Bản án về tội giết người số 169/2023/HS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

BẢN ÁN 169/2023/HS-ST NGÀY 22/12/2023 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Ngày 22 tháng 12 năm 2023. Tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 164/2023/TLST-HS ngày 24/11/2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 166/2023/QĐXXST-HS ngày 07/12/2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Dương Văn H, sinh năm 1968, tại: huyện V, tỉnh Hưng Yên; Giới tính: Nam;

ĐKHKTT: thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 07/10; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông Dương Văn D, sinh năm 1942 và bà Phạm Thị L, sinh năm 1945; Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo con thứ nhất; Có vợ là Sái Thị S, sinh năm 1969 và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1990 và con nhỏ nhất sinh năm 2005;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/8/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Tiến L1 - Luật sư, Văn phòng L2, Đoàn luật sư tỉnh H (có mặt).

* Những người bị hại:

1/Chị: Dương Thị T, sinh năm 1980 (đã chết);

Trú tại: thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên;

Đại diện gia đình người bị hại: Bà Hoàng Thị H1, sinh năm 1959;

Trú tại: thôn T, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên;

2/Anh: Dương Văn M, sinh năm 1978;

Trú tại: thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên;

Có mặt tại phiên tòa;

*Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/Bà: Hoàng Thị H1, sinh năm 1959;

Trú tại: thôn T, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên;

2/Anh: Dương Văn M, sinh năm 1978 3/Cháu: Dương Văn T1, sinh năm 2000;

4/Cháu: Dương Thị Ngọc M1, sinh năm 2005;

5/Cháu: Dương Thị Bích N, sinh năm 2014;

Người giám hộ của cháu N là anh Dương Văn M;

Đều trú tại: thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên;

Có mặt tại phiên tòa.

Những người làm chứng:

1/Bà: Sái Thị S, sinh năm 1969 (có mặt);

Trú tại: thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên;

2/Ông: Bùi Văn A, sinh năm 1958;

Trú tại: thôn T, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên;

3/Bà: Phạm Thị L, sinh năm 1945;

Trú tại: thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

4/Anh: Nguyễn Văn P, sinh năm 1991;

Trú tại: thôn A, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên;

5/Ông: Lê Văn H2, sinh năm 1971;

Trú tại: thôn T, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên;

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Gia đình Dương Văn H, sinh năm 1968 và gia đình em trai Dương Văn M, sinh năm 1978 ở thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên ở cạnh nhau. H cho rằng M làm xưởng gỗ tại đây gây bụi bẩn và ảnh hưởng đến sức khỏe của nhà H nên hai bên thường xuyên xảy ra cãi, chửi nhau.

Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 07/8/2023, anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1991, trú tại: thôn A, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên điều khiển xe ba bánh chở gạch lát nền cho nhà anh M. Khi đi vào ngõ đi chung của hai nhà, anh H và vợ là chị Sái Thị S, sinh năm 1969 ra bảo với anh P không cho xe chở gạch đi vào trong ngõ vì sợ xe chở vật liệu làm hỏng cổng thoát nước. Anh P xuống xe đi bộ vào nhà anh M gặp vợ anh M là chị Dương Thị T, sinh năm 1980 nói về việc H không cho xe chở gạch đi vào ngõ, chị T gọi điện cho anh M về. Khi về nhà, anh M nói với anh P “cứ lùi vào đi, không phải sợ”, sau đó vợ chồng anh M đi ra khu vực cổng, chị T nói với vợ chồng H “đất nhà mày đâu mà mày cầm, đứa nào có quyền cầm”, còn anh M chửi “Đ. mẹ cái loại chó, chúng mày bắt nạt nhà tao” nên H chửi chị T ”Đ. mẹ mày, mày có quyền gì tranh chấp đất nhà tao” thì chị T chỉ tay vào mặt H và nói ”Đ. mẹ con chó này, mày gậm được nổi L tao thì tao cho chúng mày gậm đây này”. Do bức xúc trước thái độ và lời nói của vợ chồng anh M nên H chạy vào trong bếp nhà H lấy 01 con dao, dạng dao bầu dài 31cm, có phần chuôi làm bằng gỗ dài 12,5cm, phần lưỡi sắc nhọn bằng kim loại dài 18,5cm, có một cạnh sắc, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 5,5cm cất vào trong túi quần dài bên phải đang mặc rồi chạy ra sân nhà chị T. Thấy chị T đang đứng ở sân, H lao đến dùng tay trái đấm một nhát về phía mặt chị T, chị T lùi lại nên không trúng, H tiếp tục tiến đến đứng đối diện với chị T, cách chị T khoảng 0,7m, dùng tay lấy dao trong túi quần ra thì anh M đang đứng ở trong phòng khách nhìn thấy, kêu to “Vợ ơi, chạy đi không ông ấy đâm chết đấy”, chị T chưa kịp phản ứng thì bị H dùng tay phải cầm dao đâm liên tiếp 03 nhát theo chiều hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái trúng vào vùng ngực, bụng chị T. Chị T kêu “ối, ối” và bị ngã xuống nền. H tiếp tục chạy vào phòng khách, khi đối diện cách anh M khoảng 0,7m, tay phải H cầm dao đâm một nhát về phía bụng anh M theo chiều hướng từ dưới lên trên, từ ngoài vào trong, anh M né sang bên phải nên bị dao đâm trượt làm rách áo, rách da chảy máu kéo dài từ vùng bụng lên vùng ngực trái. Anh M dùng tay phải túm vào tay phải đang cầm dao của H gạt sang bên trái đồng thời dùng hai tay túm vào phần chuôi dao và gọi ông Bùi Văn A là thợ xây đang làm trong nhà M “ông A ơi, ra giữ dao hộ cháu, không nó đâm chết cháu”, hai bên giằng co làm anh M bị lưỡi dao cứa rách cánh tay phải, ngón út bàn tay phải. H giằng dao để tiếp tục đâm anh M nên bị mũi dao cứa rách da, chảy máu ở các ngón bàn tay trái. Thấy vậy, ông A lao vào ôm ghì, khóa hai tay của H lại nên anh M giằng được dao từ tay H. Khi đó, chị T tiến đến dùng hai tay cầm một cào có cán bằng tre dài 1,24m, lưỡi bằng kim loại, kích thước (30x20)cm bổ một nhát theo chiều từ trên xuống dưới trúng vào vùng vai bên phải của H làm H bị thương rách da, chảy máu ở vai rồi H đi về nhà. Chị T được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ, sau chuyển đến Bệnh viện V nhưng do vết thương nặng nên đã tử vong cùng ngày.

Sau khi đâm chị T và anh M, Dương Văn H đã đến Công an huyện V đầu thú, giao nộp: 01 quần dài vải màu nâu (dạng quần kaki) và 01 áo phông cộc tay màu trắng, cổ tròn, niêm phong ký hiệu M8; 01 đôi dép màu đen, niêm phong ký hiệu M9; Xem xét dấu vết thân thể của Dương Văn H, xác định: Tại vị trí gốc của ngón tay chỏ và ngón cái bên trái; đốt 2, ngón 3 bàn tay trái; đốt 3, ngón 4 bàn tay trái, giữa đốt 2 và đốt 3 bàn tay trái có các vết rách da, chảy máu đã cầm.

Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường vụ án là nhà anh Dương Văn M. Tại hiên nhà (bậc tam cấp thứ 3) trên bề mặt tấm bạt dứa (vỏ bao xi măng) có 02 đám dịch màu đỏ dạng nhỏ giọt tạo đám, thu giữ chất dịch, niêm phong ký hiệu M4, M5. Tại bên phải cửa ra vào (tính từ ngoài vào trong) phát hiện, thu giữ 01 dao (dạng dao bầu) dài 31cm, chuôi làm bằng gỗ dài 12,5cm có đường kính 2,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 18,5cm, có một cạnh sắc, mũi dao nhọn, phần rộng nhất của lưỡi dao là 5,5cm, niêm phong ký hiệu M6; trên mặt nền nhà rải rác chất màu đỏ dạng nhỏ giọt có KT (120x480)cm, thu giữ chất dịch màu đỏ, niêm phong ký hiệu M7.

