TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
BẢN ÁN 37/2024/HS-ST NGÀY 29/03/2024 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC
Trong ngày 29 tháng 3 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lýsố35/2024/HSST ngày 13 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xửsố41/2024/QĐXXST - HS ngày 18 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Vũ Văn V; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 21 tháng 9 năm 1990, tại: huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 12/12; Đảng, đoàn thể: Không; Bố đẻ: Vũ Văn H, sinh năm 1968; Mẹ đẻ: Trần Thị X, sinh năm 1968; Cùng trú tại: Thôn Đ, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Vợ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1996; Con: Có 02 con. Con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2019; Trú tại: Thôn Đ, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 19/12/2023 đến ngày 22/12/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.
2. Họ và tên: Nguyễn Văn N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 24 tháng 01 năm 2001, tại: huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Đảng, đoàn thể: Không; Bố đẻ: Nguyễn Văn H1, sinh năm 1966; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị N1, sinh năm 1968; Cùng trú tại: Thôn T, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 19/12/2023 đến ngày 22/12/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.
3. Họ và tên: Nguyễn Văn Ư; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 05 tháng 7 năm 1994, tại: huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Đảng, đoàn thể: Không; Bố đẻ: Nguyễn Văn H2, sinh năm 1968 (đã chết); Mẹ đẻ: Vũ Thị T, sinh năm 1966; Trú tại: Thôn N, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tự thú, bị tạm giữ từ ngày 19/12/2023 đến ngày 22/12/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Dương Quang H3, sinh năm 1992 (Vắng mặt). Địa chỉ: Thôn X, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 30/11/2023, Vũ Văn V, sinh năm 1990, trú tại thôn Đ, xã M, huyện L; Nguyễn Văn N, sinh năm 2001, trú tại thôn T, xã M, huyện L và người đàn ông tên H4 (không rõ họ tên, năm sinh, địa chỉ) ngồi uống nước tại quán tạp hóa của Nguyễn Văn Ư, sinh năm 1994, tại thôn N, xã M, huyện L. Uống nước đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì V, N và H4 rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh ba cây được thua bằng tiền. Sau đó Ư mang 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài từ quân A đến K rồi dẫn V, N, H4 đi đến ngôi nhà không có người ở của gia đình Ư tại thôn N, xã M, huyện L để đánh bạc. Khi đến nơi thì V, N và H4 cùng ngồi xuống chiếu trải sẵn ở nền nhà để đánh bạc, còn Ư không tham gia đánh bạc, chỉ ngồi xem. Hình thức đánh bạc (đánh ba cây) được thua bằng tiền như sau: Khi bắt đầu mỗi ván bạc, mỗi người tham gia đánh bạc phải để số tiền là 50.000 đồng vào giữa chiếu bạc (gọi là tiền gà), tiếp đó người làm chương sử dụng bộ bài tú lơ khơ 36 quân từ A đến 9, đủ bốn chất rô, cơ, bích, tép chia cho mỗi người 03 quân bài. Sau đó những người tham gia đánh bạc đặt cược số tiền từ 50.000đ đến 100.000đ rồi cộng điểm ba quân bài của mình được chia để tính thắng thua. Cụ thể quân A được tính là 1 điểm, các số còn lại ghi trên quân bài tương ứng với số điểm, ví dụ như quân bài ghi số 2 sẽ tương ứng với 2 điểm, quân bài ghi số 3 sẽ tương ứng với 3 điểm. Khi cộng tổng 03 quân bài sẽ tính theo hàng đơn vị (từ 1 đến 10), nếu người chơi có cùng số điểm sẽ so sánh quân bài lớn nhất trong bộ bài theo thứ tự chất đến số (Rô > Cơ > Bích >Tép, A >9 > 8 > 7 > 6 > 5 > 4 > 2 ). Nếu tổng điểm của người làm chương lớn hơn thì sẽ thắng tiền của 02 người còn lại và thắng số tiền gà ở giữa chiếu bạc, nếu tổng điểm của người làm chương nhỏ hơn thì phải trả số tiền người chơi đã đặt cược. Khi nào người đặt cược được 10 điểm, lớn hơn điểm của người làm chương thì sẽ được làm chương. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 15 giờ thì nghỉ, không chơi nữa. Trong quá trình các bị can đánh bạc có Dương Quang H3, sinh năm 1992, trú tại thôn X, xã M, huyện L đi qua và vào xem các đối tượng đánh bạc rồi ra về, không tham gia đánh bạc.
