Bản án về tội giết người số 107/2023/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 107/2023/HS-ST NGÀY 24/11/2023 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Ngày 24 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 115/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023, đối với:

- Bị cáo: Nguyễn Đức T; sinh ngày 27 tháng 7 năm 1972; tại Đà Nẵng; HKTT: Tổ B, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng; Nơi cư trú: Số H B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T1 và bà Võ Thị L; có vợ là bà Mai Thị D sinh năm 1969; bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2008.

Tiền án: Không; tiền sự: Không;

Bị bắt ngày 02/4/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Đ. Có mặt.

- Bị hại: Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1980 (đã chết) Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Võ Thị S sinh năm 1988. Địa chỉ: B B, Tổ E, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Bà Mai Thị D, sinh năm 1969. Địa chỉ: Số H B, Tổ C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

2/ Ông Võ Đình P, sinh năm 1999. Địa chỉ: Số G B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt

3/ Ông Trần Vũ Q, sinh năm 2001. Địa chỉ: Số F N, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt

4/ Cháu Nguyễn Thị Thanh T3 sinh năm 2014 và Nguyễn Thị Thanh T4 sinh năm 2018. (Bà Võ Thị S sinh năm 1988 là người giám hộ của cháu T3 và T4). Địa chỉ: B B, Tổ E, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. (Cháu T3, T4 vắng mặt, bà S có mặt)

- Người làm chứng:

Ông Đoàn Quốc D1, sinh năm 1999. Địa chỉ: G T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 01/4/2023, Nguyễn Đức T đến quán B (địa chỉ: Số E B, phường H, quận C) và gặp Nguyễn Hữu T2 (sinh năm: 1980; trú tổ B, phường H, quận C). Tại đây, T2 rủ T cùng đánh bida tính điểm thì T đồng ý. Trong lúc đánh bida, cả hai có uống bia và nhờ anh Võ Đình P (sinh năm: 1999; trú: G B, phường H, quận C) ghi điểm. Trong lúc đánh bi da, T bị T2 dẫn điểm và thấy T2 đã say xỉn, nói nhiều nên T chủ động thanh toán tiền và nghỉ chơi để đi về nhà. Khi T ra khỏi quán bida, thì T2 rủ T đi uống bia nhưng T từ chối và nói “Thôi mi uống mà mi nhè quá, tao không thích chơi”, nói xong T điều khiển xe máy đi về nhà. Lúc này, T2 cũng lấy xe máy nhãn hiệu Honda biển kiểm soát: 43-666NP chạy theo T. Anh P nhìn thấy vậy lo sợ hai người đánh nhau nên nhờ anh Trần Vũ Q (sinh năm: 2001; trú: Số F N, phường A, quận T) dùng xe máy chở P chạy theo sau.

Khoảng 22 giờ cùng ngày, T về tới trước nhà tại số H B, phường H, quận C, T mở cửa chuẩn bị đi vào nhà thì T2 đi tới túm cổ áo T nói “mi nói ai rè rè, mi nói ai say, mi có tin ngày mai gia đình mi khỏi bán bún không”, T nói lại “mi say rồi mi về”. Lúc này, anh P và anh Q vừa đến, thấy T và T2 xô xát, cãi nhau nên đi đến can ngăn và khuyên T2 ra về nhưng không được. Sau đó, giữa T và T2 tiếp tục cãi nhau và thách đố đánh nhau. Lúc này T dùng hai tay đẩy T2 ra thì T2 tiếp tục đi về phía T nhưng T bỏ đi vào nhà. Khi T đi đến cửa nhà thì T2 đứng ở ngoài đường tiếp tục chỉ tay vào đầu của T2 và nói “thử đi”. Bực tức vì T2 thách thức nên T đi lại phía T2 dùng tay phải đấm theo hướng từ phải qua trái trúng vào mặt của T2. T2 dùng tay trái nắm cổ áo T thì T tiếp tục dùng tay phải đánh theo hướng từ phải qua trái, rồi từ trái qua phải và ngược lại về phía mặt T2 nhưng không trúng. Tiếp đó T tiếp tục dùng tay phải đánh theo hướng từ phải qua trái trúng vào vùng đầu sau gáy của T2. Lúc này, T2 đứng loạng choạng và T tiếp tục đánh tiếp nhưng không trúng và T2 cũng có dùng tay phải đánh theo hướng từ phải qua trái hướng về mặt của T nhưng không trúng. Sau đó, T tiếp tục đánh 02 cái về hướng mặt của T2 nhưng không trúng và T tiếp tục đánh 01 cái nữa trúng vào lưng của T2. Sau đó T2 đứng loạng choạng và tự ngã xuống đường bất tỉnh. Trong lúc cả hai đánh nhau thì anh P can ngăn nhưng không được. Một lúc sau, thấy T2 nằm bất động nên T dìu T2 vào nằm trên vỉa hè, lấy dầu gió xoa người cho T2 và gọi điện thoại cho cấp cứu, khi nhân viên cấp cứu đến kiểm tra thì phát hiện T2 đã tử vong.

