TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
BẢN ÁN 170/2024/HS-ST NGÀY 25/09/2024 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 169/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 185/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Trịnh Xuân V, sinh năm 1978;
HKTT: Thôn Đ, xã TP, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: N1; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt N1; Con ông Trịnh Trọng T1, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1958; Gia đình có 03 A em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Đỗ Thị Diệu L, sinh năm 1984; con: 02 con, con lớn sinh năm 2005 con nhỏ sinh năm 2009.
Tiền án, tiền sự: Chưa có;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/5/2024 đến ngày 27/5/2024, được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện tại ngoại (Có mặt tại phiên tòa).
*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. A Kha Văn B, sinh năm 1997 (Vắng mặt);
HKTT: Bản NL2, xã HK, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An;
Địa chị: Khu phố PL, phường PC, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
2. A Nguyễn Thế A, sinh năm 1998 (Vắng mặt);
HKTT: Thôn TP, xã TP, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An;
Địa chị: Thôn ĐT, xã ĐĐ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
3. A Nguyễn Như D , sinh năm 1979 (Vắng mặt);
HKTT: Thôn Đ, xã TP, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
4. A Nguyễn Tuyển D1, sinh năm 1985 (Vắng mặt);
HKTT: Thôn L, xã TP, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
5. A Nguyễn Thường K, sinh năm 1982 (Xin vắng mặt); HKTT: Thôn Đ, xã TP, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 40 phút ngày 21/5/2024, tại gia đình Trịnh Xuân V, ở thôn Đ, xã TP, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du phối hợp với Công an xã TP, huyện Tiên Du kiểm tra Trịnh Xuân V đang bán số lô số đề. Lực lượng Công an đã phát hiện và tiến hành thu giữ: 01 bảng cáp đề ghi bằng tờ giấy A4 (V mua bán số lô, số đề với người chơi ngày 21/5/2024); 01 (một) chiếc bút bi (loại bút nến) mực màu xA; 01 (một) chiếc thước kẻ bằng nhựa (30cm); 38.200.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt N1. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du đưa V cùng vật chứng về trụ sở để làm việc.
Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát Công an huyện Tiên Du làm rõ như sau: Gia đình Trịnh Xuân V có mở quán bia tại gia đình, hàng ngày có nhiều khách vào uống bia có nhu cầu và hỏi mua số lô, số đề nên khoảng đầu tháng 5/2024, V nảy sinh ý định bán số lô, số đề cho khách đến mua trực tiếp ở quán của V. Vì vậy, V sử dụng tờ giấy A4 màu trắng, chia thành các cột, ghi các số lô, số đề của người chơi. Sau khi có kết quả mở thưởng số xố miền Bắc cùng ngày, sẽ đối chiếu việc được thua, thA toán tiền với người chơi. Khi thA toán xong tiền thắng thua với người chơi, bảng cáp đề hàng ngày V sẽ tiêu hủy.
V cùng thống nhất cách thức chơi với những người chơi như sau:
Dựa vào kết quả xổ số Miền Bắc (XSMB) mở thưởng hàng ngày, số dự thưởng của người chơi có giá trị trong ngày, để so sánh thắng thua, cụ thể như sau: Số đề giải đặc biệt là số trùng với 02 số cuối cùng của giải đặc biệt, số đề giải nhất là số trùng với 02 số cuối cùng của giải nhất, mua 1.000 đồng trúng sẽ được 80.000 đồng, số đề 02 cửa là số trùng với 02 số cuối cùng của một trong hai giải đặc biệt hoặc giải nhất, mua 1.000 đồng trúng sẽ được 80.000 đồng, số lô là số trùng với 02 số cuối cùng của tất cả các giải, mua 01 điểm = 23.000 đồng nếu trúng sẽ được 80.000 đồng, nếu số lô người mua mà trùng 2 lần (tức là về 2 nháy) trong các giải thì số điểm nhân với 2, trùng 3 lần thì số điểm nhân với 3, trùng 4 lần số điểm nhân với 4. Lô xiên 2 là đánh 02 số lô cùng một lúc trong một bộ, người chơi thắng khi cả 02 số này cùng xuất hiện trong bảng kết quả quay xổ số, mua 1.000 đồng trúng sẽ được 12.000 đồng. Lô xiên 3 là đánh 03 số lô cùng một lúc trong một bộ, người chơi thắng khi cả 03 số này cùng xuất hiện trong bảng kết quả quay xổ số, mua 1.000 đồng trúng sẽ được 40.000 đồng. Lô xiên 4 là đánh 04 số lô cùng một lúc trong một bộ, người chơi thắng khi cả 04 số này cùng xuất hiện trong bảng kết quả quay xổ số, mua 1.000 đồng trúng sẽ được 100.000 đồng. Số ba càng (giải nhất và giải đặc biệt) là số trùng với 03 số cuối cùng của giải đặc biệt, giải nhất, mua 1.000 đồng trúng sẽ được 400.000đồng. Tất cả cùng thống nhất số tiền thắng thua sẽ thA toán bằng tiền mặt.
