TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N P - TỈNH ĐIỆN BIÊN
BẢN ÁN 62/2025/HS-ST NGÀY 08/05/2025 VỀ TỘI ĐE DỌA GIẾT NGƯỜI
Ngày 08 tháng 5 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện N P, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công K vụ án hình sự thụ lý số: 64/2025/TLST-HS, ngày 04 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2025/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 4 năm 2025, đối với bị cáo:
Sùng A P, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1972 tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản H C, xã C T, huyện N P, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Căn cước công dân số: 0120720xxxx, cấp ngày 12/6/2022, nơi cấp: Cục C06, Bộ Công an; Con ông Sùng A L (đã chết) và bà Vàng T L, sinh năm 1945; Bị cáo có vợ là Giàng Thị M sinh năm 1960 (Là bị hại trong vụ án) và có 06 người con. Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án kết án lần nào.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/01/2025 đến nay, hiện đang bị bị tạm giam tại phân trại tạm giam khu vực Nậm Pồ, Công an tỉnh Điện Biên, có mặt.
-Người bào chữa cho bị cáo: Bà Giàng Thị N là Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.
-Bị hại: Bà Giàng Thị M; Sinh năm:1960; Nơi cư trú: Bản H C, xã C T, huyện N P, tỉnh Điện Biên, có mặt.
-Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Nguyễn Thị L là Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Sùng A K, sinh năm 1994 và ông Sùng A N, sinh năm 1978, cùng địa chỉ: Bản H C, xã C T, huyện N P, tỉnh Điện Biên, có mặt Sùng A K, vắng mặt Sùng A N.
- Người làm chứng:
+ Ông Sùng A S, Sinh năm: 1990, trú tại: Bản H C, xã C T, huyện N
P, tỉnh Điện Biên (có mặt).
+ Bà Giàng Thị C, Sinh năm:1991;
+ Ông Sùng A H, Sinh năm: 1983;
Cùng địa chỉ: Bản H C, xã C T, huyện N P, tỉnh Điện Biên, vắng mặt.
- Người phiên dịch: Bà Vàng Thị D; Sinh năm:1988;
Địa chỉ: Bản Huổi Đáp, xã Nà Khoa, huyện N P, tỉnh Điện Biên, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sùng A P và Giàng Thị M có mối quan hệ là vợ chồng. Khoảng tháng 02 năm 2024 Sùng A P do nghi ngờ vợ là Giàng Thị M có quan hệ tình cảm với Sùng A N là người cùng Bản H C, xã C T, huyện N P. Giữa P và M thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Đã nhiều lần P có hành vi dùng tay đánh và đe dọa giết Giàng Thị M nếu bà M không thừa nhận việc có quan hệ ngoại tình với Sùng A N. Sáng ngày 08/6/2024 khi P lên cơn nghiện, P lại nghi ngờ bà M ngoại tình, khi bà M đi ra ngoài nhà, P nói mày muốn chết à. Sau đó P đuổi theo cầm tay phải của M dắt vào trong nhà. Khi bà M vào trong nhà P khóa cửa chính và cửa phụ lại rồi đi ra cột nhà lấy một con dao nhọn đựng trong vỏ bao bằng gỗ treo ở cột nhà, mục đích là đe dọa sẽ cắt cổ bà M. Tay phải P cầm dao đứng đối diện với bà M chĩa mũi nhọn về hướng bà M, cách cổ bà M khoảng 5cm rồi lia dao từ trên xuống, từ phải qua trái. Vừa lia dao P vừa nói sẽ cắt cổ bà M, giết bà M xong thì P dùng súng tự sát chết cùng với bà M. Nghe P nói vậy bà M hét to, C ơi bố con định dùng dao giết mẹ, mẹ sợ quá con xuống nhà đi. Nghe thấy tiếng bà M, Giàng Thị C, sinh năm 1999 (con dâu) chạy đến nhà P đập cửa và nói mở cửa ra. P ra mở cửa cho C vào nhà. Khi C vào trong nhà thấy bà M đang khóc và người run rẩy, C nói với P để mẹ lên nhà con. P không nghe mà kéo bà M đi lên giường. Sau đó P đi cởi một sợi dây buộc giày một đầu buộc vào váy của bà M, đầu dây còn lại buộc vào tay của P để P và bà M nằm cùng nhau trên giường. Khoảng 15 phút sau Giàng A Mình là em trai họ của bà M đến nhà P đã cởi đầu dây buộc ở váy của bà M ra ngồi nói chuyện với Mình. Còn bà M thì đi sang nhà con dâu Giàng Thị C ở. Do sợ P giết nên ngày 07/8/2024 bà M đã đi lên ở nhờ nhà em trai tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đến ngày 11/8/2024 thì quay về nhà. Sáng ngày 12/8/2014 Sùng A K (con trai của Sùng A P) đến nhà P bảo P đi ra nhà anh Công trưởng Bản H C để giải quyết mâu thuẫn giữa P và bà M, khi đi P cầm theo một con dao nhọn do mượn của Giàng A Sinh trước đó để vót gậy chống do đường trơn. Trên đường đi do xấu hổ nên P không đi nữa mà quay về nhà. Khi qua nhà Giàng A C, P thấy có nhiều người ở đó, P cầm con dao sắc nhọn ở tay phải rồi nói to, chúng mày sẽ được ăn thịt trâu, thịt bò lần này. Ý P nói, P sẽ chết để mọi người được ăn thịt trâu, thịt bò. Sau đó P chạy về lấy khẩu súng tự chế của P cất giấu ở bụi cây gần nhà và đi vào rừng. Trên đường đi P gặp Giàng Thị C, P nói với chị C là gọi điện thông báo cho mọi người biết là P sẽ đi chết, khi P đi được khoảng 5 phút P hướng nòng súng lên trời bắn chỉ thiên một phát. Bắn xong P đi lấy khẩu súng thứ hai mà P cất giấu ở trong rừng trước đó đi theo khe suối cách bản khoảng 500 mét rồi ngủ qua đêm tại đó. Sáng 13/8/2024 P ngủ dậy cất hai khẩu súng kíp vào trong rừng rồi đi bộ đến nhà ông Sùng A D người cùng Bản H C, khi đến nơi ông D không ở nhà, P gặp Sùng A P là con trai Sùng A D. P nói với P đi gặp Sùng A N có việc gì thì lên gặp P nói chuyện, nếu không P sẽ giết chết Sùng A N và bà M.
