Bản án về tội giết người số 03/2022/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

BẢN ÁN 03/2022/HS-ST NGÀY 12/01/2023 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Trong các ngày 05 và 12 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2022, Thông báo về việc mở lại phiên toà số 162/2022/TB-TA ngày 22 tháng 12 năm 2022, đối với các bị cáo:

1. Phan Ngọc Y, S năm 1990; Tại: tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi ĐKHKTT: khu phố Ông T, phường T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Cha: Phan Ngọc Y1 (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị P, sinh năm: 1968; Vợ: Hoàng Thị H, sinh năm: 1991; có 01 con, sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị can bị bắt ngày 24/01/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.

2. Lê Văn G, sinh năm 1997; Tại: tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi ĐKHKTT: thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Lê Văn P1, sinh năm: 1977; Mẹ: Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1979;

Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 26/9/2019, Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ ra Quyết định số 77/2019/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng. Đến ngày 30/10/2020, Lê Văn G chấp hành xong.

Bị cáo tại ngoại (có mặt).

3. Lê Văn T1, sinh ngày 03 tháng 3 năm 2003; Tại: tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi ĐKHKTT: thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Lê Văn T2 (đà chết trong vụ án); Mẹ: Lê Thị Đ, sinh năm: 1973; Gia đình có 02 anh em, bị can là con lớn nhất;

Tiền sự: Không;

Tiền án: Ngày 17/3/2021, Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tuyên Bản án số 37/2021/HS-ST xử phạt Lê Văn T1 08 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 16 tháng, kể từ ngày tuyên án.

Bị cáo tại ngoại (có mặt).

- Bị hại: Lê Văn T2 (đã chết trong vụ án) Đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Lê Thị D, sinh năm 1956 (là mẹ ruột của bị hại); địa chỉ: thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1968; Địa chỉ: khu phố Ô, phường T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 23/01/2022, Phan Ngọc Y đi xe máy đến nhà chị H2 ở thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nhậu. Nhậu được một lúc, Y chạy xe về nhà dì ruột là bà Y2 ở gần đó đi vệ sinh. Khi Y chạy xe ngang qua nhà ông Lê Văn T2 (sinh năm 1974, HKTT: thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) thì bị Lê Văn G đang ngồi nhậu với Lê Văn T1 (con ruột ông T2) ở trước nhà chửi vì cho rằng Y chạy xe nẹt pô lớn tiếng gây ồn ào. Y không nói gì đi vào nhà bà Y2 đi vệ sinh. Khi đi ra Y phát hiện trước cửa nhà bà Y2 có 01 con dao Thái lan cán nhựa màu vàng, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 20cm để trên bàn, Y lấy con dao bỏ vào túi quần phòng thân nếu bị G và T1 đánh. Khi vừa ra khỏi nhà khoảng 2-3m thì Y bị ông Lê Văn T2 lao đến dùng tay đánh, vật ngã xuống đất. T1 và G cũng xông đến dùng tay đánh nhiều cái vào người Y. Y bị đánh ngã nằm xuống đất liền rút con dao trong túi quần cầm trên tay phải đâm 01 phát trúng vào vùng tai bên trái ông T2, lưỡi dao xuyên thấu dính vào vùng cổ ông T2, còn phần cán dao bị tuột ra Y cầm vứt lên mái nhà gần đó. Thấy ông T2 bị đâm chảy nhiều máu, Y đã cùng T1 và G chở đi bệnh viện cấp cứu. Sau đó, Y đến Cơ quan điều tra đầu thú. Đến ngày 27/01/2022, ông Lê Văn T2 tử vong khi đang điều trị tại Bệnh viện C - Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại Kết luận giám định pháp y về tử thi số 72/KLGĐ-PC09-PY ngày 04/3/2022 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh B kết luận ông Lê Văn T2 chết do shock không hồi phục do vết thương xuyên thấu vùng cổ gây đứt động mạch đốt sống cổ, đứt nhánh động mạch cảnh, vỡ đốt sống cổ, mất máu cấp. Vật tác động gây chết là cạnh sắc, đầu nhọn, cứng chắc tác động trực tiếp vào vùng cổ cơ thể nạn nhân theo chiều từ trái qua phải. Xét nghiệm Covid-19: Dương tính (BLĐT 56, 57).

