Bản án về tội giết người số 231/2024/HS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 231/2024/HS-PT NGÀY 19/03/2024 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Ngày 19 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 1420A/2023/TLPT-HS ngày 05 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo Hoàng Anh T, do có kháng cáo của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 148/2023/HS-ST ngày 25/10/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Bị cáo có kháng cáo: Họ và tên: Hoàng Anh T, sinh ngày 18 tháng 10 năm 2007 (khi thực hiện hành vi phạm tội ngày 17/11/2022, bị cáo 15 tuổi 29 ngày) tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm L, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Hoàng Thanh B và bà Vương Thị S; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/11/2022 đến nay; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Hoàng Thanh B, sinh năm 1975 và bà Vương Thị S, sinh năm 1976; cùng trú tại: Xóm L, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Trung T1, Văn phòng L2, Đoàn Luật sư tỉnh N; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại có kháng cáo: Ông Trần Đình Đ, sinh năm 1969; trú tại: Xóm Đ, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An; có mặt.

- Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Phạm Đức T2, sinh năm 1960; trú tại: Xóm Đ, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Cháu Nguyễn Trọng T3, sinh năm 2007; trú tại: Xóm H, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Trọng H; trú tại: Xóm H, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An; có mặt.

- Trong vụ án còn có 02 bị cáo, 04 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác không kháng cáo, không bị kháng nghị và 10 người làm chứng không triệu tập tham gia phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 17/11/2022, nhóm nam thanh niên có 14 người gồm: Hoàng Anh T, Nguyễn Trọng T3, Hà Văn S1, Hà Văn V, Nguyễn Trọng Ngọc T4, Nguyễn Sỹ T5, Vương Văn L, Nguyễn Hữu T6, Võ Huy M, Đậu Quốc H1, Lê Thị N, Phạm Thị Y, Nguyễn Thị Lê P và Hoàng Thị T7 rủ nhau ngồi chơi tại ghế đá thuộc xóm H, xã H, huyện Y. Đến khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày, Nguyễn Trọng T3 điều khiển xe máy chở Lê Thị N và Phạm Thị Y; Hoàng Thị T7 điều khiển xe đạp điện chở Nguyễn Thị Lê P đi từ xã H về xã M. Do bình ắc quy xe của T7 hết điện nên T3 vừa điều khiển xe vừa dùng chân đẩy xe của T7. Khi đi qua cầu chợ A1, thuộc xóm C, xã M, huyện Y, nhóm của T3 gặp nhóm 09 người gồm: Trần Đình T8, Phạm Văn D, Bùi Huy K, Trần Đình M1, Trần Đình T9, Trần Đình T10, Trần Đình T11, Trần Văn K1 và Phan Thị L1 đang ngồi chơi trên đê, cách cầu chợ A1 khoảng 15m. Trần Đình T8 nhìn thấy nhóm của T3 đi qua nên nói với Trần Đình T9 “Hình như thằng nớ chở người yêu cũ của tau”, rồi điều khiển xe máy chở T9 đuổi theo nhóm của T3. Khi nhóm của T3 đi đến chợ A1 thuộc xã M, huyện Y (cách cầu chợ A1 khoảng 200m) thì T8 đuổi kịp, đi ngang với xe của T3 và nói với T3 “Khi nãy mi đi qua dọi đèn vào mặt anh hơi chói”, T3 trả lời “Dạ”, N ngồi sau nói với T3 “Đ1 nói chi cả”, T8 tiếp tục nói “Giừ bọn anh nhìn mặt mi ghét muốn đập mi thì phải làm răng?”, N nói với T3: “Chạy đi không hấn đập mi đó”, T3 không đẩy xe đạp điện của T7 nữa mà tăng ga điều khiển xe bỏ chạy, T8 điều khiển xe đuổi theo, vượt lên chặn trước xe của T3 lại và nói: “Địt mẹ mi có dừng lại không?”, T3 tiếp tục lách qua xe của T8 rồi chạy thẳng về nhà N ở xóm Đ, xã M, huyện Y. T8 và T9 không đuổi theo nữa mà quay về cầu chợ A1, ngồi cùng nhóm bạn.

Khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày, T7 và P đi xe đạp điện về nhà N, gặp T3, N và Y. Y dùng điện thoại gọi (qua M2) cho Nguyễn Trọng Ngọc T4, nói: “Thằng T3 bị quân nớ hấn đuổi đập” nhưng T4 không tin, Y đưa máy cho T3, T3 nói với Ngọc T4: “Lên dẫn tau về với, tau bị bọn trên ni chặn đường không cho tau về” và kể cho Ngọc T4 nghe việc vừa xảy ra, Ngọc T4 nói: “Đợi tí, choa đang lên”. Sau đó, Ngọc T4 nói với Hoàng Anh T, Hà Văn V, Hà Văn S1, Nguyễn Sỹ T5, Vương Văn L, Nguyễn Hữu T6, Võ Huy M, Đậu Quốc H1 (đang ngồi chơi tại ghế đá, xóm H, xã H) cùng đi đến xã M đón T3 về, tất cả đều đồng ý. T nói với M và S1 “Chở tau về cất điện thoại rồi lấy đồ luôn”, M điều khiển xe máy chở S1 và T đi về nhà T, T đi bộ vào khu vực đồng ruộng sau nhà lấy 01 con dao (loại dao tự chế, lưỡi dao bằng kim loại dài 17cm, mũi dao nhọn, cán bằng gỗ dài 53cm, phần lưỡi và cán dao được nối lại, quấn chặt bằng túi ni lông màu vàng chanh), T cởi áo khoác, bọc con dao rồi quay lại. Sau đó M điều khiển xe máy chở V và T; Sỹ T5 điều khiển xe máy chở Ngọc T4 và S1; L điều khiển xe đạp điện chở Hữu T6 và H1 cùng đi đến xã M. Trên đường đi qua cầu chợ A1, nhóm của T nhìn thấy nhóm của Đình T8 đang đứng chơi trên đê nhưng không nói gì và tiếp tục đi đến nhà N. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Sỹ T5 điều khiển xe chở Ngọc T4 và S1 đi đến gặp T3 tại cổng nhà N, T3 nói: “Quân nớ khi nại hấn đòi đập tau”, Ngọc T4 nói: “Q thằng T đang đi sau”, sau đó Sỹ T5 chở Ngọc T4, T3 chở S1 đi về. Đi được khoảng 02 km, Thái đổi cho S1 điều khiển xe, sau đó gặp M chở V và T đang đi ngược chiều, T3 và S1 cùng nói: “Quay lại đi”. M quay xe lại, đi ngang với T3. T hỏi T3: “Bây bịp tau à?” (ý nói T3 lừa nhóm của T lên đón T3 về). T3 trả lời: “Tau bịp chi bây”. Lúc này, T kéo áo khoác bọc con dao ra, để lộ mũi dao ra ngoài rồi nói: “Có lên đập không, hấn có mấy thằng đứng trên cầu thôi”. T3 và S1 không nói gì. Đi thêm một đoạn, nhóm của T gặp L điều khiển xe đạp điện chở Hữu T6 và H1. Hữu T6 nói: “Dừng lại chở choa với”, rồi Hữu T6 lên xe T3, L lên xe Sỹ Thắng còn H1 một mình đi xe đạp điện phía sau.