Kết quả khám nghiệm tử thi chị Dương Thị T: Vùng ngực hai bên nằm trên đường giữa sát xương mũi ức có vết rách da nằm ngang được khâu bằng 02 mũi chỉ rời, cắt chỉ vết rách da có kích thước (05x0,7)cm, khép vết rách da có kích thước (5,2x0,2)cm, bờ mép vết thương sắc gọn, hướng cạnh sắc quay sang trái, chiều hướng từ trên xuống dưới, từ trái qua phải. Vùng bụng bên phải cách đường giữa 01cm, cách mào chậu trước bên phải 22,5cm có vết rách da nằm ngang được khâu bằng 03 mũi chỉ rời, cắt chỉ vết rách da có kích thước (6,5x01)cm, khép vết rách da có kích thước (07x0,2)cm, bờ mép vết thương sắc gọn, hướng cạnh sắc quay sang trái, vuốt đuôi chuột sang trái, chiều hướng từ trái sang phải, từ trên xuống dưới. Vùng bụng bên trái cách đường giữa 1,5cm, cách mào chậu trước bên trái 20cm có vết rách da nằm ngang được khâu bằng 01 mũi chỉ rời, cắt chỉ vết rách da có kích thước (6,5x1,4)cm, khép vết rách da có kích thước (07x0,2)cm, bờ mép vết thương sắc gọn, hướng cạnh sắc quay sang trái, chiều hướng từ trái qua phải, từ trên xuống dưới. Tử thi còn có một số vết bầm tím ở vùng gáy và tứ chi.

Mổ vùng ngực, bụng thấy: Rách đứt xương ức phía bên phải, kích thước (03x02)cm. Vết rách da bụng bên phải chưa xuyên thấu vào khoang bụng, độ sâu vết thương đo được vào vùng dưới da và cơ bụng bên phải dài 09cm, tại mặt trước gan thùy trái có vết rách nhu mô gan, kích thước (2,5x02)cm, khép vết thương có kích thước (94x03)cm sâu xuyên thấu vào trong nhu mô thùy gan phải dài 4,5cm, chiều hướng từ trái sang phải; rách nhu mô gan thùy trái xuyên thấu sang mặt sau thùy phải, kích thước (95x01)cm, chiều dài vết rách nhu mô gan xuyên thấu từ thùy trái sang thùy phải dài 09cm, vết thương có hướng từ trái sang phải. Hai vết rách nhu mô gan đều có bờ mép sắc gọn. Trong khoang bụng hai bên có khoảng 100ml máu.

Bản kết luận giám định số: 172/KLGĐTT-PC09 ngày 05/9/2023 của Phòng K - Công an tỉnh H đối với tử thi Dương Thị T, kết luận: Nguyên nhân chết: Suy tuần hoàn cấp do vết thương làm rách nhu mô gan. Thể loại chết: Không tự nhiên. Thời gian chết: Khoảng 02 giờ đến 03 giờ tính đến thời điểm khám nghiệm tử thi (hồi 00 giờ 10 phút ngày 08/8/2023). Cơ chế hình thành vết thương: Các vết bầm tím do vật tày gây ra. Các vết thương còn lại do vật sắc nhọn gây ra.

Bản kết luận giám định số: 5956/KL-KTHS ngày 23/8/2023 của V1 - Bộ K, kết luận: Trong mẫu máu, phủ tạng và chất chứa trong dạ dày gửi thu của tử thi Dương Thị T gửi giám định không tìm thấy các chất độc thường gặp.

