Bản án về tội gây rối trật tự công cộng số 80/2023/HS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

BẢN ÁN 80/2023/HS-PT NGÀY 15/12/2023 VỀ TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG

Ngày 15/12/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 92/2023/HSPT ngày 13/10/2023 đối với các bị cáo Đỗ Xuân T, Hoàng Đình P, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2023/HS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Đỗ Xuân T, sinh ngày 19/9/2004; nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện Â, tỉnh Hưng Yên; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị N; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 01/9/2021, bị TAND huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội Gây rối trật tự công cộng. Bị tạm giam từ ngày 09/02/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, (có mặt).

2. Nguyễn Đức P1, sinh ngày 20/11/2005; nơi cư trú: thôn B, xã Q, huyện Â, tỉnh Hưng Yên; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Văn L và bà Đoàn Thị L1; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 21/4/2022, bị Công an huyện  xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tham gia tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng (đã nộp phạt ngày 28/4/2022). Bị tạm giam từ ngày 08/02/2023 đến ngày 14/3/2023 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh, hiện đang tại ngoại, (có mặt).

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Đức P1: Ông Nguyễn Văn L và bà Đoàn Thị L1 (là bố mẹ đẻ); nơi cư trú: thôn B, xã Q, huyện Â, tỉnh Hưng Yên (Đều vắng mặt). Có anh trai của bị cáo là Nguyễn Mạnh H1 đến dự phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức P1: Luật sư Lê Thanh T1 - Luật sư thực hiện hợp đồng trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H, (Có đơn xin xét xử vắng mặt và có luận cứ bào chữa cho bị cáo gửi Tòa án).

Ngoài ra trong vụ án còn có 14 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 18/10/2022, Vũ Hồng Q đi qua quán bi a thuộc thôn B, xã Q nhìn thấy Nguyễn Đức P1 và Nguyễn Xuân L2 đang chơi bi a nên Q rủ P1, L2 xuống thành phố H thì L2, P1 đồng ý. L2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave, BKS 89B1-xxxxx chở P1 về nhà lấy áo rét, 01 liềm có cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại và tháo biển kiểm soát cho vào trong cốp xe để đi ra đường mới thuộc ngã tư làng Q, thị trấn Â. Đến khoảng 19 giờ 30 phút, Vũ Hồng Q cùng Phạm Đức V, Lưu Tiến Đ và Nguyễn Minh H2 ra ngồi chơi tại khu vực Đ thuộc xã Q. Lúc này Q rủ H2, Phạm Đức V, Lưu Tiến Đ xuống thành phố H để đánh nhau tất cả đều đồng ý. Lưu Tiến Đ điều khiển xe mô tô chở Q (ngồi giữa), Phạm Đức V (ngồi sau); H2 điều khiển xe mô tô một mình cùng đi về nhà anh Hoàng Anh N1, sinh năm 2002, trú tại thôn B, huyện  để lấy hung khí do Q cất giấu từ trước. Khi đến, anh N1 không có nhà, Q đi vào vườn lấy 03 đoạn tuýp sắt có gắn dao (dao phóng lợn); 01 tuýp sắt dài khoảng 1,5m, mang đi cất giấu ở bụi cây ven đường, tại đoạn đường mới thuộc ngã tư Làng Q. Sau đó cả nhóm đi ra khu vực đường đôi thị trấn Â, gần UBND huyện Â1 ngồi uống nước thì gặp Đoàn Đình Đ1; Đoàn Khắc Đ2; Đoàn Minh H3; Nguyễn Văn Đ3; Cao Thành Đ4; Đoàn Quang D; Nguyễn Văn V1; Đỗ Xuân T; Nguyễn Văn H4; Hoàng Đình P và Nguyễn Thành C đang ngồi uống nước. Quá trình ngồi uống nước, Đ2 nói “Mấy hôm trước có xuống thành phố H chơi thì bị nhóm ở thành phố H đuổi đánh” nên cả nhóm cùng rủ nhau đi xuống thành phố H để tìm xem có gặp nhóm người hôm trước đánh Đ2 để đánh lại, cả nhóm đi ra đoạn đường mới thuộc ngã tư Làng Q. Tại đây, Q xuống xe lấy 03 dao phóng lợn, đưa cho Đ3, T, Nguyễn Văn V1, còn Q cầm 01 tuýp sắt, H3 cầm 01 dao cánh bướm (dao mèo), Đoàn Đình Đ1 cầm 01 gậy rút ba khúc (gậy baton). Lúc này Nguyễn Xuân L2 chờ Nguyễn Đức P1 đi ra nhập vào cùng nhóm Q. Đến khoảng 21 giờ, cả nhóm Q đi trên 08 xe mô tô nhãn hiệu Wave, đã tháo biển kiểm soát hoặc dùng khẩu trang che để tránh bị phát hiện. Lưu Tiến Đ điều khiển xe mô tô chở Phạm Đức V và Q cầm 01 tuýp sắt; H4 chở T ngồi sau cầm 01 dao phóng lợn; Hoàng Đình P chở Nguyễn Văn Đ3 ngồi sau cầm 01 dao phóng lợn; Nguyễn Thành C chở Nguyễn Văn V1 cầm 01 dao phóng lợn; H2 chở H3 cầm 01 dao mèo; Nguyễn Xuân L2 chở Nguyễn Đức P1 ngồi sau cầm 01 liềm; Cao Thành Đ4 chở Đoàn Đình Đ1 ngồi sau cầm 01 gậy baton; D chở Đ2 ngồi sau không cầm theo hung khí. Nhóm Q đi ra T, huyện K đi theo Quốc lộ C hướng về thành phố H. Khi đi đến thị trấn L thì xe Lưu Tiến Đ dừng lại, Q xuống xe lấy vỏ chai bia, đưa cho Phạm Đức V cầm 02 vỏ chai; xe Đan 02 vỏ chai (Đan cầm 01 vỏ chai, Danh cầm 01 vỏ chai) và một số xe khác nhưng Q không nhớ cụ thể. Khi đến cổng chào thành phố H nhóm Q đi với tốc độ cao khoảng 80-90km/h, lạng lách, đánh võng, rú ga, bấm còi, nháy đèn, vượt đèn đỏ, mài phóng lợn, tuýp sắt xuống đường gây tóe lửa và trao đổi vũ khí cho nhau trong quá trình di chuyển.

