TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 196/2025/HS-PT NGÀY 27/03/2025 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI
Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm – Phòng xét xử trực tuyến, trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần – Phòng xét xử trực tuyến, trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng mở phiên tòa trực tuyến xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 76/2025/TLPT-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Trần Văn C; Do có kháng cáo của bị cáo Trần Văn C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 70/2024/HS-ST ngày 16 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2025/QĐXXPT-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Trần Văn C, sinh năm 1991, tại Thanh Hoá; nơi thường trú: Tổ T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 09/12; con ông: Trần Văn T; con bà: Lê Thị C1; vợ: Bùi Thị Mỹ H; con: Có 2 người con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 05/4/2022 bị Công an thành phố Đ xử phạt 1.500.000đ về hành vi đánh bạc, bị cáo đóng tiền phạt ngày 20/4/2022.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/10/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn C: Luật sư Vũ Thành N – Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh L (có mặt).
Địa chỉ: Số E H, phường C, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
(Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo Trần Phước Đ, bị hại nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 ngày 23/07/2023, sau khi uống rượu xong thì Trần Văn C cùng với Trần Phước Đ và Nguyễn Văn H1 đến Karaoke Moon ở địa chỉ: số B T - Phường A - Tp Đ - tỉnh Lâm Đồng để hát. Tại thời điểm đó, đang hát trong quán K có: Lê Nguyễn Bảo X, Phạm Thúc T1 và Tưởng Văn H2. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày thì Trần Văn C, Trần Phước Đ đến quầy thanh thoán tiền để về. Trong lúc đợi thanh toán tiền thì Đ đi vệ sinh ngang qua phòng mà X, T1 đang hát. Do đã uống nhiều rượu bia nên Đ nhìn nhầm T1 là H3 (người có mâu thuẫn trước đó với Đ) nên Đ xuống dẫn C đi lên chỉ cho C thấy nhóm của T1 và rủ C đánh nhóm của T1. C đồng ý rồi cả hai ra ngoài cổng quán karaoke đứng đợi nhóm của T1. Sau đó Đ điều khiển xe mô tô đi về nơi Đ đang làm thuê lấy 01 cây gậy ba khúc dài khoảng 20 cm, 01 con dao tự chế bằng kim loại dài khoảng 30 cm rồi quay lại quán Karaoke. Đ đưa cho C cầm gậy ba khúc, còn mình thì cầm dao chờ nhóm anh T1 ra để đánh.
Khoảng 10 phút sau, nhóm của T1 thanh toán tiền và ra xe ô tô để đi về; khi đó X lên ngồi ghế lái xe, T1 ngồi ở ghế phụ, H2 thì ngồi hàng ghế sau. Thấy vậy thì Đ và C đi tới chỗ xe ô tô của nhóm T1; Đ mở cửa phụ phía trước xe, dùng tay kẹp cổ kéo T1 ra ngoài, nhưng X giữ người Tuân lại. Khi H2 (ngồi phía sau) xuống xe can ngăn thì Đ rút dao ra hăm dọa không cho H2 can ngăn; lúc đó C cầm gậy ba khúc đánh và thúc đầu gậy ba khúc nhiều cái vào người của T1. Bị C đánh thì T1 leo qua ghế lái ra ngoài bằng cửa trước bên trái xe rồi chạy vào trong khu vực bếp của quán Karaoke. C cầm gậy ba khúc đuổi theo T1. Chạy vào trong bếp quán K thì C cầm gậy ba khúc đánh nhiều cái vào người của T1, T1 ôm và giằng co qua lại vơi C. Cùng lúc đó Đ cầm dao chạy vào, đến chỗ T1 và C thì Đ cầm dao trên tay trái chém nhiều nhát vào vùng đầu T1. Thấy vậy thì X chạy vào căn ngăn, Đ quay lại cầm dao chém liên tiếp nhiều cái vào vùng đầu của X.
Trong khi bị đánh, chém thì T1 lấy được con dao ở trong bếp, T1 cầm dao khống chế C và nói với Đ: “dừng lại, không tao cắt cổ thằng này”, nghe vậy thì Đ dừng lại, không chém X nữa, rồi C và Đ bỏ đi.
Anh X và T1 bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh L. Còn C chở Đ bỏ đi và đã vứt bỏ hung khí trên đường chạy trốn (hiện không thu giữ được).
Người bị hại:
1. Anh Lê Nguyễn Bảo X, sinh năm: 1985, nơi cư trú: thôn Đ, xã X, Tp Đ, tỉnh Lâm Đồng. Anh Lê Nguyễn Bảo X bị 02 sẹo đỉnh chẩm lần lượt là: 5 x 0,3cm, 5 x 0,3cm; Sẹo đỉnh kích thước 5 x 0,4cm; Sẹo trán trái kích thước 4 x 0,3cm; Nứt sọ trán trái. Bản kết luận giám định số: 446/KLTTCT-PYLĐ ngày 08/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh L kết luận, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của anh Lê Nguyễn Bảo X là: 16%, tổn thương do vật sắc gây nên. Quá trình điều tra, gia đình bị cáo Trần Văn C đã bồi thường cho anh X số tiền 50 triệu đồng, hiện anh X yêu cầu bị cáo C và bị cáo Đ phải tiếp tục bồi thường số tiền 500 triệu đồng.