Khoảng 21 giờ 35 phút cùng ngày, nhóm của T đi đến cầu S, thấy nhóm của Đình T8 đang đứng trên đê, cách mép cầu khoảng 15m. Nhóm của T dừng xe, đi bộ đến gần nhóm của Đình T8. Ngọc T4 hỏi: “Khi nại thằng mô đòi đập bạn tau?”, K trả lời: “Nhà em có biết chi mô?”, T3 hỏi: “Khi nại thằng mô đòi đập tau?”. Lúc này Trần Đình M1 bật đèn điện thoại lên dọi vào mặt Ngọc T4 nên Ngọc T4 cầm mũ bảo hiểm (loại lưỡi trai) đánh vào đầu M1 làm gãy mũ, M1 dùng tay đấm Ngọc T4; T3 tiếp tục nhìn 1 lượt và phát hiện ra Đình T8 đang ngồi trên yên xe máy, T3 đi đến đấm 1 phát vào mặt, Đình T8 xuống xe đấm vào mặt T3. Lập tức Hữu Thắng, Văn V, Văn S1, Huy M và Anh T lao vào đánh nhau với Đình M1 và Đình T8. Đình M1 bị T3 dùng tay đánh vào đầu, bị Ngọc T4 đấm, đá, ném đá vào người; bị Huy M cầm chìa khóa xe máy rạch vào mặt và tay, bị Văn S1 dùng tay đấm vào người; T cầm dao định chém Đình M1 thì bị Đình T8 kéo lại, giằng co dao trên tay T làm cán dao và lưỡi dao bị rời ra, rơi xuống đất; Đình M1 ôm đầu bỏ chạy. Lúc này nhóm của T lao vào đánh Đình T8, T nhặt cán dao đánh vào đầu, vào người Đình T8, Đình T8 nắm được cổ áo T, dùng tay đấm vào mặt T, T3 kéo tay Đình Thành ra, dùng tay đấm vào mặt Đình T8, V cầm đá đập Đ nhưng đập nhầm vào đầu S1. Ngay lúc đó, T nhặt lưỡi dao dưới đất lên tay trái giữ cổ áo Đình T12, tay phải cầm dao đâm 03 nhát liên tục vào người của Đình T12; Đình T12 ôm ngực kêu lên: “Thôi, thôi, chảy máu rồi”. T thấy T12 chảy máu, liền hô lên “Về, về”. Sau đó nhóm của T lên xe, đưa S1 đi băng bó vết thương tại Trạm y tế xã P, huyện Y. Trần Đình T8 được đưa đi cấp cứu tại Trạm y tế xã M nhưng ngay sau đó đã tử vong.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 265/KL-KTHS(GĐ-PY) ngày 23/11/2022 của phòng K2 Công an tỉnh N kết luận: “1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Bên ngoài nạn nhân bị nhiều vết thương, xây xát, mài miết, mất lớp thượng bì da, rách da, sưng phù nề, bầm tụ máu.

- Bao tim và động mạch phổi bị thủng, khoang lồng ngực trái và bao tim chứa khoảng 1500ml máu đông và không đông.

- Các tạng màu nhạt.

- Xương sườn số 3 bên trái bị đứt.

2. Nguyên nhân chết: Suy tuần hoàn cấp do vết thương thấu ngực làm thủng bao tim, động mạch phổi và đứt xương sườn số 3 bên trái.” Tại Bản Kết luận giám định số 41/KL-KTHS(Đ2-SV) ngày 30/11/2022 của phòng K2 Công an tỉnh N kết luận:

“- Máu của tử thi Trần Đình T8 gửi tới giám định thuộc nhóm máu O.

- Các chất màu nâu thu tại hiện trường được đánh số thứ tự 01, 02 và 03 gửi tới giám định đều là máu người, đều thuộc nhóm máu O.

- Trên con dao gửi tới giám định có dính máu, lượng dấu vết ít không xác định được là máu người hay máu động vật.