Hành vi “Đánh bạc” của Trịnh Xuân V ngày 21/5/2024 cụ thể:
Khoảng 17 giờ ngày 21/5/2024, Trịnh Xuân V chuẩn bị tờ giấy A4, V dùng bút bi, mực xA, kẻ chia thành các cột để ghi mua số lô, số đề với người chơi, gồm các cột: “Đề” là mua số đề ở giải đặc biệt; “Đầu đặc biệt”, “Đít đặc biệt” là mua đầu, đít của hai số cuối giải đặc biệt; “Cặp” là mua số đề ở giải nhất và giải đặc biệt; “Lô” là cột mua số lô; “Xiên” mua số đề Xiên (gồm Xiên 2, Xiên 3); 3 càng; Nhất. Trong các cột trên, bên trái là ghi số lô, số đề người chơi mua, bên phải là số tiền tương ứng người chơi mua:
- V có bán các con số lô, đề cho Kha Văn B, sinh năm 1997, HKTT: Bản NL2, HK, Kỳ Sơn, Nghệ An lô là 90 điểm x 23.000 đồng = 2.070.000 đồng. B thA toán số tiền trên cho V rồi V trả cho B 01 tờ cáp lô nhỏ ghi các số lô mà B mua. So với kết quả mở thưởng xổ số cùng ngày, B trúng được 30 điểm x 80.000 đồng = 2.400.000 đồng. V chưa thA toán số tiền này cho B. Tổng số tiền V đánh bạc với B là 4.470.000 đồng (BL 86-90).
- V có bán các con số lô, đề cho Nguyễn Thế A, sinh năm 1998, HKTT: Tân Phong, Tân Phú, Tân Kỳ, Nghệ An lô là 60 điểm x 23.000 đồng = 1.380.000 đồng; đề là 800.000 đồng, số tiền Thế A mua số lô, số đề của V là 2.180.000 đồng. Thế A thA toán số tiền trên cho V rồi V trả cho Thế A 01 tờ cáp lô nhỏ ghi các số lô, số đề mà Thế A mua. So với kết quả mở thưởng xổ số cùng ngày, Thế A trúng được 10 điểm x 80.000 đồng = 800.000 đồng. V chưa thA toán số tiền này cho Thế A. Tổng số tiền V đánh bạc với Thế A là 2.980.000 đồng.
- V có bán các con số lô, đề cho Nguyễn Như D , sinh năm 1979, HKTT: Thôn Đ, xã TP, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh lô là 20 điểm x 23.000 đồng = 460.000 đồng. D đã thA toán số tiền trên cho V. So với kết quả mở thưởng xổ số cùng ngày, D thua hết. Tổng số tiền V đánh bạc với D là 460.000 đồng.
- V có bán các con số lô, số đề cho Nguyễn Tuyển D1, sinh năm 1985, HKTT: Thôn Lương, xã TP, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đề là 200.000 đồng. Dân đã thA toán số tiền trên cho V. So với kết quả mở thưởng xổ số cùng ngày, Dân thua hết. Tổng số tiền V và Dân sử dụng để đánh bạc là 200.000 đồng.