2. Anh Phạm Thúc T1, sinh năm: 1986, nơi cư trú: thôn G, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Anh Phạm Thúc T1 bị ba sẹo trán thái dương có kích thước lần lượt là: 7 x 0,2cm, 1 x 0,2cm, 3 x 0,2cm; Sẹo trán trái kích thước 4 x 0,2cm; dập não xuất huyết, trán phải, vỡ xương bản sọ trán đỉnh phải; Sẹo mổ kích thước 27 x 0,2cm; khuyết sọ kích thước 12 x 13cm. Bản kết luận giám định số 469/KLTTCT-PYLĐ ngày 18/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh L kết luận, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của anh Phạm Thúc T1 là: 48%, tổn thương do vật sắc và vật tày nên. Quá trình điều tra, gia đình bị cáo Trần Văn C đã bồi thường cho anh T1 số tiền 70 triệu đồng, hiện anh T1 yêu cầu bị cáo C và bị cáo Đ phải tiếp tục bồi thường số tiền 800 triệu đồng.
Vật chứng thu giữ: 01 USB màu đen nhãn hiệu SanDisk dung lượng 32 GB chứa dữ liệu camera tại hiện trường vụ án.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 70/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, đã quyết định:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Giết người”.
- Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 38; Điều 57 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn C 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam 13/10/2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Trần Phước Đ, về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 23 tháng 12 năm 2024, bị cáo Trần Văn C có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Xét đơn kháng cáo của bị cáo về hình thức đúng quy định pháp luật, về thời gian đúng thời gian quy định nên đơn kháng cáo hợp lệ.
Về nội dung: Do không có mâu thuẫn gì với các bị hại, bị cáo thực hiện hành vi dùng gậy ba khúc cũng như dùng hung khí khác là dao chém nhiều nhát vào người các bị hại gây thương tích, các bị hại không chết là ngoài ý muốn của các bị cáo. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến tính mạng của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội do đó cần phải xử lý nghiêm. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định của pháp luật. Mức án tuyên đối với bị cáo 09 (chín) năm tù về tội “Giết người” là thỏa đáng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư Vũ Thành N trình bày ý kiến tranh luận:
Việc quy kết cho bị cáo Trần Văn C phạm tội “Giết người” với vai trò đồng phạm là chưa được chặt chẽ. Một số tài liệu, chứng cứ, nghĩa vụ chứng minh có thể một số hành vi do bị cáo không cung cấp, chỉ trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại cấp sơ thẩm bị cáo thừa nhận.
Sau khi bị cáo được Đ rủ đi đánh bị hại là anh Lê Nguyễn Bảo X và Phạm Thúc T1 thì ý thức của bị cáo là gây thương tích cho bị hại. Sự việc xảy ra lần thứ nhất là tại chỗ xe ô tô thì vai trò của bị cáo chỉ dùng gậy ba khúc thúc vào người của T1 cũng không gây thương tích cho bị hại. Trong quá trình bị cáo rượt đuổi thì T1 từ xe chạy vào khu vực bếp, qua quá trình bị cáo rượt đuổi thì bị cáo đã dùng gậy ba khúc đánh vào người của anh T1, sau khi anh T1 khống chế bị cáo thì Đ mới chém vào đầu của anh T1 và anh X. Việc Đ dùng dao chém vào anh T1 và anh X là nằm ngoài ý chí của bị cáo và bị cáo không thể nào ngăn cản Đ khi bị cáo đang bị anh T1 ôm giữ và khống chế thể hiện trong đơn xin thay đổi tội danh và giảm nhẹ hình phạt của bị hại gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm. Trong đơn 02 bị hại cũng xác nhận khi Đ chém về phía anh T1 thì bị cáo đang bị khống chế, vết thương trên sẹo chân trái của anh T1 qua nghiên cứu hồ sơ thì cũng kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét có phải do bị cáo C gây ra hay không.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 17 của Bộ luật Hình sự “Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành”. Trong vụ án này đối với ý thức và ý chí của bị cáo thì khi Đ dùng dao tác động lên vùng trọng yếu của bị hại thì lúc này bị cáo đã bị bị hại là anh T1 khống chế, bị cáo không thể nào ngăn cản hành vi của Đ lên 02 bị hại. Cơ chế vết thương của bị hại cũng có thể không do bị cáo tác động. Tại Công văn số 100/TANDTC-PC ngày 13/6/2023 hướng dẫn áp dụng Án lệ số 47/2021/AL và quy kết cho bị cáo đối với tội “Giết người”. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét vấn đề về hành vi, về cơ chế tác động, vấn đề về ý thức chủ quan của bị cáo để xem xét, đánh giá ngoài việc chứng minh bị cáo đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm tấn công vào vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại thì cần phải xem xét, đánh giá toàn diện các tài liệu, chứng cứ của vụ án, các tình tiết thể hiện tính chất, mức độ của hành vi, cơ chế hình thành vết thương, sự quyết liệt trong thực hiện hành vi, vị trí cơ thể bị hại mà bị cáo có ý định tấn công để chứng minh ý thức chủ quan của bị cáo là cố ý thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho tính mạng của bị hại; hành vi của bị cáo thể hiện sự côn đồ, hung hãn, quyết liệt, coi thường tính mạng người khác; bị hại không chết là ngoài ý thức, mong muốn chủ quan của bị cáo.
