TÒA ÁN ÁN NHÂN DÂN TỈNH KT
BẢN ÁN 15/2025/HS-ST NGÀY 21/04/2025 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI
Chiều ngày 21 tháng 4 năm 2025, tại: Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh KT, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HS, ngày 08 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
A L (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 21/11/2005 tại tỉnh KT. Nơi cư trú: Làng C, xã YL, huyện ST, tỉnh KT; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Gia Rai; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Căn cước công dân số: 062205001xxxx, cấp ngày 01/5/2021, nơi cấp: cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Con ông A Ml (đã chết) và bà Y N, sinh năm 1965; Bị cáo chưa có vợ, con; Gia đình bị cáo có 04 anh, chị, em, bị cáo là người con thứ tư, người anh lớn sinh năm 1984; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 20/01/2025 đến nay (Có mặt).
-Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đặng Thị Kim N – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh KT. (Có mặt).
-Bị hại: Anh A L (đã chết)
-Người đại diện hợp pháp của bị hại (mẹ của Anh A L): Bà Y Nh, sinh năm
1965. Địa chỉ: Làng C, xã YL, huyện ST, tỉnh KT. (Có mặt).
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Y B, sinh năm 1990. Địa chỉ: Làng C, xã YL, huyện ST, tỉnh KT. (Có mặt).
-Người làm chứng: Anh A Hn, sinh năm 1987. Địa chỉ: Làng C, xã YL, huyện ST, tỉnh KT. (Có mặt).
-Người phiên dịch: Anh A D, sinh năm 1996 – Phó Bí thư Đoàn thanh niên xã YL, huyện ST, tỉnh KT. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
1.Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09h00’ ngày 19/01/2025, A L sinh ngày 21/11/2005 rủ A N đến nhà A L tại Làng C, xã YL, huyện ST, tỉnh KT để uống rượu, hai người uống hết khoảng hơn 01 lít rượu thì A L say nên đi vào phòng ngủ, còn A N đi về. Đến khoảng 12h00’ cùng ngày A L ngủ dậy lấy xe mô tô của mình đi đến ngã ba xã Ya Xiêr chơi. Tại đây, A L gặp 04 người ở làng Tum, xã YL, huyện ST, tỉnh KT đang uống bia trong quán. Thấy A L những người này rủ A L cùng uống bia, uống đến khoảng 15h00’ thì A L đi về nhà rồi xuống bếp ăn cơm, sau đó A L đi qua nhà anh A H(là anh rể) ở cạnh nhà. Lúc này, A H đang uống rượu với Y Mông (là người cùng Làng), nên A L có ngồi rượu cùng anh A H và Y Mông. Đến khoảng 18h00’ cùng ngày thì bà Y N (mẹ A L) gọi về nhà ăn cơm, trong lúc ngồi ăn cơm thì bà Y N có la mắng A L về việc không chịu đi làm mà chỉ đi chơi uống rượu cả ngày. Vì bị mẹ la mắng nên A L đã bực tức và xảy ra cãi vã với mẹ. Lúc này, A L nhìn thấy anh trai của mình là A L (bị tàn tàn tật bẩm sinh) đang ở phòng khách ngồi nhìn ra đường, sẵn đang bực tức với mẹ nên A L nảy sinh ý định giết chết A L. A L đã đi vào bếp lấy 01 cây củi bời lời có chiều dài 1,05cm, đường kính 05cm cầm trên tay đi đến chỗ A L đang ngồi trong phòng khách. A L đứng đối diện dùng 02 tay cầm cây củi bời lời đánh một phát từ trên xuống dưới vào vùng đầu của A L làm A L gục đầu về phía trước, A L tiếp tục cầm cây củi đánh thêm 03 phát vào vùng gáy của A L. Lúc này, bà Y N đang đi lấy nước mang lên nhà cho A L uống thì thấy sự việc A L đánh A L bất tỉnh liền chạy qua nhà A H và nói:“thằng Long đánh thằng anh nó sắp chết rồi”. A H liền điện thoại báo cho tổ An ninh trật tự của thôn để báo Công an. Sau khi, dùng cây bời lời đánh A L, nhìn thấy A L nằm dưới sàn nhà còn cựa quậy, A L bỏ cây củi bời lời xuống nền nhà, rồi chạy vòng bên hông nhà chính xuống nhà bếp, A L lấy 01 con dao có chiều dài 52cm, cán dao dài 34cm, lưỡi bằng kim loại có mũi nhọn dài 18 cm để tại vách phía sau bên trong bếp. A L cầm dao chạy lên phòng khách, nhìn thấy A L đang nằm lăn qua, lăn lại, A L cầm dao bằng tay phải đâm một nhát vào cổ và dùng lưỡi dao cứa 03 nhát qua lại vào vùng cổ của A L, ngay sau đó A L tiếp tục dùng 02 tay cầm dao đâm 01 nhát vào ngực và dùng 2 tay cầm con dao rạch từ ngực xuống bụng của A L rồi cầm dao đi ra trước nhà. Lúc này, người dân trong Làng đến la hét, A L đã bỏ dao xuống sân trước nhà rồi đi lại vòi nước để rửa chân tay. Sau đó, Công an xã YL đến đưa A L về trụ sở để làm việc. Hậu quả: A L tử vong tại chỗ.