Bản kết luận giám định số: 5941/KL- KTHS ngày 31/8/2023 của V1 - Bộ K, kết luận: Trên con dao (ký hiệu M6) có bám dính máu người, AND phân tích từ các vị trí có vết máu này bị lẫn của ít nhất 03 người, trong đó chỉ xác định được có AND của anh Dương Văn M; không đủ cơ sở xác định có AND của Dương Thị T hay Dương Văn H. Các dấu vết máu nâu đỏ (ký hiệu M4, M5 và M7) đều là máu người và đều là máu của Dương Thị T.

Bản kết luận giám định số: 5928/KL- KTHS ngày 15/8/2023 của V1 - Bộ K, kết luận: Trên mẫu máu gửi thu của Dương Văn H không tìm thấy ethanol (cồn).

Bản kết luận giám định số: 5940/KL-KTHS ngày 08/9/2023 của V1 - Bộ K, kết luận: Trên chiếc áo màu trắng, chiếc quần màu nâu (ký hiệu M8) bám dính máu của Dương Văn H; trên chiếc áo màu xanh, chiếc quần màu ghi (ký hiệu QAM) bám dính máu của Dương Văn M và Dương Thị T.

Bản kết luận giám định số: 225/KLGĐVGTT-PC09 ngày 24/10/2023 của Phòng K - Công an tỉnh H, kết luận: Con dao (dạng dao bầu) gửi giám định có khả năng gây ra được 03 vết thương tại vùng ngực, bụng của tử thi Dương Thị T.

Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 163/KLTTCT ngày 04/10/2023 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh H đối với anh Dương Văn M, kết luận: Tỷ lệ % tổn thương cơ thể của Dương Văn M tại thời điểm giám định là: 08%. Cơ chế hình thành các thương tích là do vật sắc, nhọn gây nên.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Hoàng Thị H1, sinh năm 1959, trú tại: thôn T, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên là mẹ đẻ của chị Dương Thị T, đại diện gia đình người bị hại yêu cầu Dương Văn H bồi thường tiền mai táng phí là 130.600.000 đồng và tiền tổn thất về tinh thần theo quy định của pháp luật. Anh Dương Văn M yêu cầu Dương Văn H bồi thường chi phí khám và điều trị thương tích, tổn hại về tinh thần với số tiền 62.850.000 đồng. Xác minh chi phí trung bình 01 đám tang tại địa phương là khoảng 50.000.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo Dương Văn H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đối với thương tích của Dương Văn H do chị T gây nên, H đã từ chối giám định.

Vật chứng và đồ vật thu giữ gồm: 01 con dao (dạng dao bầu); 01 cào sắt có cán bằng tre dài 1,24m, lưỡi cào bằng kim loại, kích thước (30x20)cm; 01 mảnh nilon (vỏ bao xi măng); 02 đôi dép; 04 chiếc áo; 03 chiếc quần; phần còn lại sau giám định của các mẫu máu ký hiệu M4, M5, M7, MH1, MM và mẫu niêm mạc miệng, ký hiệu T1 đang được quản lý tại Kho vật chứng Công an tỉnh H; 01 USB lưu trữ nội dung lời khai nhận tội của bị cáo H được lưu tại hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số: 172/CT-VKS-P2 ngày 23/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Dương Văn H về tội “Giết người”, theo quy định tại điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Dương Văn H phạm tội “Giết người”; Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 39 Bộ luật Hình sự; Đề nghị xử phạt Dương Văn H tù Chung thân, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 07/8/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường toàn bộ tổn thất cho gia đình người bị hại chị Dương Thị T, cấp dưỡng nuôi con chung của chị T tổng số tiền từ 329.000.000 đồng đến 347.000.000 đồng.

Bồi thường toàn bộ tổn thất cho anh Dương Văn M số tiền từ 33.350.000 đồng đến 42.350.000 đồng.