- Trên bộ quần áo (chiếc áo sơ mi ngắn tay bằng vải đen và chiếc quần bò dài màu đen) do bà Vương Thị S giao nộp gửi tới giám định không tìm thấy dấu vết máu người.” Vật chứng thu giữ của vụ án: 01 (một) thanh gỗ hình trụ tròn có đường kính là 02cm, dài 53cm, một đầu có dấu vết gãy nham nhở (đã cũ); 01 mảnh gỗ có màu sắc và đặc điểm giống với thanh gỗ hình trụ tròn đã thu trước đó, có kích thước (11,8 x 2cm); 01 túi ni lông màu vàng chanh có dạng được gấp lại và cuốn thành hình tròn; các mảnh vỡ nhựa màu đen nằm rải rác, khi ghép lại thấy có hình dạng chiếc mũ bảo hiểm; 01 (một) con dao bằng kim loại màu trắng dài 22,5cm, mũi dao nhọn, lưỡi dao dài 17cm, nơi rộng nhất 05cm, dao không có cán, chuôi dao dài 5,5cm, nơi rộng nhất của chuôi dao 2,5cm.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà người đại diện hợp pháp của bị hại ông Trần Đình Đ (bố của bị hại) yêu cầu bị cáo Hoàng Anh T bồi thường tiền mai táng 50.000.000 đồng; tiền cấp dưỡng cho ông Trần Đình Đ 50.000.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần theo quy định của pháp luật. Bị cáo và gia đình đồng ý bồi thường theo yêu cầu của ông Trần Đình Đ. - Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 148/2023/HSST ngày 25 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã quyết định:

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hoàng Anh T 11 (mười một) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 18/11/2022.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 586; Điều 591 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Anh T bồi thường cho ông Trần Đình Đ số tiền 280.000.000 (hai trăm tám mươi triệu) đồng nhưng được trừ số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng đã bồi thường trước, còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 230.000.000 (hai trăm ba mươi triệu) đồng. Trường hợp, bị cáo Hoàng Anh T không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường đủ số tiền 230.000.000 (hai trăm ba mươi triệu) đồng cho ông Trần Đình Đương t cha mẹ của bị cáo Hoàng Anh T là ông Hoàng Thanh B và bà Vương Thị S phải tiếp tục bồi thường cho ông Trần Đình Đ cho đến khi đủ số tiền 230.000.000 (hai trăm ba mươi triệu) đồng.

Bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo Võ Huy M, Nguyễn Trọng Ngọc T4; tuyên nghĩa vụ thi hành án dân sự, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo, giải thích quy định về chế định án treo đối với các bị cáo M, T4 theo quy định của pháp luật.

Ngày 04/11/2023, bị cáo Hoàng Anh T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 06/11/2023, đại diện hợp pháp của người bị hại ông Trần Đình Đ kháng cáo với nội dung: Bản án sơ thẩm còn bỏ lọt tội phạm là người cầm đầu, chủ mưu; tại phiên toà sơ thẩm Nguyễn Trọng T3 đã khai thừa nhận tham gia đánh đấm vào người, mặt Trần Đình T8, khi Trần Đình T8 ngã xuống thì Hoàng A T dùng dao nhọn đâm chết Trần Đình T8, Toà án cấp sơ thẩm không xử lý hình sự Nguyễn Trọng T3 về tội “Giết người” là bỏ lọt tội phạm; yêu cầu những người tham gia đánh đập Trần Đình T8 chết phải liên đới bồi thường dân sự; việc bồi thường thiệt hại là còn ít, tiền mai táng phí 133.000.000 đồng nhưng mới được tính 50.000.000 đồng, tiền bồi thường tổn thất tinh thần 100.000.000 đồng nhưng mới được tính 50.000.000 đồng. Do đó đề nghị huỷ bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại.

Tại phiên toà phúc thẩm:

- Bị cáo Hoàng Anh T giữ nguyên đơn kháng cáo và trình bày: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã thành khẩn khai báo, đã bồi thường cho gia đình bị hại, khi phạm tội chưa đủ 16 tuổi nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; do đó xin giảm nhẹ một phần hình phạt để sớm trở về với gia đình.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo Hoàng Anh T phạm tội khi mới hơn 15 tuổi và chưa đủ 16 tuổi nên nhận thức pháp luật thấp; bị cáo rất thành khẩn nhận tội và đã bồi thường cho gia đình người bị hại nên đề nghị giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa sau khi phân tích, nội dung và các tình tiết của vụ án có quan điểm:

+ Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Kháng cáo của bị cáo Hoàng Anh T và kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại ông Trần Đình Đ là trong hạn và đúng quy định pháp luật nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