Tại Kết luận giám định tử thi số: 31/KLGĐTT-KTHS ngày 21/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh KT, kết luận:
(1).Các kết quả chính:
-Vùng đỉnh, cách dái tai phải 12cm, có vết rách da cơ, bờ mép nham nhở.
-Vùng đỉnh, cách dái tai phải 17cm, có vết rách da cơ, bờ mép nham nhở.
-Vùng trán, có vết rách da cơ, một đầu nhọn, một đầu tù, bờ mép nham nhở, xung quanh bầm máu.
-Vùng đỉnh-chẩm có vết rách da cơ, không rõ hình dạng, bờ mép nham nhở.
-Dưới da vùng chẩm bầm tụ máu, không phát hiện tổn thương xương sọ.
-Hai lỗ mũi có máu.
-Vùng cổ có vết rách da cơ, bờ mép sắc gọn, các đầu vết thương nhọn, đáy vết thương có nhiều máu không đông.
-Vùng bụng có vết rách da cơ, một đầu cách mỏm ức 05cm, đầu còn lại trên rốn 2,5cm, quai ruột và mạc treo thoát ra ngoài qua vết rách.
-Đứt hoàn toàn khí quản, thực quản.
-Đứt hoàn toàn cơ ức – đòn – chũm, bờ mép sắc gọn.
-Đứt bán phần tĩnh mạch cảnh trong, bờ mép vết đứt sắc gọn.
-Đứt bán phần tĩnh mạch cảnh ngoài, bờ mép vết đứt sắc gọn.
(2).Kết luận nguyên nhân chết của A L là: Mất máu cấp do đứt bán phần tĩnh mạch cảnh trong và tĩnh mạch cảnh ngoài.
Cáo trạng số 10/CT-VKSKT ngày 03/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh KT truy tố bị cáo A L về tội “Giết người” theo quy định tại điểm i, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
2.Diễn biến phiên tòa:
2.1- Bị cáo A L thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Bị cáo thấy hối hận về hành vi của mình và đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
2.2- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh KT giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo A L phạm tội “Giết người” theo điểm i, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
- Áp dụng điểm i, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo A L mức án từ 18 năm đến 20 năm tù.
-Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Y B không yêu cầu bồi thường gì nên không xem xét.
-Về xử lý vật chứng và án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
2.3- Người bào chữa cho bị cáo là bà Đặng Thị Kim Nguyệt trình bày: Đồng ý với tội danh, điểm, khoản, điều luật như lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và hoàn cảnh gia đình bị cáo để xử phạt bị cáo mức án thấp nhất tạo điều kiện cho bị cáo tích cực cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
2.4- Người đại diện hợp pháp cho bị hại (mẹ của Anh A L) là bà Y N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Y B trình bày: Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo A L theo quy định của pháp luật. Về dân sự không yêu cầu bị cáo A L phải bồi thường gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng, những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 18h00’ ngày 19/01/2025, A L sinh ngày 21/11/2005 trú tại: Làng C, xã YL, huyện ST, tỉnh KT, đang uống rượu tại nhà A H ở cạnh nhà thì bà Y N mẹ A L gọi về ăn cơm, trong lúc ăn cơm bà Y N có la mắng A L về việc không chịu đi làm mà chỉ đi chơi uống rượu cả ngày. A L đã bực tức và xảy ra cãi vã với mẹ. A L nhìn thấy anh trai của mình là A L (bị khuyết tật bẩm sinh) đang ngồi ở phòng khách, sẵn đang bực tức với mẹ nên A L nảy sinh ý định giết chết A L. A L đã đi vào bếp lấy 01 cây củi bời lời dài 1,05cm đi đến chỗ A L, A L đứng đối diện dùng 02 tay cầm cây bời lời đánh 04 phát từ trên xuống dưới vào vùng đầu của A L làm A L nằm gục xuống nền nhà. Không dừng lại ở đó A L tiếp tục đi xuống nhà bếp lấy 01 con dao có mũi nhọn dài 52cm, quay lại chỗ A L đang nằm, cầm dao bằng tay phải đâm một nhát vào cổ, rồi dùng lưỡi dao cứa qua lại 03 lần vào vùng cổ của A L, làm đứt hoàn toàn khí quản, thực quản, đứt bán phần tĩnh mạch cảnh trong và tĩnh mạch cảnh ngoài. Rút dao ra A L tiếp tục cầm dao đâm 01 nhát vào ngực và dùng 2 tay cầm con dao rạch từ ngực xuống bụng của A L làm đứt hoàn toàn cơ ức – đòn – chũm, vùng bụng có vết rách da cơ, quai ruột và mạc treo thoát ra ngoài qua vết rách, dẫn đến A L tử vong tại chỗ.