Tại Kết luận giám định số 2473/KL-KTHS ngày 24/5/2022 của Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh - Bộ C1 kết luận: Trên cán dao và thanh kim loại gửi giám định đều dính máu người, phân tích gen (ADN) từ các dấu vết máu này được kết quả như sau: Trên thanh kim loại phân tích được 01 kiểu gen trùng với kiểu gen của ông Lê Văn T2; trên cán dao phân tích được 01 kiểu gen nam không đầy đủ, không truy nguyên được cá thể từ kết quả phân tích này (BLĐT 52).

Quá trình điều tra, Phan Ngọc Y, Lê Văn T1 và Lê Văn G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên (BLĐT 87-99; 106-112; 124 - 138).

* Vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra thu giữ: 01 cán dao bằng nhựa, màu vàng dài khoảng 10cm, rộng khoảng 02cm; 01 thanh kim loại dài khoảng 10cm, rộng khoảng 02cm, có dính máu (BLĐT 62, 63).

* Về trách nhiệm dân sự: Bà Lê Thị D mẹ ruột của ông Lê Văn T2 yêu cầu Phan Ngọc Y phải bồi thường tổng số tiền 120 triệu đồng. Đại diện gia đình Phan Ngọc Y là Nguyễn Thị P đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 44 triệu đồng. Bà D yêu cầu Y phải bồi thường số tiền còn lại là 76 triệu đồng (BLĐT 149, 150, 153, 155).

Bản cáo trạng số 59/CT-VKS-P2 ngày 05-8-2022, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Phan Ngọc Y về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự; Lê Văn G và Lê Văn T1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo Phan Ngọc Y về tội “Giết người”; các bị cáo Lê Văn G, Lê Văn T1 về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Phan Ngọc Y từ 7 đến 9 năm tù; áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Văn G 9 - 15 tháng tù, Lê Văn T1 9-15 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiềm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định:

Khoảng 20 giờ ngày 23/01/2022, sau khi nhậu tại nhà chị H2, Phan Ngọc Y chạy xe máy đến nhà bà Y2 ở thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đi vệ sinh. Khi đi ngang qua nhà ông Lê Văn T2 (gần nhà bà Y2) thì bị Lê Văn G đang ngồi nhậu với Lê Văn T1 chửi do Y nẹt pô lớn tiếng gây ồn ào dẫn đến mâu thuẫn. Sau khi vào nhà bà Y2 đi vệ sinh, Y đà lấy 01 con dao Thái lan dài khoảng 20cm có lưỡi bằng kim loại giấu trong túi quần để phòng thân. Khi Y vừa ra khỏi nhà bà Y2 thì bị ông T2 lao đến dùng tay đánh, vật ngã xuống đất; G và T1 cũng xông vào dùng tay đánh nhiều cái vào người Y nên Y đã lấy con dao trong túi quần cầm trên tay phải đâm 01 phát trúng vào vùng tai trái, xuyên thấu vào vùng cổ ông T2. Hậu quả làm ông T2 chết do shock không hồi phục do vết thương xuyên thấu vùng cổ gây đứt động mạch đốt sống cổ, đứt nhánh động mạch cảnh, vỡ đốt sống cổ, mất máu cấp.

Hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ Luật hình sự đúng như bản luận tội của Viện kiểm sát đã quy kết.