Khi đến khu vực lối rẽ trước cửa Công ty TNHH P2, đường N, phường A, thành phố H, nhóm của Q nhìn thấy 03 xe mô tô, mỗi xe 02 người, gồm: cháu Dương Phú T2, sinh ngày 19/11/2007 chở Dương Văn Q1, sinh ngày 03/08/2007; Phạm Văn T3, sinh ngày 02/07/2007 chở Dương Quang T4, sinh ngày 16/04/2007; Dương Ngọc Q2, sinh ngày 19/11/2007 chở Dương Thị Y, sinh ngày 07/10/2006 đều trú tại: thôn A, xã H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên đi ngược chiều, nhóm Q cầm theo hung khí đuổi đánh, Phạm Đức V ném 02 vỏ chai bia về phía nhóm T2 nhưng không trúng, làm vỏ chai vỡ ra đường. Thấy vậy xe của T3, Q2 rẽ phải vào đường C, còn xe của T2 chở Q1 rẽ trái sang đường, cùng chiều di chuyển với nhóm của Q thì bị xe H4 chở T đi trước, áp sát, ép xe, làm xe đổ ra đường, các xe khác cũng tiến đến, áp sát. Do sợ hãi nên T2, Q1 vứt xe bỏ chạy, quá trình bỏ chạy Q1 bị ngã làm rách da chảy máu ở bắp đùi chân trái. Khi thấy nhóm Q bỏ đi và để tránh gặp lại nhóm Q thì T2 ra lấy xe chở Q1 rồi cùng mọi người đi vào đường C, ra đường L để đi về. Nhóm Q tiếp tục điều khiển xe mô tô trên đường N, đến vòng xuyến Bưu điện tỉnh H thì quay lại, đi thẳng đến gần ngã tư chợ G, rẽ phải đi vào đường L. Khi đi đến cầu G nhóm Q nhìn thấy nhóm của T2 đang đi ngược chiều, nên quay xe lại tiếp tục cầm theo hung khí đuổi đánh; Đ2, D mỗi người cầm 01 vỏ chai chia ném về phía nhóm T2 nhưng không trúng, làm vỏ chai vỡ ra đường. Nhóm của T2 sợ hãi lại vứt xe bỏ chạy vào đường bê tông nhỏ trước cổng chợ G. Do đông người nên nhóm Q không đuổi theo mà quay xe lại, rẽ phải vào đường ADB, rẽ phải ra đường T, đến vòng xuyến Bưu Đ5 rẽ phải vào đường N rồi đi thẳng về hướng D, xã B thì gặp một nhóm thanh niên khác (không biết tên, tuổi, địa chỉ) đi trên 04 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner và Honda W, mỗi xe có 02 người đi ngược chiều. Nhóm này chửi và cầm gạch ném sang nhóm Q. Thấy vậy nhóm Q quay xe lại, tiếp tục cầm vỏ chai bia, dao phóng lợn và các hung khí khác đuổi đánh dọc đường N, nhóm này bỏ chạy về hướng Q, thành phố H. Khi đến Q, 02 xe rẽ vào đường Q, còn 02 xe đi thẳng về hướng đường Đ nên nhóm Q không đuổi được mà quay xe lại đi về. Trên đường về, do xe H2 chở H3 hết xăng nên rẽ vào cây xăng P N, phường A để mua xăng thì bị Tổ công tác 289 - Công an thành phố H giữ lại kiểm tra, H3 bỏ chạy. Tổ công tác đã tiến hành lập Biên bản vụ việc, đưa Nguyễn Minh H2 về trụ sở Công an để làm việc. Còn nhóm Q đi về, khi đi đến khu vực gần cầu N, huyện K thì Q thu lại của mọi người 03 dao phóng lợn, trên đường về Q đã vứt 03 dao phóng lợn, 01 tuýp sắt đi rồi về nhà.

