Bản án về tội giết người (do đòi nợ) số 416/2023/HS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 416/2023/HS-PT NGÀY 20/09/2023 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Ngày 20-9-2023, từ điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kết nối với điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định, xét xử phúc thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 170/2023/LPT-HS ngày 08-4-2023 đối với bị cáo Đinh Công N. Do có kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2023/HS-ST ngày 10-3-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Bị cáo bị kháng cáo:

Đinh Công N, sinh năm 1986 tại Bình Định; nơi Đăng ký HKTT: Khu phố D, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; địa chỉ tạm trú: Thôn A, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 8/12; nghề nghiệp: Làm biển; con ông Đinh Văn C, sinh năm 1964 và bà Trương Thị Đ, sinh năm 1965; vợ là Trần Tô Thị Kim Y, sinh năm 1991 và có 03 con (lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt ngày 16-02-2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại điểm cầu thành phần.

- Đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo:

Bà Trần Thị H, sinh năm 1963; địa chỉ cư trú: Thôn H, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định, có mặt tại điểm cầu thành phần.

- Người tham gia tố tụng có liên quan đến kháng cáo: Người bào chữa cho bị cáo Đinh Công N: Luật sư Hà Văn B - Văn phòng L, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B, có mặt tại điểm cầu thành phần.

Bị hại: Anh Phan Văn D (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

Chị Phan Thị Hồng M, sinh năm 1992; địa chỉ cư trú: Thôn H, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định, vắng mặt tại phiên tòa.

Người đại diện theo ủy quyền của bà M (Giấy ủy quyền ngày 16-6-2022):

Bà Trần Thị H, sinh năm 1963; địa chỉ cư trú: Thôn H, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định, có mặt tại điểm cầu thành phần.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đại diện bị hại:

Luật sư Phan Ngọc N1 - Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ, có mặt tại điểm cầu thành phần.

(Vụ án có 01 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và có 02 người làm chứng nhưng không liên quan đến kháng cáo, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 06-01-2022, anh Phan Văn D gọi điện cho Đinh Công N đòi nợ thì N hẹn anh D buổi chiều sẽ trả tiền. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, anh D đến nơi neo đậu chiếc ghe của N tại xóm Đ, thôn A, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định để tìm N đòi nợ như đã hẹn. Lúc này, N đang ngồi trên ghe để sửa máy bơm nước. Khi gặp N, anh D yêu cầu N trả nợ nhưng N không có tiền trả, nên anh D chửi bới, hăm dọa và cầm 01 con dao bấm xông đến, N liền dùng tay phải cầm đòn gỗ (có sẵn trên ghe) đánh vào tay phải của anh D làm rơi con dao xuống sàn ghe rồi xông vào ôm, giằng co thì bị anh D cắn trúng ngón tay trỏ bàn tay trái. N dùng chân đạp vào người làm anh D ngã ngửa ra sau rồi xông đến dùng hai đầu gối đè lên bụng anh D, cầm đòn gỗ trên tay phải đánh mạnh một cái vào vùng thái dương bên trái của anh D. Lúc này, anh D nói “Mầy có ngon thì giết tao đi, chứ không tao giết cả nhà mầy”, do đó N dùng tay phải bóp vào cổ anh D, được khoảng 01 phút thì anh D kêu “Ức, ức” rồi tắt thở. Thấy vậy, N lấy tấm bạt màu trắng ở trên bờ, gần ghe của N đem xuống che thi thể của anh D rồi bỏ về nhà.