+ Về nội dung:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng Anh T như bản án sơ thẩm đã phân tích và nhận định. Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, đã tước đoạt quyền được sống của anh Trần Đình T8 nên cần xử phạt thật nghiêm minh. Tại cấp phúc thẩm gia đình bị cáo xuất trình một số tài liệu về việc ông nội, ông bà ngoại của bị cáo có tham gia kháng chiến, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến và có xác nhận về việc tham gia kháng chiến chống Mỹ, đây được coi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được áp dụng thêm cho bị cáo. Tuy nhiên xét thấy mức hình phạt bản án sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tội phạm, hậu quả xẩy ra, các đặc điểm về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Đối với nội dung kháng cáo của đại diện hợp pháp người bị hại, xét thấy: Khi Hoàng Anh T gặp T3, Sáng từ xã M đi về thì T có kéo áo khoác bọc con dao ra, để lộ mũi dao ra ngoài rồi nói: “Có lên đập không, hấn có mấy thằng đứng trên cầu thôi” nhưng T3 và S1 không nói gì. Khi gặp nhóm của Hoàng Anh T gặp nhóm của Trần Đình T8 thì các bên nhảy vào đánh nhau; tham gia đánh nhau gồm có: Hoàng Anh T, Ngọc T4, L, H, T3, Sỹ T5, Trần Đình T8, Trần Đình M1, Văn V, Văn S1, Huy M. Trong lúc đánh nhau Hoàng Anh T cầm dao định chém Trần Đình M1 thì bị Trần Đình T8 kéo lại, giằng co dao trên tay làm cán dao và lưỡi dao rời ra, rơi xuống đất; bị đánh nên Trần Đình M1 bỏ chạy còn lại Trần Đình T8. Lúc đó Hoàng Anh T nhặt lại được cán dao nên sử dụng cán dao đánh vào đầu, vào người Trần Đình T8 thì bị Trần Đình T8 nắm được cổ áo và dùng tay đấm vào mặt; Nguyễn Trọng T3 kéo tay Trần Đình T8 ra, dùng tay đấm vào mặt Trần Đình T8; Hà Văn V cầm đá đập Trần Đình T8 nhưng đập nhầm vào đầu của Hà Văn S1. Ngay lúc đó, Hoàng Anh T nhặt được lưỡi dao dưới đất lên, tay trái T giữ cổ áo Trần Đình T8, tay phải cầm dao đâm 03 nhát liên tục vào người của Trần Đình T8. Khi thấy Trần Đình T8 chảy máu thì T hô nhóm của mình đi về. Như vậy, khi Hoàng Anh T nhặt lại và sử dụng lưỡi dao đâm Trần Đình T8 thì Nguyễn Trọng T3 và những người khác không biết, không có ai cùng có ý chí hoặc tiếp nhận ý chí của T về việc dùng dao đâm Trần Đình T8. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm đã trả hồ sơ điều tra bổ sung, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An và Cơ quan điều tra Công an tỉnh N đã tiến hành điều tra bổ sung nhưng không chứng minh được Nguyễn Trọng T3 đồng phạm với Hoàng Anh T về tội “Giết người” nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp của người bị hại ông Trần Đình Đ. Về trách nhiệm dân sự: Xét thấy nguyên nhân dẫn đến người bị hại chết là do bị cáo Hoàng A T dùng dao đâm nên bản án sơ thẩm chỉ buộc bị cáo và gia đình bị cáo Hoàng Anh T phải bồi thường là đúng pháp luật. Đối với các khoản bồi thường, mức bồi thường bản án sơ thẩm đã buộc bị cáo và gia đình bị cáo phải bồi thường cho đại diện hợp pháp của người bị hại tổng cộng 280.000.000 đồng là đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Anh T và kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại ông Trần Đình Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; không có khiếu nại, tố cáo. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về tội danh: Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Hoàng Anh T khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận bản án sơ thẩm xét xử là đúng người, đúng tội, không oan.

