Bản án về tội gá bạc số 200/2022/HS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 200/2022/HS-PT NGÀY 30/08/2022 VỀ TỘI GÁ BẠC

Ngày 30/8/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 173/2022/TLPT-HS ngày 07 tháng 7 năm 2022, đối với bị cáo Nguyễn Thị P. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 127/2022/HSST ngày 18/5/2022, của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

* Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị P, sinh năm 1981 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn:06/12; tôn giáo: Phật giáo; con ông Nguyễn Quốc H (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kim H1, sinh năm 1957; bị cáo có chồng là Trần Văn Đ, sinh năm 1972; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 32/HSST ngày 15/11/2000 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt bị cáo 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng về tội “Trộm cắp tài sản công dân”.

- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 91/HSST ngày 30/5/2002 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xử phạt bị cáo 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 09 tháng tù tại Bản án số 32/HSST ngày 15/11/2000 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 33 tháng tù. Ngày 17/9/2004, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, đã được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/01/2020 đến ngày 22/01/2020 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt.

* Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn Đ (Có mặt).

Địa chỉ: A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

* Người bào chữa cho bị cáo:

+ Ông Trần Viết T - Luật sư Văn phòng Luật sư M - Đoàn Luật sư tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).

Địa chỉ: H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

+ Ông Nguyễn Đức D - Luật sư Công ty Luật Đ - Đoàn luật sư tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).

Địa chỉ: A Lê Thánh T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 16/01/2020, Nguyễn H, Nguyễn Thị H1, Văn Tấn H2, Nguyễn Toàn T, Hồ Thị D, Nguyễn Trung T2, Đinh Văn Đ, Đoàn Văn D1 và một nam thanh niên tên Thành (chưa xác định nhân thân, lai lịch) đi đến nhà của Nguyễn Thị P tại địa chỉ A, tổ dân phố A, phường T, thành phố B ăn tất niên, sau đó rủ nhau đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài Xì lát, thì tất cả đồng ý. Các con bạc lấy chăn, chiếu, đĩa và bài Tú lơ khơ có sẵn trong nhà P làm công cụ đánh bạc, thống nhất mỗi người làm cái đánh bạc 03-05 ván, xoay vòng, mỗi lượt người làm cái tự bỏ ra từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng và lấy 01 ly nhựa màu vàng trên tủ dép nhà P đặt xuống góc chiếu để bỏ tiền “xâu” vào, sau đó nói cho P biết. D và H2 làm cái chung, để Nguyễn H, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Toàn T, Nguyễn Trung T2, Đinh Văn Đ, Đoàn Văn D1 và nam thanh niên tên T3 đánh bạc. Một lúc sau Hồ Văn N, Nguyễn Hùng T4 đến, N vào tham gia đánh bạc, còn T4 ngồi xem, đến lượt T3 làm cái để cho các con bạc đánh. Một lúc sau Trần K đến, thì T nghỉ, K vào thay cho T, thì H2 và K (bố vợ của H2) làm cái chung, sau đó N nghỉ, T4 vào chơi thay cho N. Đến khoảng 16 giờ 50 phút cùng ngày, Đoàn Văn D1 và nam thanh niên tên T ra về trước còn H, N và Đ đang ngồi chơi trò chơi bắn cá. K và H2 tiếp tục làm cái chung, K là người chia bài cho H1, T4, T, D, T3 đánh bạc, thì bị Cơ quan điều tra kiểm tra phát hiện bắt quả tang, tạm giữ tại sòng bạc 2.850.000 đồng, 01 cái chăn, 01 cái chiếu, 01 đĩa sứ, 01 cái ghế nhựa, 01 cái ly nhựa, 01 bộ bài Tú lơ khơ đã qua sử dụng, 04 bộ bài Tú lơ khơ chưa qua sử dụng.