Khi về đến nhà, vợ N (chị Trần Tô Thị Kim Y) thấy tay N chảy máu, có hỏi thì N nói bị thương trong lúc sửa máy ghe và tự băng vết thương rồi một mình đi bộ ra ghe. Tại đây, N sợ bị phát hiện nên điều khiển ghe chở thi thể anh D đi một vòng ra đầm Đạm T. Sau đó, N chở thi thể của anh D quay lại nghĩa địa Nước M1, dùng một xây xẻng và một nón bảo hiểm để đào hố chôn giấu thi thể anh D. Sau khi giết anh Phan Văn D, N quay lại ghe nhặt con dao mà anh D sử dụng, 01 ví da (N khai bên trong có 25.000 đồng) và điện thoại di động (anh D làm rơi trong lúc đánh nhau) ném xuống nước, chỉ giữ lại sim điện thoại của anh D. N lấy sim của anh D lắp vào điện thoại của N sử dụng với mục đích để nắm thông tin. Sau đó, N nhớ ra lúc anh D đi đến chỗ N, anh D có để một chiếc xe máy ở ngã ba trước nhà ông Ba H1, nên N đã tự đưa xe của anh D đến quán thịt cầy Năm K rồi sử dụng sim điện thoại của anh D giả làm anh D, nhắn tin liên lạc người thân của anh D là chị Đỗ Thị S và anh Huỳnh Ngọc X để nhờ đến quán thịt cầy Năm K lấy xe của anh D về nhà.

Ngày 10-01-2022, N sử dụng sim số điện thoại của anh D gọi cho bà Trần Thị H (là mẹ của anh D) nói nội dung: Muốn gặp D thì 08 giờ ngày 11-01-2022 sẽ có người vào đón ra Huế gặp anh D. Sau đó, N tháo sim điện thoại của anh D ném xuống ao nước trước nhà. Ngày 18-01-2022, N đi xe vào Vũng Tàu rồi theo thuyền đi làm biển. Đến ngày 15-02-2022, N đến Công an huyện P tự thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 61/2022/PY-TT ngày 22-3-2022, Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận nguyên nhân chết của anh Phan Văn D: Suy hô hấp cấp do ngạt.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về ADN số 286/2022/TC-ADN ngày 28-6- 2022, V kết luận: Bà Trần Thị H có quan hệ huyết thống mẹ - con với tử thi có mẫu răng gửi giám định (Phan Văn D), độ tin cậy 99,9999%.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2023/HS-ST ngày 10-3-2023, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định:

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;

điểm p khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

- Đinh Công N 20 (hai mươi) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16-02-2022.

Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 591 và 593 của Bộ luật Dân sự.

Buộc Đinh Công N phải bồi thường 116.000.000.000 đồng, do xâm phạm tính mạng anh Phan Văn D, do người đại diện của bị hại là bà Trần Thị H nhận.

Đinh Công N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Phan Gia N2, sinh ngày 07-12-2019 (là con bị hại) mỗi tháng là 1.500.000 đồng, kể từ tháng 01-2022 cho đến khi cháu N2 tròn 18 tuổi.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

- Ngày 23-3-2023, người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Trần Thị H kháng cáo bản án.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Ngày 23-3-2023, người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Trần Thị H kháng cáo bản án. Đơn kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại là trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, do đó Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.

Tại phiên tòa, bà Trần Thị H đề nghị hủy bản án sơ thẩm để truy cứu trách nhiệm hình sự Đinh Công N thêm tội “Cướp tài sản”; tăng hình phạt về tội “Giết người” và tăng mức bồi thường tổn thất tinh thần.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng cho rằng với mục đích trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, Đinh Công N đã dùng tay bóp cổ cho đến khi anh Phan Văn D bị chết, sau đó đem thi thể anh D đi chỗ khác chôn lấp, nhằm che giấu hành vi phạm tội của mình, nên thuộc tình tiết định khung hình phạt “Vì động cơ đê hèn” được quy định tại điểm q khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự, từ đó đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ các điểm a, b khoản 2 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại.

- Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2023/HS-ST ngày 10-3-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định, theo hướng áp dụng các điểm n, q khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự, tăng hình phạt đối với bị cáo Đinh Công N lên tù Chung thân về tội “Giết người”; tăng mức bồi thường thiệt hại tổn thất về tinh thần cho người đại diện hợp pháp của bị hại.

