Bản án về tội đánh bạc số 54/2023/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 54/2023/HS-ST NGÀY 14/12/2023 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 14 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023 đối với:

* Bị cáo: Châu Văn T1, sinh năm 1979. Trú tại: ấp 3, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 06/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Châu Văn T2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T3 (đã chết); anh chị em ruột: Có 04 người; bị cáo có vợ là chị Đinh Thị H, sinh năm 1978; bị cáo có 02 người con sinh năm 2006 và năm 2013. Tiền sự: 01 lần; Tiền án: Không;

- Đặc điểm nhân thân: Bị Công an xã Hưng Thạnh, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0000870/QĐ-XPHC với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép, đã đóng phạt xong ngày 25/7/2022, tính đến lần phạm tội lần này chưa hết thời gian xóa tiền sự.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

01. Ông Phạm Văn T4, sinh năm 1981 (có mặt).

Trú tại: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

02. Ông Lê Thanh T5, sinh năm 1980 (vắng mặt).

Trú tại: ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

03. Ông Trương Ngọc T6, sinh năm 1986 (xin vắng mặt).

Trú tại: ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

04. Ông Thái Văn S1, sinh năm 1962 (có mặt).

Trú tại: ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

05. Bà Mai Thị P, sinh năm 1987 (có mặt).

Trú tại: ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

06. Bà Trần Thị Kim T7, sinh năm 1987 (xin vắng mặt).

Trú tại: ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

07. Ông Đỗ Hoàng S2, sinh năm 1974 (vắng mặt)

Trú tại: Số 23 đường B, Phường A, Quận B, thành phố Hồ Chí

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ ngày 14/3/2023, tại nhà của Thái Văn S1 thì T1, T4, T5, T6 và S1 đã tham gia chơi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền. Hình thức chơi bài cào tố được thống nhất như sau: Khi bắt đầu đánh bài thì T1, T4, T5, T6 và S1 đặt cược mỗi người 20.000 đồng vào chiếu bạc và bắt đầu chia mỗi tụ bài 03 lá. Cả 05 người sẽ kiểm tra và cộng 03 quân bài lại với nhau, nhỏ nhất là bù (10 nút), lớn nhất 03 tây (03 quân bài tây bất kỳ trùng nhau) và lớn thứ hai là 09 nút. Sau khi kiểm tra xong thì từ vị trí tụ bài chia trước theo chiều kim đồng hồ các tụ bài sẽ tiến hành tố thêm tiền từ 20.000 đồng đến 100.000 đồng vào số tiền đang có trên chiếu bạc, các tụ có quyền tố theo số tiền đã đặt hoặc nhiều hơn, tụ nào không tố theo sẽ tính thua. Khi các tụ tố xong sẽ tiến hành kiểm tra, tụ thắng là tụ có số nút lớn nhất, nếu số nút ngang bằng thì sẽ tính theo nước bài: Cơ, rô, chuồn và bích.

Đối với Trương Ngọc T6 khai khi đi đánh bạc mang theo khoảng 8.000.000 đồng và dùng số tiền khoảng 1.000.000 để đánh bạc. Kết quả, T6 đánh thắng. Do vậy, khi bị phát hiện lực lượng Công an thu trên tay T6 1.070.000 đồng và trong người số tiền 7.100.000 đồng.

Thái Văn S1 khai khi đánh bạc có 1.100.000 đồng và sử dụng hết số tiền này để đánh bạc. Kết quả, khi bị bắt Công an thu giữ trên tay S1 470.000 đồng và trong người số tiền 600.000 đồng.

Lê Thanh T5 khai mang theo 4.000.000 đồng và sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc. Kết quả, T5 đánh thắng nên khi bị phát hiện lực lượng Công an thu trên tay T5 1.100.000 đồng và trong người số tiền 3.000.000 đồng.

Phạm Văn T4 khai mang theo 2.200.000 đồng và sử dụng 600.000 đồng để đánh bạc. Kết quả, T4 đánh thắng nên khi bị phát hiện lực lượng Công an thu trên tay T4 660.000 đồng và trong người số tiền 1.800.000 đồng.

Châu Văn T1 khai khi đánh bạc mang theo 800.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc. Kết quả, khi bị bắt Công an thu giữ trên tay T1 750.000 đồng.

*Tại hiện trường nơi đánh bạc thu giữ các đồ vật, tài sản sau:

- 01 (một) bộ bài tây 52 lá, đã qua sử dụng.

- Tiền Việt Nam: 240.000 đồng.