Ngày 12/8/2024 khi mọi người ra nhà trưởng bản giải quyết mâu thuẫn giữa nhưng P không đến, M nghe mọi người nói P có cầm theo dao và súng. Do lo sợ P sẽ tìm giết nên M tiếp tục bỏ lên nhà em trai tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 con dao nhọn dài 33cm, cán dao bằng gỗ dài 10,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 20cm.
Bản Cáo trạng số: 30/CT-VKSNP ngày 02/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N P, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị can Sùng A P về tội: Đe dọa giết người theo khoản 1 Điều 133 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Sùng A P hành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N P, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N P giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Sùng A P về tội: Đe dọa giết người và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 133, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Sùng A P mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 con dao nhọn tổng chiều dài 33cm, cán dao bằng gỗ dài 10,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 20cm.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại không có yêu cầu bị cáo Sùng A P bồi thường về dân sự nên không đề nghị xem xét phần trách nhiệm dân sự đối với bị cáo và đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Sùng A P nhất trí với luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và hình phạt áp dụng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh và nhân thân của bị cáo, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 của
Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức đề nghị thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát.
Bị cáo Sùng A P nhất trí với nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận gì, không bổ sung gì luận cứ bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Sùng A N và người làm chứng Giàng Thị C, Sùng A H tại phiên tòa, đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có yêu cầu gì khác. Việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2]Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Sùng A P đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Do nghi ngờ và ghen tuông vợ có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác nên bị cáo Sùng A P đã có hành vi dùng 01 con dao nhọn dí vào trước mặt bị hại, rồi tay phải cầm dao lia trước mặt để dọa sẽ giết bị hại, làm cho bị hại sợ hãi run rẩy, sau đó bị hại phải đi lên ở nhờ em trai tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu một thời gian. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Sùng A P đã có hành vi phạm tội: Đe dọa giết người theo quy định tại khoản 1 Điều 133 của Bộ luật hình sự.
[3]Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến tinh thần cũng như tính mạng và sức khỏe của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây tâm lý hoang mang cho người dân. Vậy hành vi phạm tội của bị cáo Sùng A P cần phải được xử lý nghiêm trước pháp luật để giữ vững kỷ cương của pháp luật và nhằm răn đe, phòng ngừa chung trong nhân dân.
[4]Về nhân thân: Bị cáo Sùng A P xuất thân trong gia đình nông dân, lao động, không được học hành, hiểu biết pháp luật hạn chế. Do nghi ngờ bị hại có quan hệ với người đàn ông khác nên đã có hành vi đe dọa sẽ giết chết bị hại Giàng Thị M là vợ của bị cáo.
[5]Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[6]Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo về mức hình phạt đối với bị cáo Sùng A P là phù hợp với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
[7]Về vật chứng vụ án: Gồm 01 con dao nhọn dài 33cm, cán dao bằng gỗ dài 10,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 20cm là vật chứng bị cáo dùng để đe dọa sẽ giết bà M, là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
[8]Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên bị hại không có yêu cầu bị cáo Sùng A P bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không cần đề cập xem xét trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.
[9]Một số vấn đề có liên quan khác:
Đối với hành vi cất giữ 02 khẩu súng tự chế của bị cáo P, quá trình điều tra đã làm rõ không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo. Ngày 27/02/2025 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N P đã ra văn bản đề nghị UBND huyện N P ra quyết định xử lý hành chính Sùng A P bằng hình thức phạt tiền tại Quyết định số 10/QĐ-XPHC. Ngày 28/02/2025 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N P đã ra Quyết định số 36, xử lý 02 khẩu súng bằng hình thức giao 02 khẩu súng cho Đội cảnh sát QLHC về TTXH Công an huyện N P để xử lý theo quy định. 01 sợi dây buộc giày bị cáo dùng buộc vào váy của bị hại M, P đã vứt đi nên cơ quan điều tra không thu giữ được.
Ngoài hành vi đe dọa giết người đối với bị hại M là vợ của bị cáo, P còn có hành vi đe dọa giết người đối với Sùng A N, sinh năm 1978, quá trình điều tra làm rõ bị cáo P trong lúc bực tức đã dùng lời nói đe dọa giết Sùng A N thông qua người khác, chứ không đe dọa trực tiếp nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với bị cáo P về hành vi trên.
[10]Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N P, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[11]Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, xét thấy bị cáo Sùng A P là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
[12]Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1.Tuyên bố bị cáo Sùng A P phạm tội: Đe dọa giết người.
2.Áp dụng khoản 1 Điều 133, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Sùng A P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt tạm giam: 20/01/2025.
3.Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 con dao nhọn dài 33cm, cán dao bằng gỗ dài 10,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 20cm theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N P.
4.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sùng A P.
5.Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Báo cho bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án: 08/5/2025. Người vắng mặt, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.
Bản án về tội đe dọa giết người số 62/2025/HS-ST ngày 08/05/2025
| Số hiệu: | 62/2025/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Nậm Bồ - Điện Biên |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 08/05/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về