TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 261/2024/HS-PT NGÀY 12/08/2024 VỀ TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG
Ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hình sự phúc thẩm thụ lý số: 195/2024/TLPT-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 51/2024/HS-ST ngày 08-5-2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thị Mỹ H; Sinh ngày: 05/6/1993, tại: Hậu Giang; Đăng ký thường trú: A đường N, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông: Nguyễn Văn G và bà: Trần Thị Thu T; Có chồng: Võ Trung H1, sinh năm: 1972 và có 02 con, lớn sinh năm: 2017 và nhỏ sinh năm: 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại - Có mặt Ngoài ra trong vụ án còn có Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không kháng cáo, không bị kháng cáo kháng nghị, nên không triệu tập bao gồm:
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Quán cà phê T1, do ông Võ Trung H1 làm chủ và G1, do ông Nguyễn Minh T2 làm chủ, ở cạnh nhau, cùng địa chỉ: số H S, Phường A, Quận A, do cạnh tranh trong việc kinh doanh, lôi kéo khách nên giữa hai bên quán có mâu thuẫn với nhau từ trước.
Khoảng 21 giờ ngày 12/5/2023, ông H1 đi bộ qua quán C1, gặp ông T2 để giải quyết mâu thuẫn nhưng ông T2 từ chối không nói chuyện. Khi đang đứng tại khu vực để xe phía trước quán G, ông H1 dùng tay phải đấm 01 cái trúng vào bên trái mặt của ông T2 làm ông T2 ngã xuống đất. Khi ông T2 đứng dậy thì H1 tiếp tục đấm thêm 01 cái vào mặt ông T2 nhưng không trúng. Ông T2 bỏ chạy bộ được khoảng 03 m thì nhặt một cục gạch quay lại dọa ném H1, làm H1 sợ chạy trở vào quán T4. Ông T2 vứt cục gạch và đứng trên vỉa hè trước cửa quán C2, cùng địa chỉ số: H S, Phường A, Quận A, bên phải quán C1.
Lúc này Nguyễn Văn H2, là nhân viên phục vụ và ông Vũ Nhất D, là nhân viên quản lý quán Trendora, đứng trước cửa quán thấy sự việc liền chạy dùng tay chân đấm, đá nhiều cái vào người ông Lâm Thanh T3 và ông Nguyễn Bảo D1 là nhân viên quán C1, đứng cạnh đó. Sau đó, H2 02 lần cầm ghế xếp bằng inox của quán G1 ném vào bên trong quán C1 nhưng không trúng ai, không gây hư hại gì. Khi nhìn thấy ông T2 nhặt cục đá cầm trên tay đe dọa ông H1, H2 cầm ghế xếp khung bằng kim loại bằng hai tay, chạy đến chỗ ông T2 đánh từ trên xuống. Ông T2 vừa quay đầu nhìn ra phía sau, thấy H2 cầm ghế đánh mình thì đưa tay trái lên đỡ. Ông T2 bị H2 đánh gây thương tích ở tay trái nên bỏ chạy bộ qua đường S. Nguyễn Thị Mỹ H là vợ của ông H1 đang đứng bên ngoài quán T4, nhặt 01 khúc gỗ (chân bàn) cầm trên tay phải, cùng với H2 02 tay cầm ghế xếp màu đen khung bằng nhôm, đuổi theo ông T2 từ đường S chạy qua đường D hướng về đường T nhưng không đánh trúng ông T2. H đuổi theo ông T2 đến giữa đường S thì Vũ Nhất D chạy theo can ngăn lại. Đến khoảng 23 giờ ngày 12/5/2023, ông T2 đến Công an P, Quận A trình báo sự việc và ngày 05/10/2023 có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với hành vi gây thương tích của H2.
Theo Bản kết luận giám định số 467/KLTTCT-TTPY.2023 ngày 06/7/2023 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế kết luận tổn thương cơ thể của Nguyễn Minh T2 như sau: Các kết quả chính: Chấn thương cẳng tay trái gây rách da, gãy 1/3 giữa xương trụ (ảnh 1) đã được điều trị, hiện còn: Một sẹo mặt sau 1/3 giữa cẳng tay hình tròn đường kính 1,7cm, bề rộng vết sẹo 0,2 cm đến 0,4 cm (ảnh 2); Hình ảnh gãy xương, can tốt trên phim Xquang (ảnh 3), xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Minh T2 tại thời điểm giám định là: 8%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT.
Ngày 13/5/2023, ông Lâm Thanh T3 và ông Nguyễn Bảo D1 có đơn không có yêu cầu xử lý hình sự.
Ủy ban nhân dân Phường A, Quận A có các Công văn số 835, số 836/UBND-VP ngày 08/8/2023 và Công văn số 36/UBND ngày 10/01/2024 đề nghị: Trên tuyến đường S thuộc địa bàn Phường A, Quận A là một trong những tuyến đường lớn của Thành phố Hồ Chí Minh tập trung nhiều cơ sở kinh doanh là nơi dễ phát sinh tội phạm. Tại nơi xảy ra vụ việc trên là trước quán C1, địa chỉ: H S, Phường A, Quận A, là nơi công cộng và tại thời điểm xảy ra vụ việc trên thì nơi đây tập trung đông người, vụ việc có hành vi gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Đề nghị Cơ quan điều tra xử lý theo quy định pháp luật.