Bị cáo Định Công N3 và Luật sư bào chữa cho bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tranh tụng công khai; nói lời sau cùng, bị cáo thể hiện thái độ ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

[2]. Xét kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại:

[2.1]. Đối với kháng cáo truy cứu trách nhiệm hình sự thêm tội “Cướp tài sản”:

Do Đinh Công N không trả nợ cho anh Phan Văn D như đã hẹn trước, từ đó giữa anh D và N xảy ra cãi và đánh nhau. Trong lúc đánh nhau, anh D cầm dao bấm xông đến, thì bị N dùng đòn gỗ đánh mạnh vào tay làm rơi con dao xuống sàn ghe rồi N dùng hai chân đạp vào vùng ngực, bụng làm cho anh D bị ngã ngửa ra sau. Tiếp đó, N dùng hai đầu gối đè lên bụng anh D để khống chế, dùng tay bóp cổ cho đến khi anh D bị chết do bị ngạt. Sau đó, N mang thi thể của anh D đi chôn giấu ở nghĩa địa N. Như vậy, xuất phát từ mâu thuẫn trong việc đòi và trả nợ, Đinh Công N đã dùng tay, chân đấm đạp và bóp cổ làm cho anh Phan Văn D bị chết. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định kết án bị cáo Đinh Công N về tội “Giết người” theo Điều 123 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Người đại diện hợp pháp của bị hại cho rằng, sau khi anh Phan Văn D bị chết, Đinh Công N đã lấy ví da (bên trong chứa tiền) và chiếm giữ điện thoại của anh D bán lấy tiền, từ đó khẳng định các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Bình Định còn bỏ lọt tội “Cướp tài sản”. Tuy nhiên, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, không có cơ sở để xác định Đinh Công N cướp tài sản của anh Phan Văn D. Do đó, kháng cáo về nội dung này không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[2.2]. Đối với kháng cáo về hình phạt:

Tính mạng, quyền được sống của con người được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Đinh Công N có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, bị cáo biết rõ mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật đến tính mạng của người khác sẽ bị xử lý nghiêm khắc, nhưng chỉ do mâu thuẫn nhỏ, bị cáo đã dùng tay, chân tấn công bị hại, trong khi bị hại đã bị ngã, không còn khả năng tự vệ.

Hành vi phạm tội của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội. Chỉ vì mục đích trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, bị cáo đã lập tức dùng tay, chân đè người và bóp cổ cho đến khi bị hại bị chết và ngay sau đó, bị cáo đã đem thi thể của bị hại đi chôn giấu; đồng thời, sử dụng sim số của điện thoại của bị hại nhắn tin cho người thân của bị hại để làm lạc hướng điều tra. Như vậy, ngoài hành vi phạm tội “Có tính chất côn đồ”, được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự, thì bị cáo còn phạm thêm tình tiết định khung hình phạt “Vì động cơ đê hèn”, được quy định tại điểm q khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự. Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định chỉ áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo là chưa đánh giá đúng tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo. Mặc dù, sau khi phạm tội, bị cáo đã tự thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo có công với cách mạng, có ông và bà ngoại được Chủ tịch nước tặng Huân chương, nhưng với tính chất đặc biệt nghiêm trọng của vụ án, thì hình phạt 20 năm tù mà Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt bị cáo là chưa tương xứng với hành vi phạm tội và hậu quả mà bị cáo đã gây ra. Để cải tạo, giáo dục bị cáo, cũng như ngăn chặn và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này, Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ áp dụng các điểm n, q khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với Đinh Công N. Do áp dụng điểm q khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không áp dụng điểm p khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[2.3]. Đối với kháng cáo về mức bồi thường thiệt hại:

Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định buộc bị cáo Đinh Công N “Bồi thường tiền mai táng, xây mộ là 80.000.000 đồng; tiền cấp dưỡng nuôi cháu Phan Gia N2, sinh ngày 07-12-2019 là con của bị hại mỗi tháng là 1.500.000 đồng cho đến khi cháu N2 tròn 18 tuổi” là có căn cứ, nhưng mức bồi thường tổn thất về tinh thần (36.000.000 đồng) là chưa đúng quy định tại khoản 2 Điều 591 của Bộ luật Dân sự. Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người đại diện hợp pháp của bị hại, Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ buộc Đinh Công N bồi thường cho bà Trần Thị H 100 tháng lương cơ sở tại thời điểm xét xử phúc thẩm, cụ thể: 100 tháng x 1.800.000 đồng = 180.000.000 đồng. Như vậy, tổng cộng Đinh Công N phải bồi thường cho bà Trần Thị H 260.000.000 đồng và cấp dưỡng nuôi cháu Phan Gia N2, sinh ngày 07- 12-2019 (là con của bị hại) mỗi tháng là 1.500.000 đồng cho đến khi cháu N2 tròn 18 tuổi.

Như vậy, nội dung kháng cáo về hình phạt và mức bồi thường của người đại diện hợp pháp của bị hại và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa là có cơ sở, nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

[4]. Về án phí phúc thẩm: Người đại diện hợp pháp của bị hại không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, các điểm a, b khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Trần Thị H. - Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2023/HS-ST ngày 10-3-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định về phần áp dụng pháp luật, phần Trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Đinh Công N và phần phần Bồi thường thiệt hại do tổn thất về tinh thần.

2. Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng các điểm n, q khoản 1 Điều 123; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 39 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

- Đinh Công N tù Chung thân về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16-02-2022.

3. Về bồi thường thiệt hại:

Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 591 và 593 của Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Đinh Công N phải bồi thường tiền xâm phạm tính mạng anh Phan Văn D số tiền là 260.000.000 đồng (hai trăm sáu mươi triệu đồng), bao gồm:

80.000.000 đồng chi phí mai táng và 180.000.000 đồng bồi thường tổn thất về tinh thần, do người đại diện cho người bị hại là bà Trần Thị H nhận.

Đinh Công N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Phan Gia N2, sinh ngày 07-12-2019 (là con bị hại) mỗi tháng là 1.500.000 đồng kể từ tháng 01-2022 cho đến khi cháu N2 tròn 18 tuổi.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất thỏa thuận của các bên nhưng không vượt quá mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền chậm thi hành án tại thời điểm thanh toán.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Về án phí phúc thẩm:

Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Bà Trần Thị H không phải chịu án phí phúc thẩm.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

70
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội giết người (do đòi nợ) số 416/2023/HS-PT

Số hiệu:416/2023/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 20/09/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về
Sáng ngày 06-01-2022, anh Phan Văn D gọi điện cho Đinh Công N đòi nợ thì N hẹn anh D buổi chiều sẽ trả tiền. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, anh D đến nơi neo đậu chiếc ghe của N tại xóm Đ, tỉnh Bình Định để tìm N đòi nợ như đã hẹn.

Lúc này, N đang ngồi trên ghe để sửa máy bơm nước. Khi gặp N, anh D yêu cầu N trả nợ nhưng N không có tiền trả, nên anh D chửi bới, hăm dọa và cầm 01 con dao bấm xông đến, N liền dùng tay phải cầm đòn gỗ đánh vào tay phải của anh D làm rơi con dao xuống sàn ghe rồi xông vào ôm, giằng co thì bị anh D cắn trúng ngón tay trỏ bàn tay trái.

N dùng chân đạp vào người làm anh D ngã ngửa ra sau rồi xông đến dùng hai đầu gối đè lên bụng anh D, cầm đòn gỗ trên tay phải đánh mạnh một cái vào vùng thái dương bên trái của anh D. Lúc này, anh D nói “Mầy có ngon thì giết tao đi, chứ không tao giết cả nhà mầy”, do đó N dùng tay phải bóp vào cổ anh D, được khoảng 01 phút thì anh D kêu “Ức, ức” rồi tắt thở. Thấy vậy, N lấy tấm bạt màu trắng ở trên bờ, gần ghe của N đem xuống che thi thể của anh D rồi bỏ về nhà.

Sau đó, N sợ bị phát hiện nên điều khiển ghe chở thi thể anh D ra nghĩa địa, dùng một xây xẻng để đào hố chôn giấu thi thể anh D.