- 01 (một) tấm vải.

*Tạm giữ trên người các đối tượng đồ vật, tài sản sau:

- Trên tay của T6: 1.070.000 đồng, trên người 7.100.000 đồng và 02 điện thoại di động (ĐTĐĐ).

- Trên tay của S1: 470.000 đồng, trên người 600.000 đồng và 01 ĐTĐĐ.

- Trên tay của T5: 1.100.000 đồng và trên người 3.000.000 đồng.

- Trên tay của T1: 750.000 đồng và trên người 01 ĐTĐĐ.

- Trên tay của T4: 660.000 đồng và trên người 1.800.000 đồng.

- 03 (ba) xe mô tô 02 bánh các loại lần lược mang biển số: 51M2 – X2, 63V4 – Y2 và 63B8 – E.63.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền 7.100.000 đồng, 02 điện thoại di động thu giữ trên người của Trương Ngọc T6. Qua điều tra xác định T6 không có ý định dùng số tiền và điện thoại này để cầm cố, thế chấp đánh bạc nên Cơ quan điều tra trả lại cho T6 xong.

- Đối với số tiền 3.000.000 đồng thu giữ trên người của Lê Thanh T5 và 1.800.000 đồng thu giữ trên người của Phạm Văn T4. Qua điều tra xác định T5, T4 không có ý định sử dụng số tiền này để đánh bạc nên Cơ quan điều tra trả lại cho T4, T4 xong.

- Đối với 01 điện thoại di động thu giữ trên người của Thái Văn S1 và 01 điện thoại di động thu giữ trên người của Châu Văn T1. Qua điều tra xác định S1, T1 không có ý định cầm cố, thế chấp 02 điện thoại này để đánh bạc nên Cơ quan điều tra trả lại cho S1, T1 xong.

- Đối với xe mô tô 02 bánh biển số 51M2 – X2. Qua điều tra xác định xe mô tô trên là do Châu Văn T1 mua lại của Đỗ Hoàng S2, ngụ: Số 23 đường Bình Thới, Phường A, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Qua điều tra xác định đây không phải là tang vật có liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra trả lại cho T1 xong.

- Đối với xe mô tô 02 bánh biển số 63V4 – Y2. Qua điều tra xác định xe mô tô trên do chị Mai Thị P, sinh năm 1987, ĐKTT: Ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang đứng tên sở hữu. Qua điều tra xác định đây không phải là tang vật có liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra trả lại cho chị P xong.

- Đối với xe mô tô 02 bánh biển số 63B8 – E.63. Qua điều tra xác định xe mô tô trên là do chị Trần Thị Kim T7, sinh năm 1987, ĐKTT: Ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang (Vợ T6) đứng tên sở hữu. Qua điều tra xác định ngày 14/3/2023 chị T7 không biết T6 dùng xe này đến nhà Thái Văn S1 để đánh bạc nên Cơ quan điều tra trả lại cho chị T7 xong.

Viện kiểm sát nhân dân ra quyết định chuyển đến Chi cục thi hành án Dân sự huyện Tân Phước quản lý chờ xử lý gồm:

- 01 (một) bộ bài tây 52 lá, đã qua sử dụng.

- 01 (một) tấm vải.

- Tiền Việt Nam: 4.890.000 đồng.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Phạm Văn T4 có lời khai: Khoảng 10 giờ ngày 14/3/2023, anh đi bộ đến nhà chú ba S1 cách nhà anh khoảng 800m để nói chuyện chơi. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, anh Châu Văn T1 đi đốn cây về ghé, anh Lê Thanh T5 (tên thường gọi là Quốc T5) và anh Trương Ngọc T6 đến nhà chú ba S1 cùng nói chuyện chơi. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, Quốc T5 rủ mọi người chơi bài cào tố ăn tiền và được mọi người đồng ý. Trong người anh có số tiền 2.200.000 đồng nên anh lấy ra 400.000 đồng để tham gia chơi cùng chú ba S1; T1; Quốc T5 và T6. Đến khoảng 12 giờ 40 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an xã phát hiện lập biên bản. Anh bị tạm giữ số tiền cầm trên tay đang dùng để đánh bạc là 660.000 đồng và số tiền trong người là 1.800.000 đồng. Sau đó, anh và nhiều người tham gia chơi đánh bạc chung bị đưa về trụ sở Công an xã để làm việc về vụ việc nêu trên.

