1 và anh Sỹ T4 đang nói chuyện thì Nguyễn Đình L từ phía trong ngõ chạy đến sau lưng anh Viết T1, tay phải cầm 01 viên gạch (dạng viên gạch lục có lỗ, chiều dài 21cm) giơ lên đập 01 nhát trúng đỉnh đầu bên trái của anh Viết T1 làm anh Viết T1 gục ngã xuống đường, viên gạch rơi xuống đất bị vỡ. Sau đó, L nhảy qua người anh Viết T1 bỏ chạy. Cùng lúc đó, Nguyễn Đình T5 là em họ của L thấy anh Viết T1 ngã xuống đất liền chạy tới dùng chân đạp vào ngực anh Viết T1 rồi bỏ chạy. Thấy anh Viết T1 bị thương nặng nên anh Sỹ T4 cùng anh B sơ cứu băng bó vết thương rồi cùng mọi người đưa anh Viết T1 đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện Q, sau đó chuyển đến Bệnh viện Q1 điều trị. Ngày 18/9/2010 anh Viết T1 bị tử vong do chấn thương sọ não.
Còn Nguyễn Đình L đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú, đến ngày 10/01/2024 thì bị bắt theo Quyết định truy nã.
Sau khi xảy ra vụ việc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, thành phố Hà Nội tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng, trưng cầu giám định nguyên nhân tử vong của anh Đỗ Viết T1.
Tại bản Kết luận giám định số 2215/C54(P6) ngày 05/10/2010, V1 - T8 Bộ C3 kết luận về nguyên nhân tử vong của anh Đỗ Viết T1 như sau:
“Vùng đầu, mặt, cổ:
- Tụ máu dưới da đầu vùng thái dương - đỉnh trái, kích thước (11x10)cm.
- Nứt vỡ xương đỉnh - thái dương trái, đoạn xương đỉnh kích thước (2,2x0,1)cm; đoạn xương thái dương tích thước (1,7x0,2)cm; bai khớp thái dương đỉnh trái; tụ máu ngoài màng cứng ngay dưới vị trí tổn thương xương, đường kính 5cm.
- Máu tụ dưới màng cứng toàn bộ bán cầu đại não phải. Kết luận:
- Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não làm vỡ xương sọ và máu tụ nội sọ.
- Cơ chế hình thành thương tích: vết thương vùng đỉnh - thái dương trái do vật tác động trực tiếp gây nên”.
Tại bản Kết luận giám định số 2387/C54(P3) ngày 09/11/2010, V1 - T8 Bộ C3 kết luận: “03 mẩu gạch vỡ thu tại mép đường bên trái tại đường T, V Côn hướng từ Bắc đi N, giáp với tường bao nhà ông Nguyễn Trọng Q và 01 viên gạch lục dạng gạch lỗ bị vỡ một đầu, thu tại vườn cỏ sữa phía sau nhà ông Nguyễn Trọng Q, được vỡ ra từ một viên gạch”...
Tại bản Kết luận giám định số 2387/C54(P4) ngày 10/11/2010, V1 - T8 Bộ C3 kết luận: “... 03 mẩu gạch vỡ thu tại mép đường bên trái tại đường T, V Côn hướng từ Bắc đi N, giáp với tường bao nhà ông Nguyễn Trọng Q gửi đi giám định cùng loại gạch với 01 viên gạch dạng gạch có lỗ bị vỡ một đầu thu ở vườn cỏ sữa phía sau nhà ông Nguyễn Trọng Q”...
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 400.000.000 đồng, đại diện hợp pháp bị hại không yêu cầu gì thêm.
2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 539/2024/HS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 39 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Đình L tù chung thân, về tội Giết người; thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2024.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng; nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm; phổ biến quyền kháng cáo cho bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người liên quan theo quy định.
3. Kháng cáo: Ngày 20/9/2024, bị cáo Nguyễn Đình L có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
4. Tại phiên tòa phúc thẩm:
4.1. Bị cáo Nguyễn Đình L giữ nguyên đơn kháng cáo và trình bày: Bị cáo không quen biết gì bị hại và bị cáo không cố ý tước đoạt mạng sống của bị hại.
Khi bị cáo đang ngồi trong đám cưới thì nhóm bị hại vào ngồi ở bàn bên cạnh; bị cáo đang chơi trò tung hứng chiếc chén thì có người đi qua va vào tay bị cáo làm chiếc chén văng sang bàn của nhóm bị hại, lập tức bị cáo bị nhóm bị hại dùng ghế tấn công, bị cáo ôm đầu tránh và bỏ chạy ra ngoài. Khi bị cáo chạy thì nhóm bị hại đuổi theo sau, nhưng do bị cáo chạy vào trong ngõ cụt nên lúc quay ra bị cáo thấy có 2 người tay vẫn cầm gạch; bị cáo nghĩ những người này chờ đánh bị cáo, bị cáo đã dùng viên gạch nhặt được ném về phía bị hại để chạy thoát thân chứ không dùng gạch đập vào đầu bị hại. Thấy bị hại buông gạch ngồi xuống ôm đầu, bị cáo chạy vào nhà cô bị cáo ngay gần đó và đi lên tầng 3 thì nhìn thấy T1 đỡ bị hại nằm xuống và bị cáo thấy bị hại quằn quại nên bị cáo gọi điện thoại cho anh rể ra cùng T1 đưa bị hại đi cấp cứu. Sau đó khoảng 2 ngày do lo sợ quá nên bị cáo bỏ trốn, đến khi bị cáo biết bị hại chết thì bị cáo đã có ý định đến cơ quan công an trình báo nhưng chưa kịp trình báo thì đã bị công an bắt giữ.
