Bản án về tội đánh bạc số 35/2025/HS-PT ngày 16/09/2025

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

BẢN ÁN 35/2025/HS-PT NGÀY 16/09/2025 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 16 tháng 9 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 37/2025/TLPT-HS ngày 05 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo Trần Hải Q do có kháng cáo của bị cáo Trần Hải Q đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 33/2025/HS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái (nay là Toà án nhân dân khu vực 1 - Lào Cai)

- Bị cáo có kháng cáo:

Trần Hải Q, tên gọi khác: Không, sinh ngày 12/10/1991, tại tỉnh Yên Bái (nay là tỉnh Lào Cai); nơi cư trú: Tổ E, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái (nay là: Tổ E, phường V, tỉnh Lào Cai); Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá lớp: 12/12; Số CCCD 015.091.014.xxx, ngày cấp 19/02/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ C; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Minh Đ và bà Phan Thị N; có vợ là Đặng Thị N1 và 02 con (con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: không; Về nhân thân: Ngày 16/5/2025, bị cáo bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Y (nay là Công an tỉnh L) khởi tố về hành vi đánh bạc (trong vụ án khác). Bị cáo bị đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam số 2, Công an tỉnh L, có mặt.

Ngoài ra còn có các bị cáo Phạm Thị H, Phạm Thị P không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị (Tòa án không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 12 năm 2024, do có mối quan hệ quen biết nhau, Phạm Thị H đặt vấn đề với Trần Hải Q về việc mua bán số lô, số đề với H, Q đồng ý và thống nhất sử dụng ứng dụng Telegram để H chuyển số lô, số đề cho Q. Sau đó, H sử dụng tài khoản Telegram là “LA” hoặc “L.Anh” đăng ký bằng số điện thoại 0378.555.xxx, nhắn tin đến tài khoản Telegram của Q có tên “HT” đăng ký bằng số điện thoại 0335.830.xxx để giao dịch mua bán số lô, số đề. Q và H thỏa thuận, Q bán số lô cho H với giá 21.850 đồng/01 điểm lô và chiết khấu cho H 27,8% tổng số tiền đề và lô xiên 2, xiên 3, xiên 4. Q và H cũng thống nhất cách thức soạn và nhận tin nhắn. Đối với các tin nhắn H mua bán số lô, số đề thì H nhắn “thứ tự tin + với các số lô, số đề cần mua”, nếu Q nhận bán số lô, số đề ở tin nhắn nào thì Q sẽ nhắn lại là “ok + số thứ tự của tin”, nếu Q không nhận tin nhắn nào thì Q sẽ nhắn “Tra lai + nội dung tin nhắn”.

Sau khi thỏa thuận mua bán số lô, số đề với Q, Phạm Thị H thỏa thuận và cùng thống nhất với Phạm Thị P (chị gái ruột của H), P bán số lô, số đề cho khách, sau đó gửi số lô, số đề cho H qua ứng dụng Zalo. P đồng ý, sau đó P sử dụng tài khoản zalo tên “Pham Thi P1” đăng ký bằng số điện thoại 0372.859.xxx nhắn tin cho tài khoản zalo tên “A Ỉn H” đăng ký bằng số điện thoại 0394.332.xxx của H. H bán cho P số lô với giá 22.250 đồng/01 điểm lô và chiết khấu 25,5% tổng số tiền đề và lô xiên 2, xiên 3, xiên 4. Đối với các tin nhắn mua bán số lô, số đề với P nếu nhận thì H nhắn trả lời “Ok + tổng số tin nhắn” vào cuối ngày. Nếu không nhận thì sẽ nhắn “Tra lai + nội dung tin nhắn”.

