Bản án về tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi số 53/2023/HS-ST

 

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN - TỈNH HOÀ BÌNH

BẢN ÁN 53/2023/HS-ST NGÀY 15/09/2023 VỀ TỘI GIAO CẤU VỚI NGƯỜI TỪ ĐỦ 13 TUỔI ĐẾN DƯỚI 16 TUỔI

Ngày 15/9/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc S, tỉnh Hòa Bình. Toà án nhân dân huyện Lạc S đã mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 69/2023/HSST ngày 02 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Văn Ch, sinh ngày 24/5/1993; Nơi sinh: TT Vân D, huyện Thạch Th, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: khu phố xóm Sắn, TT Vân D, huyện Thạch Th, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: lao động phổ thông. Con ông Trần Văn B, sinh năm 1966 và bà Trần Thị V, sinh năm 1970; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Bùi Thị Ch, sinh năm 2005; Con: 01 con, sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cơ trú. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bùi Thị Ch, sinh năm 2005; Địa chỉ: xóm Chạo Nạc, xã Tuân Đ, huyện Lạc S, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt theo đơn xin xét xử vắng mặt ngày 10/9/2023.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Bùi Văn T, sinh năm 1952. Địa chỉ: xóm Mòi 2, xã Tân L, huyện Lạc S, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt theo đơn xin xét xử vắng mặt ngày 10/9/2023.

+ Ông Trần Văn B, sinh năm 1966. Địa chỉ: khu phố xóm Sắn, TT Vân D, huyện Thạch Th, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt theo đơn xin xét xử vắng mặt ngày 11/9/2023.