Ngày 19/12/2023, nhận thấy hành vi phạm tội của bản thân là sai nên Nguyễn Văn Ư đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tự thú về hành vi đánh bạc của bản thân và đồng phạm vào chiều ngày 30/11/2023 tại thôn N, xã M, huyện L. Cùng ngày 19/12/2023 Vũ Văn V và Nguyễn Văn N đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đầu thú về hành vi đánh bạc chiều ngày 30/11/2023.
Ngày 19/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành khám xét khẩn cấp ngôi nhà nơi các đối tượng đánh bạc và nơi ở của Nguyễn Văn Ư tại thôn N, xã M, huyện L. Kết quả khám xét thu giữ tại ngôi nhà nơi các đối tượng đánh bạc: 01 chiếu gỗ đã qua sử dụng; 3 quân bài tú lơ khơ gồm các quân: 4 tép; 5 tép; 8 tép. Thu giữ tại quán tạp hóa của gia đình Ư (nơi ở): 52 quân bài tú lơ khơ từ A đến K đủ bốn chất rô, cơ, bích, tép được đựng trong một hộp giấy màu vàng có in hoa văn và chữ.
Quá trình điều tra, các đối tượng khai nhận số tiền mang theo và sử dụng vào mục đích đánh bạc như sau:
Vũ Văn V khai khi tham gia đánh bạc V có số tiền 6.000.000 đồng sử dụng để đánh bạc. Khi thua hết số tiền 6.000.000 đồng thì V tiếp tục mượn của Ư tổng số tiền 25.000.000 đồng để đánh bạc và thua hết. Tổng số tiền V sử dụng vào mục đích đánh bạc là 31.000.000 đồng. Sau khi đánh bạc xong, V đã trả cho Ước số tiền 25.000.000 đồng bằng hình thức chuyển tiền từ số tài khoản 0731000875733 mở tại ngân hàng V1 mang tên VU VAN VINH đến số tài khoản của Ư.
Nguyễn Văn N khai khi đánh bạc N có số tiền 1.100.000 đồng sử dụng để tham gia đánh bạc. Sau khi đánh bạc xong N thua 900.000 đồng, còn lại số tiền 200.000 đồng còn lại N đã chi tiêu cá nhân hết.
Nguyễn Văn Ư khai không tham gia đánh bạc, tuy nhiên, quá trình các đối tượng đánh bạc, Ư có vay của H4 tổng số tiền 25.000.000 đồng để cho V vay sử dụng đánh bạc. Sau khi đánh bạc xong, V đã chuyển khoản trả lại cho Ư số tiền trên, Ư đã trả lại cho H4 bằng tiền mặt.
Ngày 20/12/2023 cơ quan điều tra có công văn số 1421 đề nghị Ngân hàng Thương mại Cổ phần N3 (V1) cung cấp lịch sử giao dịch của số tài khoản 073100087xxxx. Tại công văn số 123 ngày 22/12/2023 của V1 xác định: Số tài khoản 073100087xxxx mang tên Vũ Văn V, ngày 30/11/2023 số tài khoản 073100087xxxx có chuyển số tiền 25.000.000 đồng đến số tài khoản 5505071xxx mang tên Nguyễn Văn Ư mở tại Ngân hàng M.
Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ.
Tại bản cáo trạngsố 48/ CT-VKS-HS ngày 11 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố các bị cáo Vũ Văn V, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn Ư về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố tại bản Cáo trạng đối với các bị cáo và đề xuất ý kiến xử phạt các bị cáo như sau:
Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Vũ Văn V từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội đánh bạc, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Căn cứ vào khoản 1,3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn N từ 12 đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội đánh bạc, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, r, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn Ư.
Xử phạt: Nguyễn Văn Ư từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội đánh bạc, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về hình phạt bổ sung, các bị cáo tham gia đánh bạc với mục đích thu lợi bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung, mỗi bị cáo từ 10.000.000đồng đến 15.000.000đồng để sung quỹ Nhà nước.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 chiếu gỗ đã qua sử dụng, 03 quân bài tú lơ khơ gồm 4 tép, 5 tép, 8 tép.