Hình thức, mức độ thắng thua Q, H và P thỏa thuận thực hiện để đánh bạc được thua bằng tiền với hình thức “mua bán số lô, số đề”: Số lô, số đề là các số tự nhiên từ 00 đến 99; lô được tính bằng điểm, 1 điểm lô P mua của H với giá 22.250 đồng rồi bán cho khách qua đường với giá 23.000 đồng, còn Q bán cho H với giá 21.850 đồng; khi trúng lô thì tiền trúng được tính là số điểm lô x 80.000 đồng. Đề khi trúng sẽ được trả thưởng với tỉ lệ: số tiền mua số đề x 70 lần. Lô xiên 2, xiên 3 và xiên 4 là hai, ba hoặc bốn số tự chọn (gồm hai số, ba hoặc bốn số), tỉ lệ trúng thưởng xiên hai là 1.000 đồng (một nghìn đồng) x 10 lần, được 10.000 đồng (mười nghìn đồng); xiên ba khi trúng sẽ được trả thưởng với tỷ lệ 1.000 đồng (một nghìn đồng) x 40 lần, được 40.000 đồng (bốn mươi nghìn đồng) và xiên 4 khi trúng sẽ được trả thưởng với tỷ lệ 1.000 đồng (một nghìn đồng) x 100 lần được 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng). Căn cứ trúng thưởng là dựa vào kết quả xổ số miền B mở thưởng hàng ngày, khi so sánh số lô trùng với hai số cuối của 27 giải từ đặc biệt đến giải bảy là trúng, nếu trùng nhiều lần sẽ nhân với số lần trùng. Đối với số đề nếu trùng với hai số cuối của giải đặc biệt là trúng thưởng. Đối với lô xiên 2, xiên 3 hoặc xiên 4 nếu trùng cả hai, ba hoặc bốn số trong hai số cuối của 27 giải là trúng thưởng. Không trùng là không trúng thưởng và người mua sẽ mất toàn bộ số tiền đã mua số lô, số đề hoặc lô xiên cho người bán. Khi trúng lô hoặc đề, giữa H với Q thỏa thuận khi nào H cần tiền thì Q sẽ thanh toán hoặc đến khi nào số tiền thanh toán đạt 50.000.000 đồng sẽ thanh toán tiền cho H, còn H với P thỏa thuận nếu P thắng, thì khi nào P muốn nhận tiền thì H sẽ đưa cho P. Với hình thức mua bán số lô, số đề và thực hiện theo thỏa thuận như trên, Phạm Thị H và Phạm Thị P đã đánh bạc được thua bằng tiền với hình thức “mua bán số lô, số đề”, cụ thể như sau: Khoảng 14 giờ 50 phút, ngày 23/12/2024, Phạm Thị P sử dụng tài khoản zalo của P tên “Pham Thi P1” gửi đến tài khoản zalo tên: “A Ỉn H” của Phạm Thị H, tổng số 14 tin nhắn mua bán số lô số đề. Số tiền mua số lô, số đề là 28.007.750 đồng (trong đó: 851 điểm lô x 22.250 đồng = 18.934.750 đồng và 9.073.000 đồng là tiền đề và lô xiên). Toàn bộ số tiền bán số lô, số đề cho khách ngày 23/12/2024, Phạm Thị P đã được khách mua thanh toán đủ. So sánh với kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng ngày 23/12/2024, P trúng tổng số tiền 20.770.000 đồng (trong đó: 224 điểm lô x 80.000đồng = 17.920.000 đồng; tiền đề trúng và tiền lô xiên 2 trúng tổng số tiền 2.850.000 đồng). Tổng số tiền Phạm Thị P đánh bạc được thua bằng tiền với hình thức “mua bán số lô, số đề” với Phạm Thị H ngày 23/12/2024 là: 48.777.750 đồng.

Cũng với hình thức mua bán số lô, số đề và thực hiện theo thỏa thuận như trên, Trần Hải Q, Phạm Thị H đã đánh bạc được thua bằng tiền với hình thức “mua bán số lô, số đề” cụ thể như sau: Khoảng 17 giờ 50 phút, ngày 23/12/2024, Phạm Thị H sau khi nhận số lô, số đề của Phạm Thị P chuyển đến, H soạn lại và tự mua thêm các số lô, số đề khác, sau đó H tổng hợp số lô, số đề và sử dụng tài khoản Telegram tên “LA” “L.Anh” gửi tổng số 19 tin nhắn mua bán số lô, số đề đến tài khoản Telegram của Trần Hải Q tên là “HT”, tin nhắn số 20 bị Q trả lại do quá thời gian nhận. Số tiền mua số lô, số đề là 57.297.550 đồng (trong đó: 1.843 điểm lô X 21.850 đồng = 40.269.550 đồng và 17.028.000 đồng tiền đề và lô xiên). So sánh với kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng ngày 23/12/2024, H trúng tổng số tiền 59.160.000 đồng (trong đó: 717 điểm lô X 80.000 đồng = 57.360.000 đồng; tiền đề trúng 20.000 đồng = 1.400.0 đồng; tiền lô xiên 2 trúng 40.000 đồng X 10 = 400.000 đồng). Tổng số tiền Phạm Thị H, Trần Hải Q đánh bạc được thua bằng tiền với hình thức “mua bán số lô, số đề” ngày 23/12/2024 là: 116.457.550 đồng.

Toàn bộ số tiền đánh bạc cũng như tiền hưởng lợi giữa Q, H, P khi đánh bạc được thua bằng tiền với hình thức “mua bán số lô, số đề” ngày 23/12/2024, Q, H, P chưa thanh toán cho nhau thì đã bị Cơ quan CSĐT – Công an tỉnh Y phát hiện, ngăn chặn.