+ Bà Trần Thị V, sinh năm 1970. Địa chỉ: khu phố xóm Sắn, TT Vân D, huyện Thạch Th, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng cuối tháng 7 năm 2020, Trần Văn Ch, sinh năm: 1993, trú tại khu phố Xóm Sắn, Thị trấn Vân D, huyện Thạch Th, tỉnh Thanh Hóa, kết bạn và làm quen với Bùi Thị Ch, sinh ngày 08 tháng 02 năm 2005, trú tại: xóm Mòi 2, xã Tân L, huyện Lạc S, tỉnh Hòa Bình, qua mạng xã hội facebook. Sau đó, Trần Văn Ch và Bùi Thị Ch nảy sinh tình cảm nam nữ yêu nhau. Trước khi gặp nhau, Bùi Thị Ch nói với Trần Văn Ch là Bùi Thị Ch sinh năm 2003, sau đó Bùi Thị Ch rủ Trần Văn Ch sang nhà Bùi Thị Ch chơi. Vào buổi tối, một ngày cuối tháng 7 năm 2020, Trần Văn Ch sang nhà Bùi Thị Ch tại xóm Mòi 2, xã Tân L, huyện Lạc S, tỉnh Hòa Bình chơi. Sau đó, Trần Văn Ch đưa Bùi Thị Ch ra khu vực Thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc S, tỉnh Hòa Bình đi chơi. Trần Văn Ch và Bùi Thị Ch vào một quán nước ở khu vực xóm Nam Hòa 2, xã Xuất Hóa, huyện Lạc S, tỉnh Hòa Bình ngồi uống nước nói chuyện, tâm sự với nhau do lâu ngày nên Bùi Thị Ch và Trần Văn Ch không nhớ tên và địa chỉ cụ thể quán nước . Được một lúc sau, Bùi Thị Ch có rủ Trần Văn Ch đi nhà nghỉ để vệ sinh cá nhân, nhưng mục đích là để quan hệ tình dục với nhau. Trần Văn Ch nghĩ Bùi Thị Ch đã đủ 16 tuổi như Bùi Thị Ch nói nên Trần Văn Ch đã đồng ý. Trần Văn Ch đưa Bùi Thị Ch vào nhà nghỉ Minh Ng, địa chỉ tại phố Tân Giang, Thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc S, tỉnh Hòa Bình. Trần Văn Ch vào quầy lễ tân thuê phòng, Trần Văn Ch lấy phòng 203. Sau đó, Trần Văn Ch và Bùi Thị Ch cùng lên phòng, khi vào trong phòng, Trần Văn Ch và Bùi Thị Ch ôm hôn nhau, rồi hai người cùng nằm xuống giường, tự cởi bỏ quần áo của mình rồi mânằmê, sờ mó cơ thể và bộ phận sinh dục của nhau. Một lúc sau, Bùi Thị Ch nằm ngửa ra giường, hai chân dạng ra, còn Trần Văn Ch quỳ gối giữa hai chân của Bùi Thị Ch, rồi cầm lấy dương vật của mình đang cương cứng đưa vào bên trong âm đạo của Bùi Thị Ch, được khoảng 10 phút thì Trần Văn Ch xuất tinh vào bên trong âm đạo của Bùi Thị Ch. Sau đó, Trần Văn Ch ôm Bùi Thị Ch nằm trên giường. Một lúc sau, Trần Văn Ch và Bùi Thị Ch tự mặc lại quần áo, Trần Văn Ch xuống quầy lễ tân trả phòng. Sau đó, Trần Văn Ch đưa Bùi Thị Ch về nhà Bùi Thị Ch tại xóm Mòi 2, xã Tân L, huyện Lạc S, tỉnh Hòa Bình, sau khi đưa Bùi Thị Ch về đến nhà, Trần Văn Ch đi về nhà mình. Thời gian sau đó, Trần Văn Ch tiếp tục liên lạc với Bùi Thị Ch qua mạng xã hội facebook. Được một thời gian sau, Bùi Thị Ch phát hiện bản thân có thai và báo cho Trần Văn Ch biết, Trần Văn Ch đã nhận trách nhiệm và chăm sóc Bùi Thị Ch trong quá trình mang thai. Đến ngày 08 tháng 4 năm 2021, Bùi Thị Ch sinh con là bé gái và đặt tên bé gái là Trần Bảo N. Do Bùi Thị Ch chưa đủ 18 tuổi nên Bùi Thị Ch và Trần Văn Ch chưa đăng ký kết hôn. Sau khi Bùi Thị Ch sinh con xong, Trần Văn Ch và Bùi Thị Ch cùng chung sống, chăm sóc và nuôi dưỡng bé Trần Bảo N một nhà, tại khu phố Xóm Sắn, Thị trấn Vân D, huyện Thạch Th, tỉnh Thanh Hóa. Đến tháng 02 năm 2023, Trần Văn Ch đưa Bùi Thị Ch đi làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND Thị trấn Vân D, huyện Thạch Th, tỉnh Thanh Hóa thì Trần Văn Ch phát hiện Bùi Thị Ch sinh ngày 08 tháng 02 năm 2005, chứ không phải sinh năm 2003 như trước đó Bùi Thị Ch nói. Nhận thấy thời điểm thực hiện hành vi quan hệ tình dục với Bùi Thị Ch thì Bùi Thị Ch chưa đủ 16 tuổi là sai trái, vi phạm pháp luật nên Trần Văn Ch đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Th, tỉnh Thanh Hóa để Tự thú về hành vi giao cấu với Bùi Thị Ch, sinh ngày 08/02/2005, tại Thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc S, tỉnh Hòa Bình, vào tháng 7 năm 2020.

Tại Bản kết luận giám định số: 11/KLKNTD, ngày 22/3/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Hòa Bình, kết luận: Trần Văn Ch tại thời điểm giám định có đủ khả năng sinh lý làm cương cứng dương vật để quan hệ tình dục.

Tại Bản kết luận giám định DN số: 208/23/KLGĐ DN-PYQG, ngày 29/3/2023, của Viện pháp y Quốc gia, kết luận:

- Bùi Thị Ch có quan hệ huyết thống mẹ - con với Trần Bảo N, độ tin cậy 99,9999%.

- Trần Văn Ch có quan hệ huyết thống bố - con với Trần Bảo N, độ tin cậy 99,9999%.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạc S, tỉnh Hòa Bình đã điều tra xác minh, xác định ra: Bị hại Bùi Thị Ch sinh ngày 08 tháng 02 năm 2005 và sinh con là bé gái, tên cháu Trần Bảo N ngày 08 tháng 4 năm 2021.

Trước Cơ quan CSĐT Công an huyện Lạc S, tỉnh Hòa Bình, Trần Văn Ch đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, phù hợp với các tài liệu đã thu thập trong hồ sơ vụ án.

