TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
BẢN ÁN 148/2024/HS-PT NGÀY 21/02/2024 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI
Ngày 21 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 964/2023/TLPT- HS ngày 08 tháng 9 năm 2023, do Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2023/HS-ST ngày 28 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình có kháng cáo.
- Bị cáo có kháng cáo: Họ và tên: Bùi Hoài N, sinh ngày 03/11/2007 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn L, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; bố đẻ: Bùi Văn N1, sinh năm 1982; mẹ đẻ: Đỗ Thị Hồng H, sinh năm 1986; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Bùi Văn N1, sinh năm 1982 và bà Đỗ Thị Hồng H, sinh năm 1986 (bố mẹ đẻ bị cáo); đều có địa chỉ: thôn L, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình; đều có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Đức T, Công ty L, Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt.
- Trong vụ án còn có 01 bị cáo, 01 người bị hại và người đại diện hợp pháp cho người bị hại không có kháng cáo, không bị kháng nghị, không triệu tập tham gia phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lã Quang T1 là học sinh lớp 10A6 trường THPT T4, huyện T có mâu thuẫn với Lã Trọng K là học sinh lớp 10A8 cùng trường vì cho rằng K nói xấu mình trên mạng xã hội Facebook. Ngày 16/12/2022, T1 nhắn tin trên ứng dụng Messenger cho Bùi Hoài N là học sinh lớp 10A11 trường THPT D, cư trú củng thôn với T1 về mâu thuẫn này rồi hỏi mượn N gậy ba khúc để đi đánh K; N nói không có gậy, chỉ có dao gấp, nếu T1 muốn mượn thì đến nhà N lấy, N gửi video quay hình ảnh con dao cho T1 xem. N hỏi vì sao đánh K, T1 nhắn tin nói lý do như trên; N nhắn lại “dập cũng đúng” (ý là đánh cũng đúng), N nhắn T1 trưa mai sang nhà N lấy dao và hỏi khi nào đánh, T1 trả lời “chủ nhật, mà nếu chủ nhật không săn được thì thứ 2”. N nhắn “đánh với" (ý là muốn đi cùng T1 để đánh K) nhưng T1 bảo không cần; N nhắn dặn T1 “giấu mặt đi” (ý là đừng đánh công khai). Trưa ngày 17/12/2022, T1 một mình đến nhà N, được N cho mượn 01 con dao (loại dao gấp dạng bấm bằng kim loại màu đen dài 20cm trong đó phần cán dài 11cm, phần lưỡi dao dài 9cm, bản rộng nhất lưỡi dao 2,5cm, mũi nhọn). T1 mang dao về cất ở bàn 1 ở bản học; khoảng 13 giờ 30 phút ngày 25/12/2022, T1 rủ Nguyễn Danh T2 là em họ và Bùi Đức A là bạn cùng xóm đi tìm K để đánh, đến khu vực đình L, xã D thì gặp K đang đi xe máy điện trên đường. Cả ba chặn K lại, T2 và Đức A dùng tay chân đấm đá còn T1 dùng mũ bảo hiểm đánh K. Thấy có người dân nhà gần đó ra thì cả ba bỏ đi không đánh nữa, K không bị thương tích gì. Sáng hôm sau 26/12/2022 sợ bị K đánh trả thù nên T1 đem theo con dao bấm mượn trước đó của N bỏ vào cặp mang đến trường. Khoảng 09 giờ 40 phút cùng ngày, trong giờ ra chơi sau tiết học thứ 3, khi T1 đang đứng chơi ở khu vực của lớp mình thì thấy K đi sang, sợ bị K đánh nên T1 đi vào trong lớp, lấy dao từ trong cặp đút vào túi áo khoác bên phải đang mặc. Lúc này K đi vào trong lớp 10A6 túm cổ áo lôi T1 ra ngoài của lớp và nói “hôm qua mày thích đánh tạo không” rồi dùng hai tay đấm nhiều cái vào vùng đầu và mặt T1. Bị đánh đau, T1 dùng tay phải lấy dao từ trong túi áo khoác ra, bấm lẫy để lưỡi dao bật ra rồi nhằm vào người K đâm liên tiếp 03 nhát làm K bị thương ở vùng ngực 2 bên và vùng nách sau bên trái. K tiếp tục đấm T1 thêm một vài cái nữa thì dừng lại, dùng tay ôm bụng đi về phía lớp học của mình còn T1 gập dao lại bỏ vào túi áo đang mặc rồi đi vào trong lớp ngồi gục đầu xuống bàn học, sau đó T1 quay ra hành lang thì gặp Mai Đức T3, học sinh lớp 11A12 là bạn quen biết với T1, T1 đưa dao cho T3 và nói “anh cầm hộ em con dao, tí em lấy”. T3 cầm dao đút vào túi quần, khi đi đến khu vực hành lang tầng 2 nghe mọi người nói T1 vừa dùng dao đâm K, sợ bị liên luy đến mình nên T3 đã đi xuống sân thể dục của trường rồi ném con dao qua tường rào ra ao bèo (ao cạn nước).