Về Biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: 01 con dao (dạng dao bầu); 01 cào sắt có cán bằng tre dài 1,24m, lưỡi cào bằng kim loại, kích thước (30x20)cm; 01 mảnh nilon (vỏ bao xi măng); 02 đôi dép; 04 chiếc áo; 03 chiếc quần; phần còn lại sau giám định của các mẫu máu ký hiệu M4, M5, M7, MH1, MM và mẫu niêm mạc miệng, ký hiệu T1.

Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 USB lưu trữ nội dung lời khai nhận tội của bị cáo H.

Ngoài ra Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về án phí.

*Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm: Nhất trí và không có quan điểm tranh luận về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Bị cáo sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã ăn năn hối hận tự nguyện ra đầu thú tại Cơ quan công an, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau sự việc xảy ra, bị cáo đã tác động đến gia đình tự nguyện đến bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình người bị hại nhưng gia đình người bị hại từ chối nhận. Sau khi bị từ chối, gia đình người bị hại tiếp tục nhờ người thân 02 lần đến gia đình người bị hại xin được khắc phục bồi thường tổn thất với số tiền từng lần là 200.000.000 đồng và 400.000.000 đồng nhưng đều bị từ chối nên gia đình không có cơ hội khắc phục tổn thất cho người bị hại. Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo cũng có một phần lỗi của người bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

* Bị cáo nhất trí, không bổ sung bào chữa của luật sư, không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Về trách nhiệm dân sự: Nhất trí xin được bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại và gia đình người bị hại. Nhất trí trợ cấp nuôi dưỡng con chưa thành niên của chị T theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm hình sự: Bị cáo đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về gia đình và hòa nhập cộng đồng.

+ Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: + Về trách nhiệm hình sự: Bà H1 đại diện gia đình người bị hại nhất trí với mức hình phạt tại bản luận tội của Đại diện Viện kiểm sát. Anh M đề nghị hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt.

+ Về trách nhiệm dân sự: Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường toàn bộ tổn thất theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con của chị T, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị T một lần theo quy định của pháp luật.

Quan điểm tranh luận của đại diện Viện kiểm sát: Gia đình bị cáo có đến đề nghị xin bồi thường nhưng do gia đình người bị hại không đồng ý tiếp nhận số tiền bồi thường. Đến nay, gia đình bị cáo chưa bồi thường cho người bị hại được phần tổn thất nào nên không đủ căn cứ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm tại nội dung bản luận tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1/ Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an tỉnh H; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên; Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.