Ngày 30/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 207/QĐ về tỷ lệ phần trăm tổn hại sức khỏe của cháu Dương Văn Q1. Tuy nhiên, cháu Q1 có đơn từ chối giám định và không có yêu cầu đề nghị về vấn đề bồi thường nên không có căn cứ để xử lý.

Kết luận giám định số 06/KL-KTHS ngày 08/3/2023 của Phòng K - Công an tỉnh H, kết luận: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 08 File video gửi giám định.

Vật chứng thu giữ: 01 đĩa DVD bên trong chứa 01 file video ghi lại hình ảnh của 01 nhóm thanh niên đi xe mô tô cầm theo phóng lợn, đuổi đánh nhau tại nối rẽ trước cửa Công ty TNHH P2; 01 đĩa DVD có chứa 07 file video ghi lại hình ảnh 01 nhóm thanh niên đi xe mô tô tốc độ cao, lạng lách, đánh võng, cầm theo hung khí đi trên đường N, thành phố H; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ đen; 01 chìa khóa xe mô tô; trong cốp xe có 01 biển kiểm soát 89B1-xxxxx.

Đối với 03 dao phóng lợn, 01 tuýp sắt, 01 con dao mèo, 01 gậy baton (gậy 3 khúc), 01 chiếc liềm không đủ thông tin để cơ quan điều tra rà soát, thu giữ.

Đối với nhóm thanh niên lạ mặt gồm 08 người, đi trên 04 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner và W. Quá trình điều tra xác định: Nhóm thanh niên trên có hành vi chửi, ném gạch về phía nhóm Q. Tuy nhiên, nhóm Q không biết tên, tuổi, địa chỉ. Cơ quan điều tra đã tiến hành trích xuất C1 nhưng không xác định được các đối tượng nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với hành vi của Lưu Tiến Đ, sinh ngày 09/3/2008 thực hiện hành vi chở Vũ Hồng Q, Phạm Đức V để gây rối trật tự công cộng, thời điểm đó Lưu Tiến Đ mới trên 14 tuổi, theo quy định pháp luật chưa phải chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra đã đề nghị chính quyền địa phương nơi Đ sinh sống, áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục xã, phường đối với Đ. Ngày 31/03/2023, Ủy ban nhân dân xã Q đã ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục xã, phường đối với Lưu Tiến Đ.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 41/2023/HSST ngày 31/8/2023, Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên đã quyết định:

Căn cứ:

- Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Xuân T.

- Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đức P1.

Tuyên bố: Các bị cáo Đỗ Xuân T, Nguyễn Đức P1 đều phạm tội Gây rối trật tự công cộng.

Xử phạt:

- Bị cáo Đỗ Xuân T năm 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo tại bản án số 80/2021/HS-ST ngày 01/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Buộc bị cáo Đỗ Xuân T phải chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 09/02/2023, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 10/4/2021 đến ngày 14/4/2021 được ghi nhận tại bản án số 80/2021/HS - ST ngày 01/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức P1 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 08/02/2023 đến ngày 14/3/2023.

Ngoài ra bản án còn quyết định tội danh, hình phạt đối với 14 bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 11/9/2023, bị cáo Nguyễn Đức P1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Ngày 13/9/2023, bị cáo Đỗ Xuân T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo Nguyễn Đức P1, Đỗ Xuân T đều giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xác định: Về tội danh và hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đức P1, Đỗ Xuân T, giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo.