Hậu quả: Lã Trọng K được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ, sau đó được chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh T cấp cứu trong tình trạng trụy mạch, suy hô hấp cấp, sốc mất máu, nguy hiểm đến tính mạng; được điều trị từ 26/12/2022 đến 10/01/2023 xuất viện.
Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 02/22/TgT ngày 05/01/2023 của Trung tâm pháp y - Sở Y đối với Lã Trọng K, kết luận: Tổn thương do vật sắc tác động làm rách da, tổ chức dưới da vùng ngực hai bên, vùng đường nách sau bên trái, vết thương thấu tim. Đã được: phẫu thuật cấp cứu khâu vết thương tim (vết thương thấu thất phải), đặt dẫn lưu màng phổi trái và dẫn lưu màng ngoài tim. Hiện tại: Còn đau các vết thương. Hiện bệnh nhân đang nằm điều trị tại bệnh viện nên chưa đánh giá được vết thương tim có di chứng gì không? Việc tràn máu màng phổi có ảnh hưởng tới chức năng hô hấp hay không? Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 55%.
Tại Bản Kết luận giám định lại lần thứ hai số 90/KLTTCT-TTPY ngày 23/3/2023 của Trung tâm pháp y - Sở Y đối với Lã Trọng K, kết luận: Thương tích do vật sắc tác động làm rách da, tổ chức dưới da vùng ngực hai bên, vùng đường nách sau bên trái, vết thương thấu tim. Đã được xử trí: phẫu thuật cấp cứu khâu vết thương tim (vết thương thấu thất phải), đặt dẫn lưu mảng ngoài tim, dẫn lưu màng phổi trái, khâu phục hồi các vết thương, truyền máu, truyền dịch, thuốc. Hiện tại: tim mạch ổn định không cần xử lý gì. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 58%.
Ngày 21/02/2023, gia đình các bị cáo và bị hại đã thỏa thuận mức tiền bồi thường là 63.000.000 đồng, gồm các khoản: chi phí cứu chữa, điều trị; tiền công lao động bị mất của người chăm sóc; bồi thường tổn thất về tinh thần (trong đó: gia đình bị cáo T1 bồi thường 60.000.000 đồng; gia đình bị cáo N bồi thường 3.000.000 đồng). Người bị hại và gia đình đã nhận tiền và không còn yêu cầu gì.
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2023/HSST ngày 28 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình đã quyết định:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Hoài N phạm tội “Giết người”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 50, 57, 58, 91; khoản 2 Điều 101; khoản 3 Điều 102 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Hoài N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Bản án sơ thẩm còn xác định tội danh, điều luật áp dụng và quyết định hình phạt đối với bị cáo Lã Quang T1, ghi nhận thoả thuận về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Ngày 08/8/2023, bị cáo Bùi Hoài N có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Bị cáo Bùi Hoài N giữ nguyên kháng cáo và trình bày: Bị cáo thừa nhận bản án sơ thẩm xét xử là đúng người, đúng tội, không oan, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét việc bị cáo chỉ có đồng ý cho T1 mượn dao, không phải là người dùng dao đâm K, bị cáo còn ít tuổi nhận thức pháp luật hạn chế, hiện nay còn đi học, nhân thân tốt, gia đình đã bồi thường cho người bị hại đầy đủ nên xin được hưởng án treo.