- Truy thu số tiền 200.000đồng của Nguyễn Văn N để sung công quỹ Nhà nước. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Các điều 3; 21; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo Vũ Văn V, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn Ư phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận đúng hành vi như đã khai tại cơ quan điều tra, các bị cáo thừa nhận Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng hành vi bị cáo đã thực hiện.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Do vậy đủ căn cứ xác định khoảng 14 giờ ngày 30/11/2023, tại ngôi nhà của gia đình Nguyễn Văn Ư ở thôn N, xã M, huyện L, Vũ Văn V và Nguyễn Văn N đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh ba cây được thua bằng tiền. Nguyễn Văn Ư không tham gia đánh bạc nhưng đã chuẩn bị công cụ (tú lơ khơ) và sử dụng địa điểm do mình quản lý cho các đối tượng đánh bạc tại đó, đồng thời quá trình các đối tượng nêu trên đánh bạc, Ư đã cho Vũ Văn V vay số tiền là 25.000.000 đồng để V sử dụng đánh bạc. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 32.100.000 đồng.
Vì vậy bản cáo trạngsố48/ CT-VKS-HS ngày 11/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn truy tố đối với các bị cáo Vũ Văn V, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn Ư về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, ý kiến luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội.
[3] Xét thấy hành vi đánh bạc trái phép của các bị cáo là tệ nạn xã hội gây dư luận xấu, gây mất trật tự trị an ở địa phương tạo tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân, là nguồn gốc phát sinh một số loại tội phạm khác. Vì vậy cần phải xử phạt nghiêm minh đối với các bị cáo để có tác dụng giáo dục riêng, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của các bị cáo thì thấy:
Các bị cáo tham gia đánh bạc với vai trò đồng phạm giản đơn, không có sự liên kết, phân công chặt chẽ.
- Đối với bị cáo Vũ Văn V: Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khi bị phát hiện đã ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do bị cáo tham gia chơi với số tiền lớn nhất nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt cao hơn mức khởi điểm, cao hơn so với các bị cáo khác mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
- Đối với bị cáo Nguyễn Văn N: Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khi bị phát hiện đã ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do bị cáo tham gia đánh bạc với số tiền ít hơn nên Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo mức án thấp hơn so với bị cáo V cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
- Đối với bị cáo Nguyễn Văn Ư: Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tự thú về hành vi phạm tội của mình, có ông nội tham gia cách mạng được tặng thưởng huân huy chương nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, r, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo tuy không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng đã giúp sức tích cực: chuẩn bị bài, địa điểm cho các bị cáo chơi bạc và cho Vũ Văn V vay với số tiền lớn. Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo mức án cao hơn mức khởi điểm như đề nghị của đại diện viện kiểm sát mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét tính chất, vai trò, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo đồng phạm giản đơn, có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo Nghị quyết số 02/VBHN - TANDTC ngày 07/9/2022 nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội, áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo về cải tạo giáo dục tại địa phương cũng đủ điều kiện cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Các bị cáo phạm tội nhằm mục đích thu lợi nên cần áp dụng hình phạt bổ sung, bị cáo Vũ Văn V tham gia đánh bạc với số tiền lớn hơn nên áp dụng mức phạt bổ sung lớn hơn nhưng trong khung đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[5] Đối với đối tượng tên H4 có hành vi đánh bạc cùng với V và N, quá trình điều tra Ư khai trước đó H4 thường đến quán nhà Ư uống nước và giới thiệu tên H4, Ư không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể của H4; V và N khai không quen biết đối tượng H4 do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào xác định rõ lý lịch của đối tượng trên sẽ tiến hành xử lý sau.