Ngoài hành vi đánh bạc nêu trên, quá trình lập biên bản kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max của Nguyễn Thị P, Cơ quan điều tra phát hiện Nguyễn Thị Phượng còn có hành vi đánh bạc nhận ghi lô đề với Nguyễn Văn T5, cụ thể: Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 16/01/2020, Nguyễn Văn T5 sử dụng số thuê bao 0914483944 được gắn vào 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A20S, màu xanh, nhắn tin vào số thuê bao 0917045557 được gắn vào 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu đen, của Nguyễn Thị P để đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức ghi số đề. Tuấn nhắn nội dung “Dau 6 x 100” nghĩa là đặt 1000 điểm, tương ứng với số tiền 13.000.000 đồng. P trả lời “OK” nghĩa là đồng ý ghi số đề cho T5. T5 chưa đưa tiền cho P và chưa có kết quả phân định thắng thua (căn cứ theo kết quả xổ số tỉnh Bình Định ngày 16/01/2020) thì bị Cơ quan điều tra phát hiện, tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A20S và số tiền 2.250.000 đồng.

Tại bản Kết luận giám định số 166/KLGĐ ngày 23/9/2021 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên kết luận:

- Kết luận về y học: Trước và trong khi thực hiện hành vi phạm tội ngày 16/01/2020, Nguyễn Thị P có sức khỏe tâm thần bình thường; hiện tại (tại thời điểm giám định) Nguyễn Thị P bị bệnh Động kinh nguyên phát + Rối loạn sự thích ứng với phản ứng hỗn hợp lo âu và trầm cảm.

- Kết luận về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Trước và trong khi thực hiện hành vi phạm tội ngày 16/01/2020, Nguyễn Thị P có đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi; hiện tại (tại thời điểm giám định) Nguyễn Thị P bị hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 127/2022/HSST ngày 18/5/2022, của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội “Đánh bạc” và “Gá bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P 08 (tám) tháng tù, về tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 322; điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P 01 (một) năm tù, về tội “Gá bạc”.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Nguyễn Thị P phải chấp hành là 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được khấu trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/01/2020 đến ngày 22/01/2020.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định pháp luật.

Ngày 27/5/2022, bị cáo Nguyễn Thị P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt bằng hình phạt tiền hoặc cho hưởng án treo đối với tội “Đánh bạc”, đề nghị tuyên không phạm tội đối với tội “Gá bạc” Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và xác định trong thời gian liên tục từ 15 giờ đến 16 giờ 50 phút ngày 16/01/2020, bị cáo đã cho 12 người đánh bạc tại nhà của bị cáo, với tổng số tiền 19.610.000 đồng; Vào 17 giờ ngày 16/01/2020 bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc, ghi số đề với Nguyễn Văn T5 số tiền 13.000.000 đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” và tội “Gá bạc”, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, tội “Gá bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức hình phạt 08 tháng tù đối với tội “Đánh bạc” và 01 năm tù đối với tội “Gá bạc” là phù hợp với tính chất, mực độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo; Sau khi kháng cáo bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Luật sư Trần Viết T và Nguyễn Đức D bào chữa cho bị cáo: Về tội “Đánh bạc”, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tuy nhiên mức hình phạt đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc nên đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo. Về tội “Gá bạc”, bị cáo không phạm tội, bởi vì hôm đó bị cáo mời mọi người đến nhà ăn tất niên, trong lúc bị cáo dọn dẹp, rửa chén bát ở dưới nhà bếp thì các con bạc tự rủ nhau đánh bạc, trong đó có người bị cáo không biết, bị cáo không thu tiền xâu, không hưởng lợi gì. Quá trình điều tra, các con bạc cũng thừa nhận trong thời gian từ 15 giờ đến 16 giờ 50 phút, trong cùng một ván bạc (xì lát) chỉ có khoảng từ 7-8 người chơi, không lúc nào là trên 10 người; tại thời điểm bắt quả tang, tại chiếu bạc cũng chỉ có 6-7 người đánh bạc. Như vậy, trong cùng 01 lúc, 01 ván xì lát không có 10 người trở lên đánh bạc nên không thỏa mãn yếu tố cấu thành tội “Gá bạc”. Do vậy, đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo, tuyên bố bị cáo không phạm tội “Gá bạc”.