2/ Về nội dung vụ án: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa như: Lời khai của người bị hại, những người làm chứng; Biên bản hiện trường vụ án; Các bản kết luận giám định của V1 - Bộ K - Công an tỉnh H cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ kết luận: Do có mâu thuẫn từ trước trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày giữa hai gia đình, khoảng 15 giờ 30 phút ngày 07/8/2023, gia đình chị T có thuê người chở vật liệu xây dựng đi qua ngõ đi chung của hai gia đình để xây dựng nhà thì vợ chồng Dương Văn H có ngăn cản không cho xe đi qua ngõ đi chung vì cho rằng sợ xe chở vật liệu làm hỏng cổng thoát nước. Từ đó dẫn đến giữa H và anh Dương Văn M và chị Dương Thị T xảy ra cãi vã, chửi mạt sát lẫn nhau. Do bức xúc với việc bị anh M và chị T chửi nên H chạy vào trong bếp nhà H lấy 01 con dao, dạng dao bầu dài 31cm, có phần chuôi làm bằng gỗ dài 12,5cm, phần lưỡi sắc nhọn bằng kim loại dài 18,5cm, có một cạnh sắc, phần rộng nhất của lưỡi dao là 5,5cm cất vào trong túi quần dài bên phải đang mặc rồi chạy ra sân nhà chị T. Tại đây, H lao đến dùng tay trái đấm một nhát về phía mặt chị T, chị T lùi lại nên không trúng, H tiếp tục tiến đến đứng đối diện với chị T, cách chị T khoảng 0,7m, H lấy dao trong túi quần ra dùng tay phải cầm dao đâm liên tiếp 03 nhát theo chiều hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái trúng vào vùng ngực, bụng chị T làm chị T bị ngã xuống nền. H tiếp tục chạy vào phòng khách, khi đối diện cách anh M khoảng 0,7m, tay phải H cầm dao đâm một nhát về phía bụng anh M theo chiều hướng từ dưới lên trên, từ ngoài vào trong, anh M né sang bên phải nên bị dao đâm trượt làm rách áo, rách da chảy máu kéo dài từ vùng bụng lên vùng ngực trái. Anh M dùng tay phải túm vào tay phải đang cầm dao của H gạt sang bên trái đồng thời dùng hai tay túm vào phần chuôi dao và gọi ông Bùi Văn A là thợ xây đang làm trong nhà M hỗ trợ ngăn cản. Hai bên giằng co làm anh M bị lưỡi dao cứa rách cánh tay phải, ngón út bàn tay phải. H giằng dao để tiếp tục đâm anh M nên bị mũi dao cứa rách da, chảy máu ở các ngón bàn tay trái. Thấy vậy, ông A lao vào ôm ghì, khóa hai tay của H lại nên anh M giằng được dao từ tay H. Khi đó, chị T tiến đến dùng hai tay cầm một cào có cán bằng tre dài 1,24m, lưỡi bằng kim loại, kích thước (30x20)cm bổ một nhát theo chiều từ trên xuống dưới trúng vào vùng vai bên phải của H làm H bị thương rách da, chảy máu ở vai rồi H đi về nhà. Chị T được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ, sau chuyển đến Bệnh viện V nhưng do vết thương nặng nên đã tử vong cùng ngày còn anh M bị thương tích với tỷ lệ tổn thương 08%.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, giữa gia đình bị cáo và gia đình người bị hại có quan hệ ruột thịt nhưng chỉ vì những mâu thuẫn nhỏ nhặt âm ỉ trong cuộc sống hàng ngày mà hai bên thường xuyên xảy ra cãi chửi, mạt sát lẫn nhau. Đỉnh điểm vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 07/8/2023, chỉ vì cho rằng xe chở vật liệu để xây dựng công trình của gia đình anh M đi vào ngõ đi chung sẽ làm hỏng cổng thoát nước nên vợ chồng bị cáo đã ngăn cản không cho xe đi vào công trình xây dựng nhà bị hại từ đó dẫn đến hai bên gia đình xảy ra cãi chửi lẫn nhau và bị cáo đã sử dụng hung khí tấn công đâm chị T 03 nhát dẫn đến chị T tử vong sau khi đi cấp cứu. Không dừng lại đó, sau khi đâm chị T ngã xuống nền sân bị cáo tiếp tục lao về phía anh M đâm anh M một nhát vào vùng bụng gây thương tích với tỷ lệ tổn thương 08%. Hành vi của bị cáo chỉ dừng lại khi anh M và ông A khóa tay khống chế được bị cáo. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” quy định tại điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, gia đình bị cáo, người thân của bị cáo (em gái của bị cáo đồng thời cũng là chị gái của người bị hại) cũng như người bị hại đều thống nhất xác định: Gia đình bị cáo và người thân có nhiều lần đến gia đình người bị hại xin được bồi thường tổn thất nhưng đều không được gia đình người bị hại chấp nhận. Như vậy, thể hiện bị cáo đã tích cực tác động đến gia đình đến khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, tuy nhiên do người bị hại nhiều lần từ chối nhận bồi thường dẫn đến gia đình bị cáo đến nay chưa khắc phục được. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo tiếp tục khẳng định sẽ có trách nhiệm bồi thường toàn bộ tổn thất cho người bị hại theo quy định của pháp luật. Do vậy, thể hiện bị cáo đã có ý thức khắc phục hậu quả nên có căn cứ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự.