Ngày 14/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận A ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Văn H2 về hành vi “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Ngày 04/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận A ra Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án hình sự “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đồng thời ra Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn H2; Quyết định khởi tố bị can; Lệnh bắt đi khám nơi cư trú đối với Nguyễn Thị Mỹ H về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H, khai nhận hành vi phạm tội như trên. Nguyễn Văn H2 sau khi phạm tội đã bỏ trốn, hiện chưa xác định được nơi cư trú. Ngày 04/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận A đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, tạm đình chỉ điều tra bị can và Quyết định truy nã đối với Nguyễn Văn H2.
Vật chứng tạm giữ:
- 04 (bốn) ghế xếp màu đen, khung nhôm; 01 (một) bàn xếp sắt, mặt bàn hình tròn do Đặng Ngọc L là nhân viên quán G1 cung cấp.
- 01 USB chứa 03 video ghi lại sự việc trên do phía quán C1 và quán C cung cấp.
- 01 (một) khúc gỗ (chân bàn) có kích thước 42cm là hung khí bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H thực hiện hành vi đuổi ông T2 gây rối trật tự công cộng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2024/HS-ST ngày 08/5/2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ vào điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, (được sửa đổi bổ sung năm 2017) Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 23 tháng 5 năm 2024, bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện chữa bệnh và chăm sóc gia đình.
- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc xét xử vụ án như sau:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định là hợp lệ, nên chấp nhận.
Về nội dung kháng cáo của bị cáo: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H 02 năm 03 tháng tù, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo. Tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm tài liệu chứng cứ mới thể hiện bị cáo bị bệnh đang phải điều trị, mặt khác hành vi phạm tội của bị cáo do bị hại có một phần lỗi và bị cáo đang nuôi 02 con nhỏ. Đây là những tình tiết chưa được xem xét ở cấp sơ thẩm, nên có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H 02 năm 03 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H làm trong hạn luật định, nên được giải quyết, xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy lời khai của bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo, qua đó đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 21 giờ 10 phút ngày 12/5/2023, tại trước quán C3 số H Sư Vạn Hạnh P Quận A, Nguyễn Thị Mỹ H đã có hành vi dùng hung khí là thanh gỗ dài 42 cm đuổi đánh ông Nguyễn Minh T2 trên đường S. Mặc dù bị cáo không đánh được ông T2 nhưng việc bị cáo cầm hung khí đuổi đánh ông T2 diễn ra tại nơi công cộng, trên tuyến đường lớn tập trung đông người, có nhiều cơ sở kinh doanh của Quận A, gây hoang mang trong dư luận, đặc biệt là những người trực tiếp chứng kiến sự việc.
Ủy ban nhân dân Phường A, Quận A có các Công văn số 835, số 836/UBND-VP ngày 08/8/2023 và Công văn số 36/UBND ngày 10/01/2024 đề nghị: Trên tuyến đường S thuộc địa bàn Phường A, Quận A là một trong những tuyến đường lớn của Thành phố Hồ Chí Minh tập trung nhiều cơ sở kinh doanh là nơi dễ phát sinh tội phạm. Tại nơi xảy ra vụ việc là nơi công cộng, thời điểm xảy ra vụ việc thì nơi đây tập trung đông người, vụ việc có hành vi gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
[3] Xét nội dung kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo là vợ của ông Võ Trung H1, do mâu thuẫn trong kinh doanh nên giữa ông H1 và ông Nguyễn Minh T2 là chủ quán cà phê G2 xảy ra gây gổ đánh nhau, khi thấy ông T2 bỏ chạy bộ qua đường S, bị cáo nhặt chiếc chân bàn bằng gỗ trong quán cà phê, cầm trên tay đuổi theo ông T2 đến giữa đường S thì quay lại. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, nên cần phải có mức án tương xứng mới có tác dụng răn đe giáo dục đối với các bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, theo quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo H mức án 02 năm 03 tháng tù. Tại cấp phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H nộp bổ sung các tài liệu chứng cứ mới bao gồm các tài liệu về khám chữa bệnh, con cái và nghề nghiệp của bị cáo. Qua đó thể hiện bị cáo mắc nhiều bệnh tật đang phải điều trị, hai con của bị cáo còn nhỏ, trong đó có 01 con chưa được 36 tháng tuổi khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, đây là những tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, chưa được xem xét ở cấp sơ thẩm.
Xét thấy bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H có nhân thân tốt, phạm tội do bột phát nhất thời do người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng có một phần lỗi. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng công việc ổn định, nên có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo với thời gian thử thách nhất định cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác đấu tranh, phòng ngừa chung, tạo điều kiện cho bị cáo được tiếp tục chữa bệnh và chăm sóc con cái. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo là phù hợp.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Điều Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H. Sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H cho Ủy ban nhân dân Phường B, Quận A, TP. Hồ Chí Minh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2] Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
(Đã giải thích chế định về án treo cho bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H)
Bản án về tội gây rối trật tự công cộng số 261/2024/HS-PT
| Số hiệu: | 261/2024/HS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 12/08/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về