Tại Bản kết luận giám định tử thi số: 299/KLGĐTT-KTHS, ngày 07/4/2023 của Phòng K Công an thành phố Đ, kết luận nguyên nhân tử vong của Nguyễn Hữu T2 là xuất huyết não toàn bộ.

Ngày 20/6/2023, Phòng K Công an thành phố Đ, có Công văn số: 313/KTHS(P2) kết luận cơ chế hình thành vết thương của Nguyễn Hữu T2 như sau: Vết thương do vật tày có tiết diện lớn (như bàn tay, chân, mặt đường) tác động với lực vừa phải tạo nên; Vùng đầu nạn nhân bị ngoại lực tác động tại nhiều vị trí và nhiều chiều hướng khác nhau trong một thời gian ngắn; Nạn nhân bị xuất huyết não khi còn ở tư thế đứng.

Tang vật tạm giữ:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu honda, biển kiểm soát 43-666NP, hiện cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Minh T5.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đỏ của Nguyễn Hữu T2. Hiện cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Võ Thị S1 sinh năm 1987 là vợ bị hại T2.

- 01 (một) đĩa CD lưu trữ 01 (một) đoạn video thời lượng 02 phút 38 giây. Cáo trạng số 136/CT-VKSĐN-P2 ngày 23-10-2023, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng, truy tố Nguyễn Đức T về tội “Giết người”, quy định tại khoản 2 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

* Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 8 đến 9 năm tù về tội “Giết người”; ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng của vụ án và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

*Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo cho rằng nếu anh T2 không đi theo đến tận nhà bị cáo để gây gổ, khi được can ngăn bị cáo đã đi vào nhà nhưng T2 vẫn cứ xông đến thách thức làm cho bản thân không kìm nén được, bức xúc nên mới xô xát với anh T2 dẫn đến hậu quả như ngày hôm nay. Bị cáo xin lỗi gia đình bị hại, ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của bản thân đã xâm phạm đến tính mạng của anh T2; xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình và xã hội.

* Đại diện hợp pháp của bị hại chị S: Đề nghị xử lý vụ án theo quy định pháp luật. Chị thừa nhận gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình chị 100.000.000 đồng. Chị yêu cầu bồi thường 117.200.000 đồng chi phí mai táng. Tiền cấp dưỡng nuôi hai cháu nhỏ T3 và T4 mỗi cháu 4.000.000 đồng/1 tháng kể từ khi anh T2 chết cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, đồng thời yêu cầu cấp dưỡng một lần. Ngoài ra còn yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; đảm bảo quyền và nghĩa vụ cho người tham gia tố tụng. Những người tham gia tố tụng trong vụ án không ai khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Qua xem xét lời khai của bị cáo Nguyễn Đức T trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, cùng các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án; quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát và luận cứ bào chữa cho bị cáo, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 20 giờ ngày 01/4/2023, tại quán bida số E B, phường H, quận C, trong lúc đánh bida Nguyễn Hữu T2 đã uống bia và gây sự với Nguyễn Đức T, thấy anh T2 nói nhiều nên T bảo nghỉ chơi bida và tự thanh toán tiền rồi ra về. Anh T2 rủ T uống bia tiếp nhưng T không đồng ý và nói “mi say, mi nói nhiều quá, thôi về đi”; T lấy xe ra về. T2 đi theo T đến tận nhà (H B, phường H, quận C) để gây sự dẫn đến T và T2 xảy ra xô xát với nhau. Mặc dù được P và Q can ngăn nhưng T2 vẫn xông vào túm cổ áo T và thách đố đánh nhau. Việc gây gổ của T2 làm cho T bực tức nên Nguyễn Đức T đã có hành vi dùng tay phải đấm nhiều lần vào vùng nguy hiểm là mặt và đầu (sau gáy) của Nguyễn Hữu T2, dẫn đến Nguyễn Hữu T2 tử vong tại chỗ với nguyên nhân là xuất huyết não bộ.