* Việc thu giữ, tạm giam tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Không

* Phần dân sự: Sau khi Bùi Thị Ch báo tin có thai, Trần Văn Ch đã nhận trách nhiệm, sau đó đón Bùi Thị Ch và con của Bùi Thị Ch là cháu Trần Bảo N về nhà Trần Văn Ch để chăm sóc và nuôi dưỡng. Hiện tại, Trần Văn Ch đã đăng ký kết hôn với Bùi Thị Ch và cùng chung sống một nhà.

Bị hại: Bùi Thị Ch không yêu cầu, đề nghị bị cáo là Trần Văn Ch hỗ trợ, bồi thường gì.

Theo bản cáo trạng số: 45/CT-VKS ngày 02/8/2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạc S quyết định truy tố bị cáo Trần Văn Ch về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Kết thúc phần xét hỏi vị đại diện Viện kiểm sát công bố bản luận tội; Nội dung bản luận tội đã phân tích tính chất, mức độ, nguyên nhân, động cơ mục đích phạm tội, nhân thân của bị cáo; Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo và khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, áp dụng điểm d khoản 2 Điều 145; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn Ch 36 Ba mươi sáu tháng tù và cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Không có, không đề nghị HĐXX xem xét.

Bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố, nội dung bản luận tội của Viện Kiểm sát đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Viện Kiểm sát.

Tại lời nói sau cùng bị cáo ăn năn hối hận về việc làm của mình, xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo để chăm sóc bố bị bệnh và cùng với bị hại chăm sóc con nhỏ.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua kết quả thẩm vấn và tranh tụng công khai tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của người làm chứng, người có nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1].Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lạc S, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạc S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Tuy nhiên quá trình điều tra, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã có lời khai đầy đủ, r ràng được lưu trong hồ sơ vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, xét thấy sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Văn Ch có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung cáo trạng, lời khai của người bị hại, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ căn cứ để xác định: Vào vào tháng 7 năm 2020 vì mục đích thỏa mãn ham muốn tình dục của bản thân nên bị cáo đã thực hiện hành vi giao cấu với cháu Bùi Thị Ch sinh ngày 08/02/2005. Tại thời điểm Ch thực hiện hành vi giao cấu cháu Ch được 15 tuổi 4 tháng, vì vậy hành vi của bị cáo đã cấu thành vào tội “Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi trên đây của bị cáo Trần Văn Ch không những đã trực tiếp xâm hại thân thể, danh dự, nhân phẩm của trẻ em được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển bình thường về tâm, sinh lý của người bị hại mà còn gây mất an ninh trật tự địa phương. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa, đấu tranh với loại tội phạm này, góp phần gi v ng ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em, người chưa thành niên.

[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Văn Ch không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Xét bản thân bị cáo là người có nhân thân tốt, thể hiện bị cáo không có tiền án, tiền sự, tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo Ch thật thà khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan cảnh sát điều tra để tự thú; bố bị cáo bị tai biến, con còn nhỏ, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo và người bị hại là vợ chồng, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và đề nghị cho bị cáo hưởng án treo. Vì vậy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[6]. Về hình phạt: HĐXX xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; Bị cáo và người bị hại có quan hệ hôn nhân hợp pháp, bị hại có đơn xin đề nghị giảm nhẹ hình phạt và mong muốn HĐXX cho bị có được hưởng án treo để vợ chồng tiếp tục chung sống, cùng nhau lao động nuôi dậy con cái. Bị cáo và gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện Kiểm sát. HĐXX nhận thấy cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định của khoản 4 Điều 145 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp, không đảm nhiệm chức vụ nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 4 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo.

[8].Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[9]. Về vật chứng: Không có nên HĐXX không đặt ra giải quyết.

[10]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11]. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: điểm d khoản 2 Điều 145; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Ch phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn Ch: 36 (Ba mươis sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thử thách 60 tháng, kể từ ngày tuyên án 15/9/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Giao bị cáo Trần Văn Ch cho Ủy ban nhân dân thị trấn Vân D, huyện Thạch Th, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo đó phải chấp hành hình phạt tù đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Văn Ch phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Án xử kín sơ thẩm. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

51
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi số 53/2023/HS-ST

Số hiệu:53/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lạc Sơn - Hoà Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 15/09/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về