2. Ông Thái Văn S1 có lời khai: Khoảng 11 giờ ngày 14/3/2023, ông đang dọn cỏ sau nhà thì có người ở trong nhà gọi nên ông đi vào. Ông vào nhà thấy anh Châu Văn T1; anh Phạm Văn T4 (tên thường gọi là Đ); anh Lê Thanh T5 (tên thường gọi là Quốc T5) và khoảng 30 phút sau thì anh Trương Ngọc T6 đến. Lúc này, có người rủ chơi đánh bài cào tố ăn tiền nhưng ông không nhớ là ai; mỗi bàn đặt 20.000 đồng; tố tiền thêm từ 20.000 đồng đến 100.000 đồng. Vì vậy, ông đi mua về 01 bộ bài mới và dùng 01 tấm mềm cũ dùng để lau chân lót chơi đánh bạc. Trong người ông có sẳn số tiền 1.100.000 đồng (một triệu một trăm nghìn đồng). Ông lấy ra số tiền 500.000 đồng để chơi đánh bạc cào tố thắng thua bằng tiền cùng Đ; Quốc T5; T1 và T6. Lúc bắt đầu chơi vào khoảng 12 giờ, đến khoảng 12 giờ 40 phút thì bị lực lượng Công an xã phát hiện lập biên bản. Ông bị tạm giữ số tiền dùng đánh bạc để trước mặt tại tụ của ông là 470.000 đồng cùng số tiền trong người là 600.000 đồng và bị tạm giữ 01 chiếc điện thoại. Sau đó, ông và những người chơi đánh bạc chung bị đưa về trụ sở để làm việc về vụ đánh bạc nêu trên.

3. Anh Trương Ngọc T6 vắng mặt có lời khai: Khoảng 12 giờ ngày 14/3/2023, anh từ Long An điều khiển xe 63B-E.63 một mình về đến nhà ông S1 tại ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang do anh L hẹn anh tại đây để giao cho anh chiếc điện thoại di động nhận sửa cho anh L. Sau khi anh L giao điện thoại cho anh xong thì về, còn anh thấy trong nhà ông S1 có anh T1; anh T5; anh Đ và ông S1 (chủ nhà) đang chơi đánh bài cào tố 03 lá. Mỗi ván đặt 20.000 đồng và được tố thêm tiền, mỗi lần tố từ 20.000 đồng đến 100.000 đồng. Trong người anh có sẵn tiền nên lấy ra khoảng 1.000.000 đồng để bắt đầu tham gia chơi đánh bài cùng với anh Đ; anh T5; anh T1 và ông S1. Đến khoảng 12 giờ 40 phút cùng ngày, thì bị lực lượng Công an xã Hưng Thạnh phát hiện lập biên bản, anh bị tạm giữ số tiền tại vị trí của anh là 1.070.000 đồng và trong người anh số tiền 7.100.000 đồng. Anh cùng nhiều người tham gia chơi chung bị đưa về trụ sở Công an xã để làm việc về vụ đánh bạc nêu trên.

4. Anh Lê Thanh T5 vắng mặt có lời khai: Khoảng 11 giờ ngày 14/3/2023, anh có gian xe đến nhà chú ba S1, cách nhà khoảng 1.5km gặp chú ba S1 đang ngồi uống nước trà trong nhà. Khoảng 15 phút sau, anh Phạm Văn T4 (tên thường gọi là Đ), anh Châu Văn T1 và anh Trương Ngọc T6 đến nhà chú ba S1 nói chuyện chơi. Khoảng 12 giờ, Đ rủ mọi người "Chơi đánh bài nhỏ nhỏ chơi" và được mọi người đồng ý. Mọi người ngồi xuống nền trong nhà chú ba S1 và dùng mãnh vải là chiếc mền rách (dùng để chùi chân) để bắt đầu chơi đánh bạc cào tố. Hình thức chơi bài cào tố, đặt tiền 20.000 đồng/ván, được tố thêm tiền từ 10.000 đồng đến 100.000 đồng. Anh có trong người số tiền 4.000.000 đồng và lấy ra số tiền là 1.000.000 đồng để tham gia chơi đánh bạc. Đến khoảng 12 giờ 40 phút cùng ngày, trong khi anh tham gia chơi đánh bạc thì bị Công an xã Hưng Thạnh phát hiện lập biên bản và đưa về trụ sở Công an xã Hưng Thạnh để làm việc về vụ việc nêu trên.