Hành vi nói trên của bị cáo đã cấu thành tội "Giết người", quy định tại Điều 123 của Bộ luật Hình sự. Chỉ vì bị cáo không chịu chơi bida với bị hại mà bị hại đi theo đến nhà bị cáo T và có lời lẽ khiêu khích, thách đố dẫn tới việc đánh nhau, hậu quả T2 bị T đánh chết. Do đó, hành vi của bị cáo thuộc trường hợp định khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 123 của Bộ luật Hình sự, như cáo trạng đã truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Xét vụ án là rất nghiêm trọng vì từ một mâu thuẫn nhỏ, nhưng bị cáo đã dùng tay đánh vào đầu và tước đoạt tính mạng người khác. Hành vi của các bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, ảnh hưởng an ninh trật tự và an toàn xã hội.

[4] Khi lượng hình cho bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo; dù hoàn cảnh kinh tế khó khăn nhưng bị cáo cũng tác động để gia đình bồi thường cho gia đình bị hại 100.000.000 đồng; bản thân bị cáo từng tham gia các hoạt động của địa phương, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị hại cũng có một phần lỗi, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Từ những phân tích trên, xét thấy bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng; bị cáo đã tước đoạt tính mạng của anh T2 trái pháp luật, nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Hình sự để trừng trị và giáo dục bị cáo; cũng như phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

[6] Xử lý vật chứng:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu honda, biển kiểm soát 43-666NP, do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Minh T5 là phù hợp.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đỏ của Nguyễn Hữu T2. Hiện cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Võ Thị S1 sinh năm 1987 là vợ T2 là phù hợp.

- 01 (một) đĩa CD lưu trữ 01 (một) đoạn video thời lượng 02 phút 38 giây lưu hồ sơ vụ án.

[7] Về bồi thường thiệt hại:

Tại phiên Tòa chị S (đại diện hợp pháp của bị hại) yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền mai táng phí là 117.200.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền này nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu cấp dưỡng của chị S, buộc bị cáo Nguyễn Đức T phải cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Thị Thanh T3 sinh năm 2014 và cháu Nguyễn Thị Thanh T4 sinh năm 2018 (có người giám hộ là chị Võ Thị S, mẹ của các cháu) mỗi cháu 2.000.000 đồng/1 tháng từ ngày 02/4/2023 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Đối với tiền tổn thất tinh thần theo quy định của pháp luật.

[8] Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, Tuyên bố Nguyễn Đức T phạm tội “Giết người”;

Xử phạt Nguyễn Đức T 8 (tám) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 02 tháng 4 năm 2023.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- 01 (một) đĩa CD lưu trữ 01 (một) đoạn video thời lượng 02 phút 38 giây lưu hồ sơ vụ án.

3. Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 46; Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 591 của Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Đức T phải bồi thường cho người đại diện hợp pháp bị hại là bà Võ Thị S: khoản tiền chi phí mai táng 117.200.000 đồng; khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần 180.000.000 đồng. Tổng số tiền phải bồi thường là 297.200.000 đồng, bị cáo đã bồi thường 100.000.000 đồng nên buộc Nguyễn Đức T phải bồi thường số tiền còn lại cho bà Võ Thị S là 197.200.000 đồng.

Buộc Nguyễn Đức T mỗi tháng cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Thị Thanh T3 sinh năm 2014 và cháu Nguyễn Thị Thanh T4 sinh năm 2018 (bà Võ Thị S1 là người giám hộ của cháu T3 và T4) mỗi cháu 2.000.000 đồng/1 tháng. Thời gian thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng được tính từ ngày 02/4/2023 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày bên có quyền có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên có nghĩa vụ chậm thực hiện nghĩa vụ bồi thường thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thực hiện nghĩa vụ theo lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Nguyễn Đức T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Nguyễn Đức T phải chịu 9.860.000 (Chín triệu tám trăm sáu mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

68
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội giết người số 107/2023/HS-ST

Số hiệu:107/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đà Nẵng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:24/11/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về