Xét thấy, sau khi đã uống rượu bia mặc dù không có mâu thuẫn gì với bị hại nhưng do bực tức về việc bị mẹ la mắng mình không chịu đi làm mà chỉ đi chơi uống rượu cả ngày, còn A L không lao động nhưng vẫn được mẹ quan tâm nên bị cáo A L đã bực tức luôn A L và nảy sinh ý định giết chết anh trai của mình là A L (bị khuyết tật bẩm sinh) đang ngồi ở phòng khách. Bị cáo đã dùng cây củi bời lời đánh vào vùng đầu của bị hại, sau đó bị cáo lại tiếp tục sử dụng con dao là hung khí nguy hiểm đâm và cứa vào vùng cổ, ngực của bị hại, không dừng lại ở đó bị cáo tiếp tục dùng con dao rạch từ ngực xuống bụng, dẫn đến A L tử vong tại chỗ, hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho tính mạng của con người, nhưng chỉ vì mẹ nhắc nhở việc mình hay uống rượu không lo làm ăn mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với anh trai bị khuyết tật bẩm sinh, dẫn đến bị hại chết, hành vi này của bị cáo thuộc trường hợp giết người có tính chất côn đồ. Sau khi dùng cây đánh nhiều lần vào vùng đầu, gáy thấy bị hại nằm dưới sàn nhà còn cựa quậy, bị cáo không dừng lại mà tiếp tục xuống bếp lấy dao và dùng dao đâm, chém nhiều nhát vào nạn nhân khiến nạn nhân tử vong tại chỗ thể hiện tính chất man rợ. Hành vi đó đã phạm vào tội “Giết người” theo quy định tại điểm i, n khoản 1 Điều 123 BLHS.
Vì vậy, Cáo trạng số 10/CT-VKSKT ngày 03/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh KT truy tố bị cáo A L phạm tội “Giết người” theo quy định tại điểm i, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng:
Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm
phạm đến tính mạng, sức khoẻ của con người được pháp luật bảo vệ, gây xôn xao dư luận, hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội. Bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và hậu quả mà bị cáo đã gây ra, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[4]. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị hại A L là người bị khuyết tật bẩm sinh do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm k khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đồng thời được đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Bà Y N đại diện gia đình bị cáo A L đã dùng số tiền 10.00.000 đồng của bị cáo A L để lo cho đám tang của A L; Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn thuộc diện hộ nghèo của xã; bị cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà đại diện hợp pháp bị hại là bà Y N (mẹ A L) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Y B không yêu cầu A L bồi thường gì, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[6]. Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ các đồ vật, gồm: 01 cây gỗ có chiều dài 1,05m, đường kính 05cm đã gọt vỏ 01 đầu có dính dấu vết màu đỏ (nghi là máu); 01 con dao nhọn có một lưỡi sắc bén có chiều dài 52cm, lưỡi dao dài 18cm, phần rộng nhất 2,5cm, cán dao dài 34cm, đường kính cán dao 2,5cm, trên dao có dính dấu vết màu đỏ nghi là máu. Đây là các công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu, tiêu huỷ.
[7]. Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo và là người đồng bào dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Do đó, miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1.Tuyên bố: Bị cáo A L phạm tội “Giết người”
Căn cứ điểm i, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo A L 19 (Mười chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 20/01/2025.
2.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Tuyên tịch thu, tiêu huỷ:
-01 cây gỗ có chiều dài 1,05m, đường kính 05cm đã gọt vỏ, một đầu có dính vết màu đỏ (nghi là máu).
-01 con dao nhọn có một lưỡi sắc bén có chiều dài 52cm, lưỡi dao dài 18cm, phần rộng nhất 2,5cm, cán dao dài 34cm, đường kính cán dao 2,5cm, trên dao có dính dấu vết màu đỏ nghi là máu.
(Tất cả các vật chứng trên có đặc điểm theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04/4/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh KT và Cục Thi hành án dân sự tỉnh KT).
3.Về án phí: Căn cứ điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo A L không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
4.Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 21/4/2025), bị cáo, bị hại, người đại diện hợp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm.
Bản án về tội giết người số 15/2025/HS-ST ngày 21/04/2025
| Số hiệu: | 15/2025/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Kon Tum |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 21/04/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về