TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
BẢN ÁN 12/2024/HS-ST NGÀY 04/03/2024 VỀ TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG
Ngày 04 tháng 3 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2024/TLST-HS ngày 01/02/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST-HS ngày 05/02/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lâm Văn T; giới tính: Nam; sinh ngày 10/05/1989; nơi ĐKHKTT: xóm C, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Lâm Văn Q và bà Nguyễn Thị T1; Vợ, con: chưa có; Tiền án: không;
Tiền sự: 01 - Tại Quyết định số 99100/QĐ-XPHC ngày 24/4/2019 của Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính 3.500.000đ về hành vi “Hủy hoại tài sản”.
Nhân thân:
- Tại Bản án số 78/2009/HSST ngày 14/7/2009 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, xử phạt bị cáo 40 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.
- Tại Bản án số 22/2013/HSST ngày 13/3/2013 của Tòa án nhân dân huyện Vồ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, tuyên xử 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/10/2023 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Lê Thị H, sinh năm 1988 (Có mặt) Địa chỉ: Xóm C, xã V, huyện Đ, Thái Nguyên.
+ Anh Trần Văn C, sinh năm 1989 (Vắng mặt) Địa chỉ: xóm T, xã Q, TP ., Thái Nguyên.
+ Anh Hoàng Văn C1, sinh năm 1999 (Vắng mặt) Địa chỉ: xóm N, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người làm chứng: 1.Anh Nguyễn Văn C2, sinh năm 1994 (Có mặt) Địa chỉ: xóm V, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
2. Anh Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1973 (Vắng mặt) Địa chỉ: xóm V, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
3. Anh Trần Văn T3, sinh năm 1983(Vắng mặt) Địa chỉ: xóm L, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lâm Văn T chung sống nhu vợ chồng cùng chị Lê Thị H, sinh năm 1988, trú tại xóm B, xã H, huyện Đ, tỉnh Đắc Nông và trong quá trình chung sống, chị H sinh được hai cháu, là cháu H1, sinh năm 2020 và cháu V, sinh năm 2023. Cháu H1 và cháu V hiện nay đăng ký khai sinh là Lê Quang H2 và Lê Kim V1, tại xóm C, xã V, huyện Đ. Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 18/10/2023 khi T, chị H, cháu H2 và cháu V1 cùng ăn cơm tối tại nhà, T lấy rượu ra uống một mình. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi thấy cháu H2 đang xem tivi trong phòng ngủ, T bảo cháu H2 tắt ti vi đi ngủ, nhưng khi thấy cháu chưa kịp tắt thì T dùng tay, chân đập hỏng Ti vi. Thấy cháu H2 khóc, T dùng tay tát vào mặt cháu H2 một cái rồi chửi chị H và bắt chị H3 bế cháu V1 và cháu H2 ra ngoài sân phía trước cửa nhà. Sau đó T lấy chăn, màn, quần, áo chất thành đống tại khu vực phòng ngủ và cửa ra vào của nhà gỗ rồi sử dụng bật lửa ga, bật châm lửa đốt cháy đống quần áo, làm cho lửa cháy lan sang nhà gỗ và gian nhà bếp mà T với chị H3 cùng hai cháu đang ở. Khi thấy nhà và bếp bị cháy, chị H đã chạy vào bê được một số tài sản ra ngoài sân trong đó có 01 bình gas bằng kim loại màu xám, trên bình có in dòng chữ "Total". Phát hiện sự việc, anh Nguyễn Văn C2 (sinh năm 1994, trú tại xóm C, xã V, huyện Đ) là em trai của T đã trình báo Công an xã V.
Khi ông Trần Văn C - Trưởng C3 và ông Hoàng Văn C1 - cán bộ trực đến làm việc, T đưa chị H và hai con đến ở nhờ nhà bà Lộc Thị P (sinh năm 1972, trú tại xóm P, xã V, huyện Đ) rồi bỏ đi tiếp tục uống rượu. Anh C2 đến nhà bà P chở chị H cùng hai con đi đến nhà ở của anh Nguyễn Văn H4 (sinh năm 1988, trú tại xóm C, xã V, huyện Đ) để ở nhờ. Khi anh C2 quay lại nhà của T thì gặp T đi uống rượu quay về. Thấy vậy, T cầm chiếc bình gas để ra sân và yêu cầu anh C2 phải đưa T đi tìm vợ, con. Khi đến nhà chị P, không thấy vợ con, nên T cầm theo bình gas, yêu cầu anh C2 chở đến trụ sở Công an xã V. Khoảng 01 giờ 20 phút ngày 19/10/2023 anh C2 điều khiển xe môtô chở T đến gần trụ sở Công an xã V cách 38 mét thì dừng xe trên đường, T xuống xe rồi anh C2 quay xe đi đến khu vực cổng Trạm y tế xã V đỗ xe lại đứng chờ. T, sau khi xuống xe cầm theo bình ga đi vào trong trụ sở Công an xã V thuộc xóm P, xã V, huyện Đ và gọi to nhiều lần "Mấy thằng Công an đâu rồi", nghe thấy tiếng của T, ông C đang ở trong phòng trực đi ra và hỏi T “Có việc gì”, thì T nói “Chúng mày đưa vợ con tao đi đâu rồi”, ông C trả lời T “Anh không biết” rồi đi xuống sân thì T xách bình ga đến gần vị trí ông C đứng tiếp tục chửi, sau đó tay phải T mở van khóa gas của bình gas để khí gas thoát ra ngoài, đồng thời tay trái cầm bật lửa gas và bật đánh lửa. Thấy T có hành vi nguy hiểm, ông C đã xông vào ngăn cản, một tay khóa van bình gas lại và cùng ông C1 giữ khống chế T nhưng T đã chống đối lại dùng tay cào gây thương tích tại vùng cổ của ông C, dùng chân đạp vào người ông C1 và hét lên, chửi ông C và ông C1. Tiếp đó thì anh C2 đi vào đã hỗ trợ khống chế giữ được T đưa vào phòng làm việc và thu giữ trên tay của T chiếc bật lửa ga vỏ nhựa màu đỏ, bề mặt bên ngoài có in chữ "Bật lửa an toàn Thống Nhất Lucky”, bên trong có chất lỏng gas.