- Đại diện hợp pháp của bị cáo trình bày: Nội dung vụ việc xảy ra đều có lỗi của các bên, bản thân cháu N không phải là người trực tiếp dùng dao đâm K, gia đình đã bồi thường đầy đủ cho người bị hại và sau khi xét xử sơ thẩm bồi thường thêm 5.000.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tuổi đời của cháu N còn trẻ, nhận thức pháp luật thấp, nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, xem xét cho cháu N được hưởng án treo để tiếp tục học tập.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo Bùi Hoài N là người có nhân thân tốt; khi phạm tội mới 15 tuổi 53 ngày nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; bị cáo hiện đang là học sinh lớp 11; hậu quả của hành vi phạm tội do bị cáo T1 thực hiện chưa làm cho người bị hại chết nên phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt và bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm, không phải là người trực tiếp thực hiện việc dùng dao đâm người bị hại; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho người bị hại và người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội tiếp tục học tập, làm người có ích cho xã hội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm:
+ Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Kháng cáo của bị cáo Bùi Hoài N là trong thời hạn và đúng quy định pháp luật nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
+ Về nội dung: Mặc dù bị cáo là người có nhân thân tốt; khi phạm tội mới 15 tuổi 53 ngày, nhận thức pháp luật còn hạn chế; hậu quả của hành vi phạm tội do bị cáo T1 thực hiện chưa làm cho người bị hại chết nên phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt và bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm, không phải là người trực tiếp thực hiện việc dùng dao đâm người bị hại; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho người bị hại và người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, mức hình phạt bản án sơ thẩm đã xét xử là phù hợp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Đơn kháng cáo của bị cáo Bùi Hoài N là trong hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về tội danh: Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Bùi Hoài N khai nhận hành vi phạm tội của mình và thừa nhận bản án sơ thẩm xét xử là đúng người, đúng tội, không oan.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo Lã Quang T1 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: Lã Quang T1 là học sinh lớp 10A6 trường THPT T4, huyện T có mâu thuẫn với Lã Trọng K là học sinh lớp 10A8 cùng trường vì cho rằng K nói xấu mình trên mạng xã hội Facebook. Ngày 16/12/2022, T1 nhắn tin trên ứng dụng Messenger cho Bùi Hoài N là học sinh lớp 10A11 trường THPT D, cư trú cùng thôn với T1 về mâu thuẫn này rồi hỏi mượn N gậy ba khúc để đi đánh K; N nói không có gậy, chỉ có dao gấp, nếu T1 muốn mượn thì đến nhà N lấy, N gửi video quay hình ảnh con dao cho T1 xem. N hỏi vì sao đánh K, T1 nhắn tin nói lý do như trên; N nhắn lại “dập cũng đúng” (ý là đánh cũng đúng), N nhắn T1 trưa mai sang nhà N lấy dao và hỏi khi nào đánh, T1 trả lời “chủ nhật, mà nếu chủ nhật không săn được thì thứ 2”. N nhắn “đánh với" (ý là muốn đi cùng T1 để đánh K) nhưng T1 bảo không cần; N nhắn dặn T1 “giấu mặt đi” (ý là đừng đánh công khai). Trưa ngày 17/12/2022, T1 một mình đến nhà N, được N cho mượn 01 con dao (loại dao gấp dạng bấm bằng kim loại màu đen dài 20cm trong đó phần cán dài 11cm, phần lưỡi dao dài 9cm, bản rộng nhất lưỡi dao 2,5cm, mũi nhọn); T1 mang dao về cất ở bàn 1 ở bản học. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 25/12/2022, T1 rủ Nguyễn Danh T2 là em họ và Bùi Đức A là bạn cùng xóm đi tìm Lã Trọng K để đánh và gặp K tại khu vực đình L, xã D; cả 03 người chặn K lại và cùng nhau dùng tay chân đấm đá và dùng mũ bảo hiểm đánh K; do có người dân nhà gần đó đi ra nên cả 03 người bỏ đi không đánh nữa. Sáng ngày 26/12/2022 T1 đem theo con dao bấm mượn trước đó của N bỏ vào cặp mang đến trường học; khoảng 09 giờ 40 phút cùng ngày, trong giờ ra chơi sau tiết học thứ 3, khi T1 đang đứng chơi ở khu vực của lớp mình thì thấy K đi sang, sợ bị K đánh nên T1 đi vào trong lớp, lấy dao từ trong cặp đút vào túi áo khoác bên phải đang mặc. Lúc này K đi vào trong lớp 10A6 túm cổ áo lôi T1 ra ngoài của lớp và nói “hôm qua mày thích đánh tạo không” rồi dùng hai tay đấm nhiều cái vào vùng đầu và mặt T1. Bị đánh đau, T1 dùng tay phải lấy dao từ trong túi áo khoác ra, bấm lẫy để lưỡi dao bật ra rồi nhằm vào người K đâm liên tiếp 03 nhát làm K bị thương ở vùng ngực 2 bên và vùng nách sau bên trái. Trung tâm pháp y Sở Y giám định lại lần thứ hai xác định tỷ lệ tổn thương của K là 58%. Việc anh K không chết là ngoài ý muốn chủ quan của T1 và người bị hại anh Lã Trọng K chưa đủ 16 tuổi. Do đó, bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Bùi Hoài N đồng phạm với bị cáo Lã Quang T1 về tội “Giết người” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật.