Lời khai của bị cáo Hoàng Anh T phù hợp với lời khai khai của các bị cáo khác và các tài liệu có trong hồ sơ, có đủ căn cứ kết luận: Vào hồi 21 giờ 30 phút ngày 17/11/2022, tại khu vực cầu S thuộc địa phận xóm C, xã M, huyện Y nhóm của Hoàng Anh T gồm có: Hoàng Anh T, Nguyễn Trọng Ngọc T4, Võ Huy M, Nguyễn Trọng T3, Hà Văn S1, Hà Văn V, Nguyễn Hữu T6 cùng tham gia đánh anh Trần Đình M1 và anh Trần Đình T8; Nguyễn Trọng Ngọc T4 dùng mũ bảo hiểm đánh vào đầu và dùng đá ném vào người anh Trần Đình M1; Võ Huy M dùng chìa khóa xe máy rạch vào mặt, tay anh Trần Đình M1; Hà Văn S1 dùng tay đấm vào người anh Trần Đình M1. Trong quá trình tham gia đánh nhau, Hoàng Văn T13 sử dụng con dao mang theo định chém Trần Đình M1 thì bị Trần Đình T8 bắt được làm cán dao và lưỡi dao rời ra, rơi xuống đất; trong lúc tiếp tục đánh nhau thì Hoàng Anh T nhặt lại được lưỡi dao và đã sử dụng lưỡi dao đâm anh Trần Đình T8 03 nhát vào vùng ngực, vùng bụng, hậu quả làm anh Trần Đình T8 tử vong. Do đó, bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Hoàng Anh T về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật. [2.2] Xét kháng cáo của bị cáo Hoàng Anh T, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Tính chất của vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng Anh T là đặc biệt nguy hiểm, đã trực tiếp tước đoạt tính mạng của anh Trần Đình T8, không những gây đau thương mất mát cho gia đình bị hại mà còn gây mất trật tự trị an - an toàn xã hội nên cần xét xử nghiêm minh để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được bản án sơ thẩm xem xét, áp dụng; tại cấp phúc thẩm gia đình bị cáo Hoàng Anh T nộp thêm tài liệu xác định gia đình bị cáo có ông nội là Hoàng Bá H2 (Hoàng Viết H3), ông bà ngoại là ông Vương Thế T14, bà Phạm Thị N1 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến và tham gia kháng chiến, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được áp dụng thêm cho bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy mức hình phạt bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo Hoàng Anh T là có căn cứ pháp luật, phù hợp với tính chất hành vi phạm tội, hậu của của tội phạm, các đặc điểm về nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo nên không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

[2.3] Xét kháng cáo của đại diện hợp pháp của người bị hại ông Trần Đình Đ, Hội đồng xét xử nhận thấy:

- Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ xác định được: Khi nhận được thông tin Nguyễn Trọng T3 bị nhóm người ở xã M, huyện Y đuổi đánh, chặn không cho về thì Hoàng Anh T và nhóm bạn gồm Nguyễn Trọng Ngọc T4, Hà Văn V, Hà Văn S1, Nguyễn Sỹ T5, Vương Văn L, Nguyễn Hữu T6, Võ Huy M, Đậu Quốc H1 đang ngồi chơi tại ghế đá, xóm H, xã H cùng nhau đi đến xã M. Trên đường đi Hoàng Anh T nói với M và Sáng “Chở tau về cất điện thoại rồi lấy đồ luôn”, M điều khiển xe máy chở S1 và T đi về nhà của T, T đi bộ vào sau nhà lấy 01 con dao (loại dao tự chế, lưỡi dao bằng kim loại dài 17cm, mũi dao nhọn, cán bằng gỗ dài 53cm, phần lưỡi và cán dao được nối lại, quấn chặt bằng túi ni lông màu vàng chanh), T cởi áo khoác, bọc con dao rồi quay lại. Sau đó M, V, T, Sỹ T5, Ngọc T4, S1, L, Hữu T6 và H1 cùng đi đến xã M. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày Sỹ T5, Ngọc T4 và S1 gặp T3 tại cổng nhà N, T3 nói: “Quân nớ khi nại hấn đòi đập tau”, Ngọc T4 nói: “Q thằng T đang đi sau”, sau đó Sỹ T5 chở Ngọc T4, T3 chở S1 đi về. Đi được khoảng 02 km thì gặp M chở V và T đang đi ngược chiều, T3 và S1 cùng nói: “Quay lại đi”. M quay xe lại, đi ngang với T3. T hỏi T3: “Bây bịp tau à?” (ý nói T3 lừa nhóm của T lên đón T3 về), T3 trả lời: “Tau bịp chi bây”. Lúc này, T kéo áo khoác bọc con dao ra, để lộ mũi dao ra ngoài rồi nói: “Có lên đập không, hấn có mấy thằng đứng trên cầu thôi” nhưng T3 và S1 không nói gì. Đi thêm một đoạn, nhóm của T gặp L, Hữu T6 và H1; Hữu T6 nói: “Dừng lại chở choa với” rồi Hữu T6 lên xe T3, L lên xe Sỹ Thắng còn H1 một mình đi xe đạp điện phía sau. Khoảng 21 giờ 35 phút cùng ngày, nhóm của T đi đến cầu S, thấy nhóm của Đình T8 đang đứng trên đê, cách mép cầu khoảng 15m. Nhóm của Hoàng A T dừng xe, đi bộ đến gần nhóm của Trần Đình T8; Ngọc T4 hỏi: “Khi nại thằng mô đòi đập bạn tau?”, K trả lời: “Nhà em có biết chi mô?”, T3 hỏi: “Khi nại thằng mô đòi đập tau?”. Lúc này Trần Đình M1 bật đèn điện thoại lên dọi vào mặt Ngọc T4 nên Ngọc T4 cầm mũ bảo hiểm (loại lưỡi trai) đánh vào đầu M1 làm gãy mũ, M1 dùng tay đấm Ngọc T4; T3 phát hiện ra Trần Đình T8 đang ngồi trên yên xe máy nên đi đến đấm 1 phát vào mặt, Đình T8 xuống xe đấm vào mặt T3. Lập tức Hữu Thắng, Văn V, Văn S1, Huy M và Hoàng Anh T lao vào đánh nhau với Đình M1 và Đình T8. Đình M1 bị T3 dùng tay đánh vào đầu; bị Ngọc T4 đấm, đá, ném đá vào người; bị Huy M cầm chìa khóa xe máy rạch vào mặt và tay; bị Văn S1 dùng tay đấm vào người. Lúc đó Hoàng Anh T cầm dao định chém Trần Đình M1 thì bị Trần Đình T8 kéo lại, giằng co dao trên tay làm cán dao và lưỡi dao rời ra, rơi xuống đất; bị đánh nên Trần Đình M1 bỏ chạy còn lại Trần Đình T8. Lúc đó Hoàng Anh T nhặt lại được cán dao nên sử dụng cán dao đánh vào đầu, vào người Trần Đình T8 thì bị Trần Đình T8 nắm được cổ áo và dùng tay đấm vào mặt; Nguyễn Trọng T3 kéo tay Trần Đình T8 ra, dùng tay đấm vào mặt Trần Đình T8; Hà Văn V cầm đá đập Trần Đình T8 nhưng đập nhầm vào đầu của Hà Văn S1. Ngay lúc đó, T nhặt được lưỡi dao dưới đất lên, tay trái T giữ cổ áo Trần Đình T8, tay phải cầm dao đâm 03 nhát liên tục vào người của Trần Đình T8; khi T thấy T8 chảy máu thì hô nhóm của mình đi về. Như vậy, khi Hoàng Anh T nhặt lại và sử dụng lưỡi dao đâm Trần Đình T8 thì Nguyễn Trọng T3 và những người khác không biết; Nguyễn Trọng T3 và những người khác không có ai tiếp nhận ý chí của Hoàng Anh T về việc dùng dao đâm anh Trần Đình T8. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm cũng đã trả hồ sơ điều tra bổ sung; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Cơ quan điều tra Công an tỉnh N đã tiến hành điều tra bổ sung nhưng kết quả điều tra bổ sung kết luận không đủ căn cứ khởi tố Nguyễn Trọng T3 đồng phạm với Hoàng Anh T về tội “Giết người” nên kháng cáo của đại diện hợp pháp của người bị hại cho rằng còn bỏ lọt người phạm tội là không có cơ sở chấp nhận.