Trong đơn kháng cáo bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về tội danh của bị cáo có phù hợp hay không. Điều này hoàn toàn phù hợp với đơn xin thay đổi tội danh và giảm nhẹ hình phạt của 02 bị hại đã gửi đến Tòa án cấp phúc thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét toàn diện vụ án, căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét lại vấn đề áp dụng hình phạt và xác định tội danh của bị cáo có phù hợp hay không.
Bị cáo Trần Văn C trình bày ý kiến tranh luận: Trong đơn kháng cáo bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xin bổ sung thêm nội dung kháng cáo là xin Hội đồng xét xử xem xét lại tội danh cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của Luật sư và của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp lệ của đơn kháng cáo của bị cáo Trần Văn C được làm trong thời hạn luật định. Do đó, đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đã có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 23/07/2023, tại khu vực T - Phường A - thành phố Đ - tỉnh Lâm Đồng, bị cáo C đồng ý nhận hung khí từ bị án Đ, cùng bị án Đ đợi nhóm bị hại, cùng đến xe của bị hại. Trần Văn C dùng gậy ba khúc, Trần Phước Đ dùng dao đánh, chém liên tiếp nhiều cái vào vùng trọng yếu (vùng đầu) trên cơ thể anh Phạm Thúc T1; Trần Phước Đ dùng dao đánh, chém liên tiếp nhiều cái vào vùng trọng yếu (vùng đầu) trên cơ thể anh Lê Nguyễn Bảo X. Hậu quả theo Bản kết luận giám định số 469/KLTTCT-PYLĐ ngày 18/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh L kết luận, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của anh Phạm Thúc T1 là: 48%, tổn thương do vật sắc và vật tày và theo Bản kết luận giám định số: 446/KLTTCT-PYLĐ ngày 08/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh L kết luận, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của anh Lê Nguyễn Bảo X là: 16%, tổn thương do vật sắc gây nên.
Hành vi trên đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Trần Văn C phạm tội “Giết người” theo quy định tại điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự như cấp sơ đã truy tố, xét xử bị cáo Trần Văn C là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan nên không chấp nhận kháng cáo xin thay đổi tôi danh của bị cáo.
[3] Xét tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm, hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện tính côn đồ đã xâm hại tính mạng, sức khỏe của 02 người được pháp luật bảo vệ. Khi thực hiện hành vi các bị cáo nhận thức được hậu quả chết có thể xảy ra nhưng các bị cáo đã thực hiện hành vi một cách quyết liệt, quyết tâm thực hiện đến cùng. Khi bị anh T1 cầm dao khống chế bị cáo C thì Đ mới dừng lại, không chém anh X nữa. Trong vụ án này, đối với bị cáo C tham gia với vai trò giúp sức tích cực. Do vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện nhằm trừng trị, răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cũng như thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
[4] Xét kháng cáo của bị hại kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy, khi quyết định hình phạt Toà án sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo như: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 57 Bộ luật Hình sự là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo Trần Văn C. Bị cáo C đã bồi thường cho bị hại T1 số tiền 155.000.000 đồng, bồi thường cho bị hại X số tiền 64.244.000 đồng nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo C được các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên áp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tính chất mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của các bị cáo thực hiện phạm tội chưa đạt nên áp dụng Điều 15; khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự.
Do vậy, xét mức án 09 năm tù mà Toà án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, không nặng.
Tại phiên toà hôm nay bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có thêm tình tiết giảm nhẹ gì mới, do vậy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Trần Văn C phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
[6] Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn C. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 70/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
Tuyên xử:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Giết người”.
- Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 38; Điều 57 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn C 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam 13/10/2023.
2. Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Văn C để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Văn C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tội giết người số 196/2025/HS-PT
| Số hiệu: | 196/2025/HS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân cấp cao |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 27/03/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về