Luận cứ của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức P1 phân tích, đánh giá nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo P1 được hưởng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo P1 được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đức P1, Đỗ Xuân T đảm bảo về hình thức và trong thời hạn luật định, là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Đức P1, Đỗ Xuân T đều thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và lời khai trước cơ quan điều tra; phù hợp khách quan với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã đủ căn cứ xác định: Khoảng 21 giờ, ngày 18/10/2022, trên các tuyến đường N, Lê Văn L3, ADB và Tô H5 thuộc địa phận thành phố H. Vũ Hồng Q, Đỗ Xuân T, Nguyễn Đức P1, Đoàn Quang D, Phạm Đức V, Nguyễn Xuân L2, Nguyễn Văn V1, Nguyễn Văn Đ3, Đoàn Minh H3, Đoàn Đình Đ1, Đoàn Khắc Đ2, Nguyễn Thành C, Nguyễn Minh H2, Nguyễn Văn H4, Cao Thành Đ4, Hoàng Đình P và Lưu Tiến Đ có hành vi tập trung đông người, chờ nhau trên 08 xe mô tô; người ngồi sau cầm theo dao phóng lợn, tuýp sắt, liềm, dao mèo, gậy baton và nhiều vỏ chai bia là các hung khí nguy hiểm đi với tốc độ cao khoảng 80-90km/h, lạng lách, đánh võng, rú ga, bấm còi, nháy đèn, vượt đèn đỏ, mài tuýp sắt xuống đường gây tóe lửa trên các tuyến, trục đường chính trung tâm thành phố H, có mật độ người dân sinh sống, người tham gia giao thông đông, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Khi gặp nhóm của anh Dương Phú T2 tại khu vực lối rẽ trước cửa Công ty TNHH P2, đường N, phường A nhóm Q đã cầm theo hung khí đuổi đánh, Phạm Đức V ném 02 vỏ chai bia về phía nhóm T2 nhưng không trúng, làm vỏ chai vỡ ra đường, xe H4 chở T đi trước, các xe khác cũng tiến đến, áp sát, ép xe, làm xe T2 chở Dương Văn Q1 đổ ra đường, do sợ hãi nên T2, Q1 vứt xe bỏ chạy, quá trình bỏ chạy Q1 bị ngã làm rách da chảy máu ở bắp đùi chân trái. Khi đến gần cầu A, đường L, phường A nhóm Q gặp lại nhóm T2 nên tiếp tục cầm theo hung khí đuổi đánh. Đan, D mỗi người cầm 01 vỏ chai chia ném về phía nhóm T2 nhưng không trúng, làm vỏ chai vỡ ra đường. Nhóm của anh T2 sợ hãi lại vứt xe bỏ chạy. Sau đó nhóm Q gặp một nhóm thanh niên khác gần Dốc L4, trên đường N lại tiếp tục cầm theo hung khí, ném vỏ chai bia, đuổi đánh dọc đường N về Q, thành phố H.

Bởi hành vi nêu trên nên Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Đức P1, Đỗ Xuân T và các đồng phạm khác về tội Gây rối trật tự công cộng, theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3]. Xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đức P1, Đỗ Xuân T, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó cần phải xét xử các bị cáo nghiêm minh theo quy định của pháp luật để cải tạo, giáo dục các bị cáo và góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm chung.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã phân tích, đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xem xét nhân thân của các bị cáo, mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo là có căn cứ.

Xét thấy, các bị cáo Nguyễn Đức P1, Đỗ Xuân T đều là người có nhân thân xấu, bị cáo T có một tiền án về tội Gây rối trật tự công cộng; bị cáo P1 có một tiền sự, bị Công an huyện  xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tham gia tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục có hành vi phạm tội cùng loại, thể hiện các bị cáo là người coi thường pháp luật, nên cần phải xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo như quyết định của bản án sơ thẩm là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo đều không xuất trình thêm được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Do đó, kháng cáo của các bị cáo là không có căn cứ chấp nhận như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa.

Luận cứ của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức P1 là không có căn cứ chấp nhận.

[4]. Án phí: Kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đức P1, Đỗ Xuân T không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 343; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đức P1, Đỗ Xuân T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2023/HS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.

Căn cứ:

- Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Xuân T.

- Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đức P1.

Tuyên bố: Các bị cáo Đỗ Xuân T, Nguyễn Đức P1 đều phạm tội Gây rối trật tự công cộng.

Xử phạt:

- Bị cáo Đỗ Xuân T năm 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Tổng hợp hình phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo tại bản án số 80/2021/HS-ST ngày 01/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Buộc bị cáo Đỗ Xuân T phải chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 09/02/2023, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 10/4/2021 đến ngày 14/4/2021 được ghi nhận tại bản án số 80/2021/HS - ST ngày 01/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.

- Bị cáo Nguyễn Đức P1 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 08/02/2023 đến ngày 14/3/2023.

2. Án phí:

- Các bị cáo Nguyễn Đức P1, Đỗ Xuân T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

120
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội gây rối trật tự công cộng số 80/2023/HS-PT

Số hiệu:80/2023/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hưng Yên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:15/12/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về