- Đối với nội dung kháng cáo yêu cầu những người tham gia đánh Trần Đình T8 phải liên đới bồi thường; yêu cầu xem xét lại mức bồi thường: Xét thấy bị cáo Hoàng Anh T là người trực tiếp dùng dao đâm và gây ra cái chết của anh Trần Đình T8 nên bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường dân sự. Do bị cáo chưa đủ tuổi thành niên nên bản án sơ thẩm tuyên nghĩa vụ bồi thường dân sự đối với bố mẹ của bị cáo là phù hợp và đúng pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của bị hại ông Trần Đình Đ yêu cầu bồi thường tiền mai táng 50.000.000 đồng; tiền cấp dưỡng cho ông Trần Đình Đ 50.000.000 đồng; tiền bồi thường về tổn thất tinh thần đề nghị tính theo quy định của pháp luật; bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo Hoàng Anh T đồng ý với yêu cầu bồi thường. Do đó, bản án sơ thẩm buộc bị cáo Hoàng Anh T phải bồi thường các khoản: Tiền mai táng 50.000.000 đồng, tiền cấp dưỡng cho ông Trần Đình Đ 50.000.000 đồng; tiền bồi thường về tổn thất về tinh thần được tính 100 tháng lương cơ sở x 1.800.000 đồng/tháng = 180.000.000 đồng; tổng các khoản phải bồi thường là 280.000.000 đồng; bị cáo và gia đình đã bồi thường trước 50.000.000 đồng nên bản án sơ thẩm tuyên buộc bị cáo Hoàng Anh T và bố mẹ bị cáo phải bồi thường cho ông Trần Đình Đ 230.000.000 đồng là đã tính đầy đủ các khoản tiền phải bồi thường theo đúng yêu cầu của ông Đ và đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp của người bị hại.

[3] Với những nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Anh T và kháng cáo của đại diện hợp pháp của người bị hại ông Trần Đình Đ; giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Về án phí: Kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Hoàng Anh T và ông Trần Đình Đ phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo dưới khung hình phạt nhưng không áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự là thiếu sót nhưng không gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án nên cấp phúc thẩm bổ sung điều luật cho phù hợp nhưng cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; xử:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Anh T và kháng cáo của đại diện hợp pháp người bị hại ông Trần Đình Đ; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 148/2023/HSST ngày 25 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An như sau:

- Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101; Điều 54 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hoàng Anh T 11 (mười một) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/11/2022.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 586; Điều 591 Bộ luật Dân sự:

+ Buộc bị cáo Hoàng Anh T bồi thường cho ông Trần Đình Đ số tiền 280.000.000 (hai trăm tám mươi triệu) đồng, được trừ số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng đã bồi thường trước, còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 230.000.000 (hai trăm ba mươi triệu) đồng.

+ Trường hợp, bị cáo Hoàng Anh T không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường đủ số tiền 230.000.000 (hai trăm ba mươi triệu) đồng cho ông Trần Đình Đương t cha mẹ của bị cáo Hoàng Anh T là ông Hoàng Thanh B và bà Vương Thị S phải tiếp tục bồi thường cho ông Trần Đình Đ cho đến khi đủ số tiền 230.000.000 (hai trăm ba mươi triệu) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

2. Về án phí: Bị cáo Hoàng Anh T và ông Trần Đình Đ mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

113
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội giết người số 231/2024/HS-PT

Số hiệu:231/2024/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:19/03/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về