Đại diện Viện kiểm sát, các luật sư giữ nguyên quan điểm, không tranh luận gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị P: Ngày 16/01/2020, Nguyễn Thị P sử dụng địa điểm (sân nhà) do mình quản lý, tại địa chỉ A, phường T, thành phố B, cho Nguyễn H, Hồ Văn N, Trần K, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Hùng T4, Văn Tấn H2, Nguyễn Toàn T, Hồ Thị D, Nguyễn Trung T2, Đinh Văn Đ, Đoàn Văn D1 và đối tượng tên T3 (Chưa xác định nhân thân lai lịch) đánh bạc (Xì lát), thắng thua bằng tiền, tổng số tiền đánh bạc 19.610.000 đồng, bị cáo hưởng lợi số tiền 60.000 đồng. Khoảng 17 giờ ngày 16/01/2020, Nguyễn Thị P thực hiện hành vi ghi số đề cho Nguyễn Văn T5, tổng số tiền ghi đề 13.000.0000 đồng. Bản án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo cho rằng bị cáo không phạm tội “Gá bạc”, Hội đồng xét xử xét thấy:

Tại biên bản phạm tội quả tang ngày 16/01/2020 (bút lục 12-16), các bản tự khai (bút lục 65-70), biên bản ghi lời khai (bút lục 70-76), biên bản hỏi cung bị can (bút lục 77-80) tại Công an thành phố Buôn Ma Thuột, bị cáo đều khai nhận: Từ 15 giờ đến 16 giờ 50 phút ngày 16/01/2020 có Nguyễn H, Hồ Văn N, Trần K, Nguyễn Thị H, Nguyễn Hùng T4, Văn Tấn H1, Nguyễn Toàn T3, Hồ Thị D, Nguyễn Trung T2, Đinh Văn Đ, Đoàn Văn D1 và đối tượng tên T1 tham gia đánh bạc được thua bằng tiền tại nhà bị cáo; Những người tham gia đánh bạc thỏa thuận với nhau và nói cho bị cáo biết việc họ thỏa thuận mỗi người làm cái 05 ván thì đổi người, ai làm cái thì bỏ vào 10.000 đồng cho vào cái ly nhựa để ở sòng, được coi là tiền xâu để bị cáo hưởng lợi, tiền đó bị cáo đã tiêu xài hết. Bị cáo xác định quá trình làm việc tại cơ quan điều tra bị cáo đã tự nguyện khai báo không bị ép cung, mớm cung và không bị nhục hình, trong biên bản phạm tội quả tang còn có những người cùng bị bắt khác, người chứng kiến, biên bản được đọc lại cho bị cáo nghe. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo khác và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình giải quyết vụ án. Như vậy, có căn cứ để xác định trong khoảng thời gian xuyên suốt từ 15 giờ đến 16 giờ 50 phút ngày 16/01/2020, bị cáo đã sử dụng địa điểm do mình quản lý cho người khác đánh bạc để hưởng lợi số tiền 60.000 đồng. Tổng số đối tượng tham gia đánh bạc xác định được trong khoảng thời gian trên là 12 người (Theo biên bản phạm tội quả tang ngày 16/01/2020 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột bắt giữ 11 người, trong đó có bị cáo Phượng). Như vậy, Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Gá bạc” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội danh, đúng pháp luật.

Quá trình xét xử sơ thẩm và phúc thẩm bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình đối với tội “Gá bạc” nên bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt đối với tội “Đánh bạc”, Hội đồng xét xử xét thấy: Mức hình phạt 08 (Tám) tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc. Bởi lẽ, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, tự nguyện giao nộp lại toàn bộ số tiền 1.474.000 đồng, trong đó 1.414.000 đồng là trị giá 1/2 sân nhà (nơi các đối tượng sử dụng để đánh bạc) và 60.000 đồng tiền hưởng lợi từ các con bạc, các con của bị cáo còn nhỏ. Do đó, cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 127/2022/HSST ngày 18/5/2022, của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về phần hình phạt đối với tội “Đánh bạc”.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do chấp nhận một phần kháng cáo nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

[1]. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị P. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 127/2022/HSST ngày 18/5/2022, của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

[2]. Tuyên xử:

[2.1]. Về hình phạt:

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 322; điểm q khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P 01 (Một) năm tù, về tội “Gá bạc”.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội: 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được khấu trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/01/2020 đến ngày 22/01/2020.

[2.2] Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng tiền án phí.

Bị cáo Nguyễn Thị P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

268
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội gá bạc số 200/2022/HS-PT

Số hiệu:200/2022/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 30/08/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về