4.2. Chủ toạ phiên toà công bố một số tài liệu do ông Nguyễn Đình T (là bố đẻ bị cáo L) gửi đến Toà án gồm có: 01 Giấy chứng nhận tham gia dân công hoả tuyến của Bộ cấp cho ông Nguyễn Đình T6 (là ông nội bị cáo); 01 Giấy chứng nhận tham gia dân công hoả tuyến của Bộ cấp cho bà Nguyễn Thị B1 (là bà nội bị cáo); 01 Giấy biên nhận tiền do ông Đỗ Viết T7 (là chú ruột bị hại) viết ngày 06/11/2024 xác nhận gia đình bị cáo L đã tự nguyện bồi thường tổn thất về tinh thần cho gia đình bị hại số tiền 20.000.000 đồng; 01 Đơn đề nghị do ông Đỗ Viết T7 (là chú ruột bị hại) viết có nội dung gia đình bị hại đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L; 01 Biên lai thu tiền của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội thu số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm do ông Nguyễn Thiện P nộp thay cho bị cáo Nguyễn Đình L.
4.3. Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Quá trình tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác chấp hành nội quy phiên tòa và thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội, có đủ cơ sở xác định Toà án cấp sơ thẩm xét xử và quy kết bị cáo phạm tội “Giết người” là đúng người, đúng tội, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội. Tại phiên tòa phúc thẩm, gia đình bị cáo xuất trình một số tình tiết giảm nhẹ mới như: ông bà nội là người có công với cách mạng; gia đình bị cáo tiếp tục bồi thường 20.000.000 đồng cho gia đình người bị hại; gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận các tình tiết giảm nhẹ này và xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
4.4. Người bào chữa cho bị cáo là Luật sư Dương Văn C phát biểu ý kiến: Luật sư nhất trí với tội danh mà bị cáo đã bị truy tố, xét xử, tuy nhiên mức hình phạt Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là quá nặng. Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại 400 triệu đồng và sau khi xét xử sơ thẩm tiếp tục hỗ trợ thêm 20 triệu đồng, gia đình bị hại cũng nhận thức rằng vụ việc có phần lỗi của bị hại nên đã có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo; bị cáo có ông bà nội là người có công với cách mạng; gia đình bị cáo đã nộp án phí thay cho bị cáo. Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, áp dụng chính sách khoan hồng của pháp luật, giảm cho bị cáo một phần hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo để sớm được trở về chăm sóc gia đình, hoà nhập và trở thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Trên cơ sở xem xét lời khai của bị cáo, lời khai của những người làm chứng và căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 20 giờ ngày 10/9/2010, trong khi ngồi tại rạp đám cưới nhà anh Nguyễn Sỹ C1 tại Đ, thôn C, xã V, huyện H, thành phố Hà Nội. Do Nguyễn Đình L làm rơi chiếc chén vào bàn uống nước của nhóm anh Đỗ Viết T1, Nguyễn Viết N1, Nguyễn Công C2, Nguyễn Viết T2, Đỗ Viết T3, Đỗ Viết B, dẫn đến xô xát cãi chửi nhau giữa Nguyễn Đình L cùng một số thanh niên thôn C với nhóm anh Đỗ Viết T1; hai bên cùng cầm ghế nhựa đuổi đánh nhau từ trong rạp cưới ra trục đường liên thôn C, anh Đỗ Viết T1 nhặt 02 viên gạch cầm trên 02 tay chạy đuổi theo L. Thấy vậy, anh Nguyễn Sỹ T4 cũng chạy đuổi theo anh Viết T1, khi hai người nhận ra quen nhau thì anh Viết T1 dừng lại, bỏ gạch xuống và đứng nói chuyện cùng anh Sỹ T4. Cùng lúc này, L từ trong ngõ chạy ra, tay phải cầm 01 viên gạch đập 01 nhát trúng đỉnh đầu bên trái của anh Viết T1 làm anh Viết T1 gục ngã xuống đường. Anh Viết T1 được đưa đi cấp cứu và điều trị đến ngày 18/9/2010 thì bị tử vong do chấn thương sọ não.
Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình L phạm vào tội “Giết người” thuộc trường hợp “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình L xin giảm mức hình phạt thì thấy: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội từ hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng của bị cáo. Đồng thời, đã xác định bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự do: quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại 400.000.000 đồng và đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có ông bà nội đã từng tham gia dân công hỏa tuyến và bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội là có căn cứ. Ngoài các tình tiết trên, xem xét toàn diện vụ án thì thấy nguyên nhân dẫn đến bị cáo phạm tội cũng có một phần lỗi của bị hại. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù chung thân đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc. Sau khi xét xử sơ thẩm, mặc dù gia đình bị hại không có yêu cầu nhưng gia đình bị cáo tiếp tục bồi thường cho gia đình bị hại 20.000.000 đồng bù đắp về tổn thất tinh thần và đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Như vậy, kháng cáo của bị cáo và ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận để sửa một phần bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn là phù hợp, vừa thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nhưng cũng bảo đảm tính nghiêm khắc đối với người phạm tội và đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm.
[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí: Căn cứ vào điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/ NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 539/2024/HS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Đình L.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Đình L 20 (hai mươi) năm tù, về tội “Giết người”; thời hạn tù tính từ ngày 10 tháng 01 năm 2024.
2. Các quyết định của Bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng; án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Đình L không phải chịu.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 09 tháng 01 năm 2025).
Bản án về tội giết người số 25/2025/HS-PT
| Số hiệu: | 25/2025/HS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân cấp cao |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 09/01/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về