5. Chị Mai Thị P có lời khai: Khoảng trưa trước ngày 14/3/2023 khoảng 01 tuần, trong khi chị điều khiển xe biển số 63V4-Y2 để đi chợ Hưng Thạnh nhưng trên đường đi thì xe 63-Y2 bị mềm bánh và không có chỗ sửa nên chị dẫn vào gửi nhà chú ba S1. Sau đó, chị nghe được thông tin Công an xã Hưng Thạnh phát hiện lập biên bản tụ điểm đánh bạc trong nhà chú S1 có tạm giữ nhiều phương tiện, trong đó có xe mô tô 02 bánh, biển số 63V4-Y2 là xe của chị. Chị đã nhận lại xe nên không yêu cầu gì.

6. Chị Trần Thị Kim T7 vắng mặt có lời khai: Chị là vợ của anh Trương Ngọc T6, khoảng 8 giờ ngày 14/3/2023, anh T6 điều khiển xe 63B8-E.63 một mình từ nhà đến cửa hàng điện thoại di động Phương Vy tại ngã tư thành phố Tân An, tỉnh Long An để nhận điện thoại di động gửi sửa về giao cho khách. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, anh T6 gọi điện thoại nói chị đến Công an xã Hưng Thạnh rước về do anh T6 tham gia chơi đánh bạc thắng thua bằng tiền nên bị lập biên bản và tạm giữ những đồ vật có liên quan, trong đó có xe mô tô 02 bánh, biển số 63B8-E.63 là xe của chị. Chị đã nhận lại xe nên không yêu cầu gì.

Cáo trạng số 50/CT-VKSTP ngày 30/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước truy tố bị cáo Châu Văn T1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa hôm nay:

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 36; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

- Xử phạt bị cáo Châu Văn T1 từ 09 tháng đến 01 năm cải tạo không giam giữ, đề nghị không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

- Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên không giải quyết.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 4.890.000 đồng là số tiền bị cáo và những người liên quan dùng để đánh bạc. Đề nghị tiêu huỷ 01 (một) bộ bài tây 52 lá, đã qua sử dụng và 01 (một) tấm vải. Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo chịu án phí hình sự theo quy định.

- Bị cáo Châu Văn T1 thống nhất với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Văn T4, ông Thái Văn S1 và bà Mai Thị P không tranh luận, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Thanh T5, anh Trương Ngọc T6, chị Trần Thị Kim T7 và ông Đỗ Hoàng S2 vắng mặt tại phiên toà, nên không có ý kiến tranh luận gì.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy mình sai, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Thanh T5, anh Trương Ngọc T6, chị Trần Thị Kim T7 và ông Đỗ Hoàng S2 vắng mặt. Xét việc anh anh T5, anh T6, chị T7 và anh S2 không yêu cầu về trách nhiệm dân sự. Đồng thời anh T5, anh T6, chị T7 và anh S2 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ và có lời khai tại hồ sơ. Việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự trên.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện Tân Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp quy định pháp luật.

[3] Hành vị phạm tội của bị cáo Châu Văn T1:

[3.1] Quá trình thẩm vấn tại phiên tòa của Hội đồng xét xử, đại diện Viện kiểm sát, cùng với các chứng cứ khác của người liên quan, bị cáo Châu Văn T1 thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo là khoảng 12 giờ ngày 14/3/2023, tại nhà của Thái Văn S1 thì T1, T4, T5, T6 và S1 đã tham gia chơi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền.

[3.2] Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cùng các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra có trong hồ sơ vụ án. Mặc dù tổng số tiền mà những người chơi sử dụng để tham gia đánh bạc chỉ 4.890.000 đồng (dưới 5.000.000 đồng), nhưng do Châu Văn T1 có tiền sự, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép, chưa được xoá tiền sự nên hành vi lần này đã phạm vào tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Châu Văn T1 phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.” Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước truy tố đối với bị cáo là có cơ sở và đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Bị báo nhận thức được mọi hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật. Nhưng bị cáo đã bất chấp coi thường pháp luật nên đã tham gia đánh bạc. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương, bất bình trong quần chúng nhân dân. Đặc biệt, chủ trương Đảng và Nhà nước kiên quyết đấu tranh bài trừ các tệ nạn xã hội trong đó có tệ nạn đánh bạc. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mực độ, hành vi phạm tội của bị cáo.

[5]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo T1 không có tình tiết tăng nặng.

- Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa xét thấy, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gia đình bị có hoàn cảnh khó khăn (được xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Tân Hòa Thành); Bị cáo có ông ngoại là liệt sĩ cụ ông Nguyễn Văn Th và bà ngoại là mẹ Việt Nam anh hùng cụ bà Lê Thị C. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Về nhân thân: Bị Công an xã Hưng Thạnh, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0000870/QĐ-XPHC với số tiền với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép, đã đóng phạt xong ngày 25/7/2022, tính đến lần phạm tội lần này chưa hết thời gian xóa tiền sự.

Với tình tiết nêu trên, Hội đồng xét xử cân nhắc khi lượng hình để tuyên xử mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo. Xét bị cáo có nhân thân tốt, có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và các tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bản thân bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, nhưng không chí thú làm ăn, muốn thông qua hành vi đánh bạc trái pháp luật để kiếm tiền bằng hình thức thu lợi bất chính. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; có khả năng tự cải tạo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Đồng thời, bị cáo xin được chấp hành hình phạt tiền. Do đó, cần xử phạt bị cáo bằng tiền, để giáo dục bị cáo nhận thức được và quý trọng giá trị đồng tiền. Đồng thời, nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm với những hành vi tương tự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thống nhất không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về vật chứng của vụ án:

- Đối với số tiền 7.100.000 đồng, 02 điện thoại di động thu giữ trên người của Trương Ngọc T6; Số tiền 3.000.000 đồng thu giữ trên người của Lê Thanh T5 và 1.800.000 đồng thu giữ trên người của Phạm Văn T4. Qua điều tra xác định anh T6, anh T5, anh T4 không cố ý định dùng số tiền và điện thoại này để cầm cố, thế chấp đánh bạc nên Cơ quan điều tra trả lại cho T6, T5, T4 xong, đúng quy định pháp luật.

- Đối với 01 điện thoại di động thu giữ trên người của Thái Văn S1 và 01 điện thoại di động thu giữ trên người của Châu Văn T1. Qua điều tra xác định S1, T1 không có ý định cầm cố, thế chấp 02 điện thoại này để đánh bạc nên Cơ quan điều tra trả lại cho S1, T1 xong, đúng quy định pháp luật.

- Đối với xe mô tô 02 bánh biển số 51M2 – X2. Qua điều tra xác định xe mô tô trên là do Châu Văn T1 mua lại của Đỗ Hoàng S2, ngụ: Số 23 đường Bình Thới, Phường A, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Qua điều tra xác định đây không phải là tang vật có liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra trả lại cho T1 xong, đúng quy định pháp luật.

- Đối với xe mô tô 02 bánh biển số 63V4 – Y2. Qua điều tra xác định xe mô tô trên do chị Mai Thị P, sinh năm 1987, ĐKTT: Ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang đứng tên sở hữu. Qua điều tra xác định đây không phải là tang vật có liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra trả lại cho chị P xong, đúng quy định pháp luật.

- Đối với xe mô tô 02 bánh biển số 63B8 – E.63. Qua điều tra xác định xe mô tô trên là do chị Trần Thị Kim T7, sinh năm 1987, ĐKTT: Ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang (Vợ T6) đứng tên sở hữu. Qua điều tra xác định ngày 14/3/2023 chị T7 không biết T6 dùng xe này đến nhà Thái Văn S1 để đánh bạc nên Cơ quan điều tra trả lại cho chị T7 xong, đúng quy định pháp luật.

- 01 (một) bộ bài tây 52 lá, đã qua sử dụng và 01 (một) tấm vải. Đây là dụng cụ để bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dùng để đánh bạc nên tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với số tiền 4.890.000 đồng, đây là số tiền các đối tượng T4, T6, S1, T5 và bị cáo T1 dùng để đánh bạc nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[9] Xét phân tích và đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt đối với bị cáo T1 là từ 09 tháng đến 01 năm cải tạo không giam giữ là chưa phù hợp. Như những phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo bằng hình thức phạt tiền là phù hợp.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Châu Văn T1 phạm tội “Đánh bạc”.

1. Về hình phạt:

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Châu Văn T1 số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).

2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tây 52 lá, đã qua sử dụng; 01 (một) tấm vải.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 4.890.000 đồng.

Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang đang tạm giữ. Thực hiện xử lý vật chứng khi án có hiệu lực pháp luật.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Châu Văn T1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo Châu Văn T1; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Văn T4, ông Thái Văn S1, chị Mai Thị P được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Thanh T5, anh Trương Ngọc T6, chị Trần Thị Kim T7, ông Đỗ Hoàng S2 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

37
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội đánh bạc số 54/2023/HS-ST

Số hiệu:54/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Phước - Tiền Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 14/12/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về