3/ Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng xử lý đối với bị cáo:

+ Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự;

+ Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối hận và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã tự nguyện ra Cơ quan Công an đầu thú. Có ý thức tác động đến gia đình tự nguyện khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra. Người bị hại cũng có một phần nhỏ lỗi dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

+ Về đặc điểm nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo rất manh động, coi thường sức khỏe, tính mạng của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Do vậy, khi cân nhắc hình phạt đối với bị cáo Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc đặc điểm nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng và mức độ nghiêm trọng do hành vi phạm tội của bị cáo để ra một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và có tính giáo dục, phòng ngừa chung. Mặc dù bị cáo có nhân thân tốt, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nhưng bị cáo được hưởng ít tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng thể hiện tính côn đồ hung hãn chỉ vì mâu thuẫn nhỏ lẻ trong cuộc sống mà bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm tước đi mạng sống của người khác, đặc biệt là người thân thích trong gia đình nên khi cân nhắc hình phạt, hội đồng xét xử nhận thấy cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian dài như nội dung đề xuất của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới có tác dụng, cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

*Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

*Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình chị Dương Thị T có yêu cầu bị cáo có nghĩa vụ bồi thường chi phí mai táng với số tiền: 150.600.000 đồng và bồi thường tổn thất về tinh thần theo quy định của pháp luật. Anh Dương Văn M có yêu cầu bị cáo có nghĩa vụ bồi thường chi phí khám và điều trị vết thương cùng tổn thất tinh thần với số tiền: 62.850.000 đồng. Xét thấy, yêu cầu của đại diện gia đình chị T và người bị hại anh Dương Văn M yêu cầu bị cáo có nghĩa vụ bồi thường là có căn cứ. Tuy nhiên, căn cứ Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét thấy:

+ Đối với yêu cầu của đại diện gia đình chị T:

Đối với chi phí cấp cứu, điều trị vết thương tại các bệnh viện sau khi đối trừ các khoản tiền bảo hiểm y tế chi trả gồm: 7.532.190 đồng; tiền thuê xe cấp cứu, đưa đi đón về 7.000.000 đồng. Tổng cộng là 14.532.190 đồng.

- Đối với số tiền chi phí mai táng cho chị T, theo địa phương cung cấp thì chi phí trung bình một đám tang tại địa bàn là khoảng: 50.000.000 đồng. Bà H1 đại diện gia đình có đưa ra mức chi phí đám tang của chị T là: 150.600.000 đồng nhưng không đưa ra được các căn cứ thuyết phục nên chỉ có căn cứ chấp nhận buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho gia đình người bị hại chi phí mai táng với tổng số tiền là 50.000.000 đồng.

- Đối với khoản tiền tổn thất tinh thần: Chị T chết nên những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của chị T bị tổn thất tinh thần gồm 05 người thân. Tuy nhiên trong vụ việc, bản thân chị T cũng có một phần nhỏ lỗi dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo. Do vậy, cần buộc bị cáo phải bồi thường tổn thất tinh thần cho gia đình người bị hại tương đương 80 lần mức lương cơ sở là 80 x 1.800.000 đồng = 144.000.000 đồng.

Tổng cộng toàn bộ tổn thất cho gia đình người bị hại số tiền: 208.532.190 đồng.

- Chị T khi còn sống phải trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng 01 con chưa thành niên nên cần buộc bị cáo phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu cho đến tuổi thành niên. Tại phiên tòa, bị cáo, người giám hộ cho cháu N đều có quan điểm thống nhất bị cáo có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu với số tiền một lần cho đến khi cháu thành niên. Xét thấy sự thỏa thuận thống nhất này là phù hợp pháp luật cần được ghi nhận. Hội đồng xét xử cân nhắc mức cấp dưỡng nuôi cháu là 1.200.000 đồng/tháng, thời hạn kể từ tháng 8/2023 cho đến khi cháu đến tuổi thành niên là: 110 tháng x 1.200.000 đồng/tháng = 132.000.000 đồng.