* Vật chứng, đồ vật, tài liệu thu giữ do Phạm Thị P giao nộp:

- Số tiền 13.050.000 đồng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi Note 12 màn hình cảm ứng, mặt sau màu xanh, lắp sim số: 0372.859.xxx; 01 cái bút bi màu xanh, mực xanh, trên thân bút có dòng chữ metal clip 0,7mm; 01 cái bút bi màu đen, mực đen, trên thân bút có dòng chữ TL-023 ball point pen 0,8mm; 01 tờ giấy khổ A4, có ghi nhiều số tự nhiên và có chữ “tờ kê nộp gốc vé số lô tô tự chọn” đề ngày 23/12/2024, trên tờ giấy có chữ ký của Phạm Thị P; 01 máy tính cầm tay, nhãn hiệu casino JF-120FM. máy tính cũ, đã qua sử dụng.

* Vật chứng, đồ vật thu giữ do Phạm Thị H giao nộp: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO F5, màn hình cảm ứng, màu đỏ, lắp sim số 0394.332.xxx và 0378.555.xxx.

Tại Bản án sơ thẩm số 33/2025/HS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2025 và Thông báo sửa chữa bổ sung bản án số 05/TB-TA ngày 18/7/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái (nay là Toà án nhân dân khu vực 1 - Lào Cai) quyết định:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Hải Q, Phạm Thị H, Phạm Thị P phạm tội “Đánh bạc”

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo: Trần Hải Q 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Phạt tiền bị cáo 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Phạm Thị H 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, phạt tiền bị cáo 20.000.000 (hai mười triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước; phạt bị cáo Phạm Thị P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, phạt tiền bị cáo 10.000.000 (mười triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước; quyết định về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm, tuyên quyền kháng cáo và hướng dẫn thị hành án theo quy định của pháp luật.

Ngày 03 tháng 7 năm 2025, bị cáo Trần Hải Q có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

• Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

◦ Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Trần Hải Q trong thời hạn luật định.

◦ Về nội dung: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Hải Q; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2025/HS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái (nay là Toà án nhân dân khu vực 1 - Lào Cai) theo hướng giảm hình phạt cho bị cáo, phạt bị cáo từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đề nghị giữ nguyên.

• Bị cáo Trần Hải Q thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân như bản án sơ thẩm đã xác định; giữ nguyên nội dung kháng cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định, có nội dung và hình thức phù hợp các điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Hải Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Bản án sơ thẩm đã xác định, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và xem xét tại phiên tòa. Như vậy, đã có đầy đủ cơ sở kết luận: Ngày 23/12/2024, tại thành phố Y: Phạm Thị P, Phạm Thị H và Trần Hải Q đã thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền, với hình thức “mua bán số lô, số đề”. Thời điểm phát hiện và ngăn chặn hành vi đánh bạc sau thời điểm có kết quả xổ số miền B mở thưởng ngày 23/12/2024, xác định Trần Hải Q đồng ý và nhận tin nhắn mua bán số lô số đề của H với số tiền là 57.297.550 đồng, so sánh kết quả xổ số miền B, H trúng 59.160.000 đồng. Vậy, tổng số tiền Quân phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi đánh bạc vào ngày 23/12/2024 là 116.457.550 đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2

Điều 321 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Trần Hải Q, Hội đồng xét xử thấy:

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, cần xử lý nghiêm hành vi phạm tội của bị cáo theo quy định của pháp luật.

Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, bị cáo có mẹ đẻ được tặng thưởng nhiều Giấy khen và B khen được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Tại cấp phúc thẩm bị cáo đã xuất trình giấy xác nhận của Công an phường V, tỉnh Lào Cai về việc bị cáo đã lập công chuộc tội; nộp tiền án phí HSST và tiền phạt (tại biên lai thu số 0000208 ngày 16/9/2025 của Thi hành án Dân sự tỉnh Lào Cai) thể hiện bị cáo tích cực chấp hành bản án. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm u khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Xét thấy, bị cáo Trần Hải Q không có tiền án, tiền sự, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, lập công chuộc tội, tích cực chấp hành bản án là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng chế định quy định tại khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự; chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước, động viên bị cáo tích cực rèn luyện cải tạo tốt, sớm trở về hòa nhập cộng đồng.

[4] Từ những nhận định trên, HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Hải Q; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2025/HS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lào Cai) theo hướng giảm một phần hình phạt tù cho bị cáo.

[5] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ nên cần xem xét chấp nhận.

[6] Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Hải Q; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2025/HS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2025 của của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái (nay là Toà án nhân dân khu vực 1 - Lào Cai) như sau:

Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; Điều 38, điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, khoản 1 Điều 54, Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Hải Q 02 (hai) năm tù, về tội "Đánh bạc". Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Phạt tiền bị cáo 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước (xác nhận bị cáo đã nộp tại biên lai thu số 0000208 ngày 16/9/2025 của Thi hành án Dân sự tỉnh Lào Cai) .

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Trần Hải Q không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

2
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội đánh bạc số 35/2025/HS-PT ngày 16/09/2025

Số hiệu:35/2025/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Lào Cai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:16/09/2025
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về