Quá trình điều tra, Ư khai, sau khi đánh bạc xong, khoảng 22 giờ cùng ngày 30/11/2023, V, N, Ư và H4 cùng nhau đi ăn đêm tại quán ăn đêm của gia đình anh Trần Đăng N2, sinh năm 1978, tại địa chỉ thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Khi mọi người đang ăn thì có Lưu Văn Đ, sinh năm 1987, trú tại thôn Đ, xã T, huyện L và Nguyễn Tiến H5 sinh năm 1991, trú tại thôn Đ, xã L, huyện L đến gọi riêng Ư và H4 ra nói chuyện và cho rằng Ư và H4 đã đánh bạc “bịp” khiến cho V bị thua tiền trong quá trình đánh bạc. Lúc này H4 bảo Ư chuyển tiền cho nhóm của Đ, do sợ nhóm của Đ đánh nên Ư dùng điện thoại chuyển khoản số tiền 40.000.000 đồng từ tài khoản của Ư vào số tài khoản 993019918xxxx mang tên Nguyễn Tiến H5 mở tại ngân hàng M. V khai sau khi đánh bạc bị thua, V có gọi điện thoại nhờ Đ đến quán ăn đêm kiểm tra xem H4 có phải là thợ đánh bạc bịp không. Khi Đ và bạn Đ đến quán thấy đứng nói chuyện với Ư và thấy Ư lấy điện thoại chuyển tiền cho Đ, không thấy Đ và bạn Đ dùng hung khí hay đe dọa gì U. N khai chỉ thấy Đ và bạn Đ nói chuyện với U, H4 không thấy Đ và bạn Đ cầm hung khí gì và không thấy đe dọa gì U, H4. Đ và H5 khai chỉ được hỏi U, H4 về việc có đánh bạc bịp hay không thì Ư thừa nhận và tự nguyện chuyển số tiền 40.000.000 đồng vào số tài khoản của H5. Ngày 26/12/2023, Lưu Văn Đ giao nộp số tiền 40.000.000 đồng cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L để giải quyết theo quy định. Do quá trình điều tra chưa xác minh làm rõ được nhân thân của H4, chưa lấy lời khai được lời khai của H4 nên chưa có căn cứ để xác định việc Ư chuyển tiền số tiền 40.000.000 đồng vào tài khoản của Nguyễn Tiến H5 có dấu hiệu tội phạm hay không. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với Dương Quang H3, sinh năm 1992, trú tại: thôn X, xã M, huyện L có mặt tại nơi đánh bạc nhưng H3 chỉ ngồi xem, không tham gia đánh bạc nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét xử lý đối với H3 là có căn cứ.
Đối với bộ bài tú lơ khơ 52 quân từ A đến K do Nguyễn Văn Ư mang từ nhà ở của Ư đến nơi đánh bạc, sau khi các đối tượng đánh bạc xong đã để lại bộ bài tú lơ khơ trên tại nơi đánh bạc. Mẹ đẻ của Ư là bà Vũ Thị T, sinh năm 1966, trú tại thôn N, xã M, huyện L trong quá trình dọn dẹp ngôi nhà nơi các đối tượng đánh bạc đã thu dọn và đốt bộ bài trên, chỉ còn sót lại 03 quân bài gồm quân 4 tép, 5 tép và 8 tép thu được trong quá trình khám xét khẩn cấp.
[6] Về xử lý vật chứng: Ngày 22/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành xử lý vật chứng, trả lại số tiền 40.000.000 đồng và 52 quân bài tú lơ khơ từ A đến K đủ bốn chất rô, cơ, bích, tép được đựng trong một hộp giấy màu vàng có in hoa văn và chữ cho chủ sở hữu Nguyễn Văn Ư. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với vật chứng còn lại căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý như sau:
- 01 chiếu gỗ đã qua sử dụng; 3 quân bài tú lơ khơ gồm quân 4 tép, 5 tép, 8 tép là phương tiện phạm tội và ít giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 200.000đồng Nguyễn Văn N sử dụng vào mục đích đánh bạc, nhưng không sử dụng hết đã cầm về chi tiêu cá nhân nay cần truy thu sung quỹ Nhà nước.
[7] Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Các điều 3; 21; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Văn V.
Xử phạt: Vũ Văn V 17 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội đánh bạc, thời gian thử thách 34 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
2. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn N.
Xử phạt: Nguyễn Văn N 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội đánh bạc, thời gian thử thách 28 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
3. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, r, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn Ư.
Xử phạt: Nguyễn Văn Ư 17 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội đánh bạc, thời gian thử thách 34 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo về UBND xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
* Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách: Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung đối với bị cáo Vũ Văn V 15.000.000đồng, phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn N và Nguyễn Văn Ư mỗi bị cáo 10.000.000đồng để sung quỹ Nhà nước.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 chiếu gỗ đã qua sử dụng; 3 quân bài tú lơ khơ gồm quân 4 tép, 5 tép, 8 tép.
- Truy thu số tiền 200.000đồng của Nguyễn Văn N để sung công quỹ Nhà nước.
5. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Các Điều 3; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo Vũ Văn V, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn Ư mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tội đánh bạc số 37/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 37/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Lục Ngạn - Bắc Giang |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 29/03/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về