Tổng cộng bị cáo có nghĩa vụ bồi thường tổn thất và cấp dưỡng nuôi con của chị T là: 340.532.190 đồng.

+ Đối với yêu cầu bồi thường của anh Dương Văn M:

- Chi phí khám và điều trị vết thương: Chi phí điều trị vết thương tại Bệnh viện Đ sau khi đối trừ các khoản đã được Bảo hiểm xã hội thanh toán thì gia đình còn phải thanh toán 1.665.612 đồng và chi phí thuê xe đi lại 800.000 đồng. Tổng cộng là 3.465.612 đồng.

- Tổn thất tinh thần: Trong vụ việc bản thân anh M là người chửi bị cáo trước nên cũng có một phần lỗi dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần buộc bị cáo phải bồi thường tổn thất tinh thần cho anh M tương ứng 10 lần mức lương cơ sở là 1.800.000 đồng x 10 = 18.000.000 đồng.

Chi phí mất thu nhập của người chăm sóc 02 ngày x 300.000 đồng/ngày = 600.000 đồng; chi phí mất thu nhập của anh M trong thời gian điều trị vết thương và thời gian về nhà chưa lao động được là: 10 ngày x 300.000 đồng/ngày = 3.000.000 đồng; chi phí bồi dưỡng sức khỏe của anh M do thương tích gây ra: 10 ngày x 200.000 đồng/ngày = 2.000.000 đồng.

Tổng cộng bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho anh M toàn bộ tổn thất là: 27.065.612 đồng.

4/ Về xử lý vật chứng: Đối với 01 con dao (dạng dao bầu); 01 cào sắt có cán bằng tre dài 1,24m, lưỡi cào bằng kim loại, kích thước (30x20)cm; 01 mảnh nilon (vỏ bao xi măng); 02 đôi dép; 04 chiếc áo; 03 chiếc quần; phần còn lại sau giám định của các mẫu máu ký hiệu M4, M5, M7, MH1, MM và mẫu niêm mạc miệng, ký hiệu T2. Xét thấy, không có giá trị sử dụng nên cần cho tiêu hủy.

Đối với: 01 USB lưu trữ nội dung lời khai nhận tội của bị cáo H cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án;

5/ Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí trách nhiệm dân sự sơ thẩm theo điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn H phạm tội “Giết người”;

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 39 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Dương Văn H tù Chung thân, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 07/8/2023.

3. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 46; Điều 48 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 468; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590 và Điều 591 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo phải bồi thường cho gia đình người bị hại (người đại diện là bà Hoàng Thị H1 - mẹ đẻ chị T) toàn bộ tổn thất và tiền cấp dưỡng nuôi con chị T một lần là: 340.532.190 đồng (Ba trăm bốn mươi triệu năm trăm ba mươi hai nghìn một trăm chín mươi đồng).

Buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho anh Dương Văn M toàn bộ tổn thất là: 27.065.612 đồng (Hai mươi bảy triệu không trăm sáu mươi lăm nghìn sáu trăm mười hai đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành thì phải chịu lãi suất theo quy định tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 con dao (dạng dao bầu); 01 cào sắt có cán bằng tre dài 1,24m, lưỡi cào bằng kim loại, kích thước (30x20)cm; 01 mảnh nilon (vỏ bao xi măng); 02 đôi dép; 04 chiếc áo; 03 chiếc quần; phần còn lại sau giám định của các mẫu máu ký hiệu M4, M5, M7, MH1, MM và mẫu niêm mạc miệng, ký hiệu T2.

(Số lượng, chủng loại, đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 11/12/2023 giữa Cục thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên và Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh H).

5. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 18.379.890 (Mười tám triệu ba trăm bảy mươi chín nghìn tám trăm chín mươi) đồng án phí trách nhiệm dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người đại diện cho người bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

108
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội giết người số 169/2023/HS-ST

Số hiệu:169/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hưng Yên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:22/12/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về