[2.2] Xét kháng cáo của bị cáo Bùi Hoài N, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Hoài N là đặc biệt nghiêm trọng, đã giúp sức tích cực cho bị cáo Lã Quang T1 bằng việc cho T1 mượn con dao và còn có lời lẽ giúp sức về mặt tinh thần để T1 đi tìm đánh anh K vào ngày 25/12/2022 dẫn đến sáng ngày 26/12/2022 khi bị K đánh thì T1 đã dùng dao đâm 03 nhát vào các vùng trọng yếu trên cơ thể người anh K, hậu quả anh K bị thương tích 58%, anh K không chết là ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo T1. Hành vi của bị cáo N là đồng phạm với T1, không những gây mất trật tự trị an - an toàn xã hội nói chung mà còn gây ảnh hưởng xấu đến môi trường giáo dục các cấp; mặt khác hiện nay tình trạng bạo lực học đường có chiều hướng gia tăng, sự trẻ hoá của tội phạm vị thành niên cũng có chiều hướng gia tăng nên cần xét xử nghiêm minh để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
Căn cứ vào các đặc điểm về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vị trí, vai trò thực hiện tội phạm, xét thấy mức hình phạt tù bản án sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo Bùi Hoài N là phù hợp và có căn cứ pháp luật. Mặc dù tại cấp phúc thẩm gia đình bị cáo xuất trình tài liệu về việc đã bồi thường thêm cho người bị hại số tiền 5.000.000 đồng nhưng tình tiết bồi thường thiệt hại quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cũng đã được bản án sơ thẩm áp dụng cho bị cáo nên Hội đồng xét xử ghi nhận việc tự nguyện bồi thường thêm số tiền này cho bị cáo nhưng không chấp nhận kháng cáo xin hưởng treo của bị cáo.
[3] Bản án sơ thẩm xử phạt các bị cáo Lã Quang T1, Bùi Hoài N dưới khung hình phạt bị truy tố, xét xử nhưng không áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự là thiếu sót; tuy nhiên thiếu sót này không gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bị cáo nhưng cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
[4] Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Hoài N; giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Về án phí: Bị cáo Bùi Hoài N phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Hoài N; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2023/HSST ngày 28 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình nhưng bổ sung điều luật áp dụng để xét xử bị cáo như sau:
- Về tội danh và hình phạt:
+ Tuyên bố bị cáo Bùi Hoài N phạm tội “Giết người”.
+ Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; các Điều 17, 50, 54, 57, 58, 91; khoản 2 Điều 101; khoản 3 Điều 102 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Bùi Hoài N: 15 (mười lăm) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
- Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Ghi nhận bị cáo Bùi Hoài N và gia đình bị cáo đã bồi thường thêm cho người bị hại số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng.
2. Về án phí: Bị cáo Bùi Hoài N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tội giết người số 148/2024/HS-PT
| Số hiệu: | 148/2024/HS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân cấp cao |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 21/02/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về