Đối với Lê Văn G và Lê Văn T1 có hành vi cùng ông Lê Văn T2 xông vào đánh Y tuy chưa gây thương tích cho Y nhưng gây mất trật tự công cộng dẫn đến hậu quả ông Lê Văn T2 bị Y dùng dao đâm tử vong. Hành vi các bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự cồng cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ Luật hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Xét hành vi phạm tội của Phan Ngọc Y là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của bị hại, gây ảnh hưởng rất xấu đến an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Bị cáo nhận thức được việc dùng dao thái lan sắc nhọn đâm vào cơ thể bị hại sẽ dẫn đến hậu quả chết người nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, tước đi tính mạng của bị hại, gây đau thương mất mát cho gia đình bị hại. Do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội thời gian để giáo dục và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Đối với Lê Văn G và Lê Văn T1 có hành vi cùng ông Lê Văn T2 xông vào đánh Y gây mất trật tự công cộng khu dân cư, gây hậu quả nghiêm trọng làm chết người. Các bị cáo là người có nhân thân xấu, bị cáo G đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, bị cáo T1 bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” nên cần xử lý các bị cáo hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo T1 đã bị xét xử 08 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xoá án tích là lại tiếp tục phạm tội trong thời gian thử thách nên thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điềm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ:

Nhân thân bị cáo Y không có tiền án tiền sự, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã đưa bị hại đi cấp cứu và ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại cũng có một phần lỗi khi dùng tay đánh và vật bị cáo xuống đất trước, bị cáo tác động gia đình bồi thường cho đại diện bị hại số tiền 44.000.000 đồng, đại diện bị hại xin giảm hình phạt cho bị cáo, bản thân bị cáo tai nạn phải mổ sọ não, bị khuyết sọ, đang hưởng trợ cấp xã hội do khuyết tật nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo G, T1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo. Bị cáo G phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 đối với bị cáo.

[5] Về tổng hợp hình phạt:

Bản án số 37/2021/HS-ST ngày 17/3/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã xử phạt Lê Văn T1 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 16 tháng, kể từ ngày tuyên án. Bị cáo phạm tội ngày 23-02-2022 trong thời gian thử thách nên áp dụng khoản 5 Điều 65, Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp thành hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Đại diện bị hại bà Lê Thị D yêu cầu Phan Ngọc Y phải bồi thường tổng số tiền 120.000.000 đồng tiền chi phí cứu chữa và mai táng cho bị hại. Ngoài ra, bà D không yêu cầu bồi thường khoản nào khác. Bị cáo tích cực tác động gia đình bị bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 44.000.000 đồng. Bà D yêu cầu Y phải bồi thường số tiền còn lại là 76.000.000 đồng.

Tại phiên toà, bị cáo tự nguyện đồng ý bồi thường theo yêu cầu của đại diện bị hại nên ghi nhận sự thoả thuận của đại diện bị hại và bị cáo.

[7] Xử lý vật chứng:

01 cán dao bằng nhựa, màu vàng dài khoảng 10cm, rộng khoảng 02cm; 01 thanh kim loại dài khoảng 10cm, rộng khoảng 02cm, có dính máu không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí:

Các bị cáo T1, G phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo Y là người khuyết tật, là đối tượng được hưởng tiền trợ cấp xã hội tại địa phương. Do vậy căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Ngọc Y phạm tội “Giết người”, các bị cáo Lê Văn G, Lê Văn T1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

- Áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt Phan Ngọc Y 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 24-01-2022.

- Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, điềm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt Lê Văn T1 09 (chín) tháng tù.

Áp dụng khoản 5 Điều 65, Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp với hình phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo tại Bản án số 37/2021/HS-ST ngày 17/3/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, buộc Lê Văn T1 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 17 (mười bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt Lê Văn G 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 591 Bộ luật dân sự;

Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo tại phiên tòa. Buộc Phan Ngọc Y bồi thường cho đại diện bị hại bà Lê Thị D số tiền 76.000.000 đồng (bảy mươi sáu triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

3. Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 cán dao bằng nhựa, màu vàng dài khoảng 10cm, rộng khoảng 02cm; 01 thanh kim loại dài khoảng 10cm, rộng khoảng 02cm, có dính máu.

Vật chứng nêu trên Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 57/BB.CTHADS ngày 05-8-2022.

Các bị cáo Lê Văn G, Lê Văn T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Phan Ngọc Y.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

141
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội giết người số 03/2022/HS-ST

Số hiệu:03/2022/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:12/01/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về