Tại phiếu kết quả xét nghiệm số 314539 ngày 19/10/2023 của Khoa sinh hóa, Bệnh viện T4 cho kết quả: Định lượng cồn trong máu của Lâm Văn T là 7,86 mmol/L, vượt quá chỉ số bình thường; Âm tính với các chất ma túy.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 900 ngày 24/10/2023 của Trung Tâm pháp y tỉnh T, kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Văn C tại thời điểm giám định là: 6%. Cơ chế hình thành thương tích: Do tác động của vật tày có cạnh.
Tại Cơ quan điều tra, Lâm Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên.
Vật chứng của vụ án: - 01 (Một) bình ga hình trụ tròn kích thước cao 59cm, đường kính 29cm, có vỏ kim loại màu xám, trên bình có in dòng chữ "Total” màu trắng. Cân xác định toàn bộ bình ga có trọng lượng là 19,7Kg, đã trả lại cho chủ sở hữu chị Lê Thị H quản lý, sử dụng.
- 01 (Một) chiếc bật lửa ga vỏ nhựa mầu đỏ, bề mặt bên ngoài có in chữ “Bật lửa an toàn Thống Nhất Lucky”. Hiện đang bảo quản theo quy định chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Văn C không có yêu cầu đề nghị gì.
Tại bản Cáo trạng số 11/CT-VKSĐH, ngày 31/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ truy tố Lâm Văn T về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm đ khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lâm Văn T khai nhận rồ hành vi phạm tội như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả. Bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, không oan.
Tại phiên tòa, trong phần luận tội Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ giữ nguyên bản Cáo trạng số 11/CT-VKSĐH, ngày 31/01/2024, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lâm Văn T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”:
- Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Lâm Văn T từ 36 đến 42 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/10/2023; về trách nhiệm dân sự: Không xem xét; về vật chứng: tịch thu tiêu hủy, bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Trong lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thu ký, Kiểm sát viên tiến hành tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Tối ngày 18/10/2023, Lâm Văn T uống rượu say và có hành vi chửi, đánh, đập phá tài sản của gia đình tại xóm C, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Đến khoảng 01 giờ 20 phút ngày 19/10/2023, T đi đến trụ sở Công an xã V mục đích tìm vợ, con và có mang theo 01 bình gas và bật lửa. Khi đến nơi, T có hành vi chửi bới, đe dọa ông Trần Văn C - Trưởng Công an xã và ông Hoàng Văn C1 - cán bộ Công an xã. Khi ông C và ông C1 can ngăn yêu cầu T chấm dứt hành vi vi phạm trên thì T chống đối, tấn công ông C, ông C1 làm ông C bị thương tích với tỷ lệ thương tật là 6%.
Do vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”, theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Nội dung điều luật quy định như sau:
“1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội ... thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
...
đ) Hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng;
...” Bản Cáo trạng số 11/CT-VKSĐH, ngày 31/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ truy tố Lâm Văn T về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm đ khoản 2 Điều 318 Bộ Luật hình sự là có căn cứ.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự tại địa phương.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng 2 lần bị kết án và bị xử phạt hành chính nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng trở thành người công dân tốt, mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ tội phạm do bị cáo thực hiện, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải có mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa thấy phù hợp, cần chấp nhận.
[5] Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: cần áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Quyết định tạm giam bị cáo Lâm Văn T 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Văn C không có yêu cầu gì nên không xem xét.
[7] Về vật chứng: cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình phạt chính: Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Lâm Văn T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 21/10/2023.
2. Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Lâm Văn T 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
4. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu hủy 01 bật lửa có vỏ bằng nhựa màu đỏ, bề mặt bên ngoài có in chữ “Bật lửa an toàn Thống nhất Lucky” trong phong bì niêm phong ký hiệu B1.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/3/2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đồng Hỷ) 5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí; buộc bị cáo Lâm Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị H có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh C và anh C1 vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án về tội gây rối trật tự công cộng số 12/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 12/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 04/03/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về