- V có bán các con số lô, số đề cho Nguyễn Thường K, sinh năm 1982, HKTT: Thôn Đ, xã TP, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh lô là 180 điểm x 23.000 đồng = 4.140.000 đồng. K chưa thA toán số tiền trên cho V. So với kết quả mở thưởng xổ số cùng ngày, K thua hết. Tổng số tiền V đánh bạc với K là 4.140.000 đồng.
- Ngoài ra V còn trực tiếp bán số lô, số đề cho một số đối tượng (V không biết rõ tên tuổi địa chỉ những người này ở đâu do V gặp lần đầu) với tổng số tiền là: 41.495.000 đồng, số tiền này V đã thu của khách. So với kết quả mở thưởng xổ số cùng ngày, khách trúng được 30.800.000 đồng. Số tiền này không thấy khách đến lấy do V bị bắt sau khi mở thưởng.
Như vậy, tổng số tiền V bán được cho khách trong ngày 21/5/2024 là 50.545.000 đồng. So với kết quả mở thưởng xổ số cùng ngày, khách trúng được 34.000.000 đồng. Tổng số tiền V dùng để đánh bạc là 84.545.000 đồng.
Việc thu giữ đồ vật tài liệu:
+ Nguyễn Thường K tự nguyện giao nộp 4.140.000 đồng.
+ Thu của Nguyễn Thế A: 01 tờ cáp đề, viết bằng mẩu giấy ô ly màu trắng, nội dung mua các số lô, số đề của Thế A với V.
+ Thu của Kha Văn B: 01 tờ cáp đề, viết bằng mẩu giấy báo, nội dung mua các số lô của B với V.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 03 cáp đề thu được là chứng cứ kèm theo hồ sơ vụ án.
- Tổng số tiền 42.340.000 đồng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du đã chuyển vào tài khoản Chi cục THADS huyện Tiên Du.
- Đối với 01 (một) chiếc bút bi (loại bút nến) mực màu xA; 01 (một) chiếc thước kẻ bằng nhựa (30cm) là vật chứng vụ án.
Tại Cơ quan điều tra Trịnh Xuân V đã thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm của bản thân như đã nêu trên.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 108/CT-VKSTD ngày 02/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
Truy tố bị cáo Trịnh Xuân V về tội “Đánh bạc” theo điểm b, khoản 2, Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Quá trình xét hỏi tại phiên toà bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bị cáo thừa nhận bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Trong phần trA luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố theo bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Về tội danh
Bị cáo Trịnh Xuân V phạm tội “Đánh bạc”.
Về hình phạt: Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 321; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Trịnh Xuân V 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã TP giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
* Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung bị cáo Trịnh Xuân V.
* Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:
+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) bút bi (loại bút nến) mực màu xA, 01 (một) thước kẻ bằng nhựa (loại thước dàu 30cm).
+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 38.200.000 đồng thu của bị cáo V và số tiền 4.140.000 đồng A Nguyễn Thường K tự nguyện giao nộp.
+ Truy thu số tiền đánh bạc của bị cáo V số tiền là 42.205.000 đồng. Tiếp tục tam giữ số tiền 20.200.000đồng.
Trong phần trA luận: Bị cáo nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia trA luận với đại diện Viện kiểm sát, bị cáo nhận thấy bị Toà án nhân dân huyện Tiên Du xét xử là đúng người, đúng tội, không oan sai, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin được hưởng án treo cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Tiên Du, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà, đã có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt không ảnh hưởng tới việc xét xử nên HĐXX xét xử vắng theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được, lời khai người liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Lợi dụng kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng hàng ngày Trịnh Xuân V đã đánh bạc ăn tiền bằng hình thức mua bán số lô, số đề cho một số đối tượng cụ thể: Ngày 21/05/2024, V đánh bạc với Kha Văn B tổng số tiền là: 4.470.000 đồng; với Nguyễn Thế A tổng số tiền là: 2.980.000 đồng; với Nguyễn Như D tổng số tiền là: 460.000 đồng; với Nguyễn Tuyển D1 tổng số tiền là: 200.000 đồng; với Nguyễn Thường K tổng số tiền là: 4.140.000 đồng. Ngoài ra V còn đánh bạc cho một số đối tượng khác. Tổng số tiền Trịnh Xuân V dùng để đánh bạc với các đối tượng là 84.545.000 đồng.
Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo V đã phạm tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương, đồng thời tội phạm là một trong những nguyên nhân dẫn các gia đình vào cảnh túng quẫn, nợ nần, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng. Mặt khác nó còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải đưa vụ án ra xét xử kịp thời và có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:
Bị cáo V là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội tuy nhiên thuộc trường hợp nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện nộp số tiền 20.200.000 đồng tại cơ quan Thi hành án dân sự huyện Tiên Du để chờ Toà án xử lý, gia đình bị cáo có công với cách mạng, đang thờ cúng liệt sỹ nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình.
Do vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước.
Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du là phù hợp, Hội đồng xét xử xét thấy:
Đối với bị cáo V là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà chỉ cần xử bị cáo một mức hình phạt tù tương xứng với hành vi nhưng cho bị cáo cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích thu lời bất chính nên ngoài hình phạt chính cần phạt bổ sung một khoản tiền tương xứng với hành vi của bị cáo, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên đối với bị cáo V là lao động tự do không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng gì, gia đình hoàn cảnh khó khăn nên miễn không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng của vụ án:
Đối với: 01 (một) bút bi (loại bút nến) mực màu xA, 01 (một) thước kẻ bằng nhựa (loại thước dàu 30cm) là công cụ bị cáo sử dụng phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo giao nộp số tiền 38.200.000 đồng, A Nguyễn Thường K tự nguyện giao nộp 4.140.000 đồng, số tiền trên là số tiền bị cáo và A Khởi sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Tổng số tiền bị cáo đánh bạc là 84.545.000 đồng, quá trình đánh bạc người chơi đã chuyển cho bị cáo V, A K đã tự nguyện giao nộp số tiền đánh bạc đến nay bị cáo và A K giao nộp số tiền 42.340.000 đồng, bị cáo còn phải bị truy thu số tiền đánh bạc là 42.205.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
[6] Liên quan trong vụ án này:
Đối với Kha Văn B, Nguyễn Thế A, Nguyễn Như D , Nguyễn Tuyển D1, Nguyễn Thường K có hành vi đánh bạc bằng hình thức mua số lô số đề của V. Do số tiền đánh bạc đều chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự. B, Thế A, D , Dân, K chưa có tiền án, tiền sự về tội “Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc và Gá bạc” nên Công an huyện Tiên Du đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền là phù hợp.
Đối với các đối tượng khác có mua số lô, số đề của Trịnh Xuân V, V không biết tên, tuổi địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du chưa có căn cứ để xử lý, khi nào làm rõ đề nghị xử lý sau.
Đối với việc Trịnh Xuân V khai là bán số lô, số đề từ đầu tháng 5/2024, sau khi thA toán cho những người chơi V tiêu hủy hết các bảng cáp ghi số lô, số đề, V cũng không nhớ được hưởng lợi bao nhiêu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du chưa có căn cứ để xử lý, khi nào làm rõ đề nghị xử lý sau là phù hợp.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Xuân V phạm tội "Đánh bạc".
Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 321; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Trịnh Xuân V 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trịnh Xuân V cho UBND xã TP, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh; giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về hình phạt bổ sung: Miễn phạt bổ sung cho bị cáo Trịnh Xuân V.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
bạc.
+ Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 42.205.000 đồng bị cáo V đánh Xác nhận bị cáo V đã nộp 20.200.000đồng theo biên lai thu tiền số 1185 ngày 24/9/2024 tại Chi cục THADS huyện Tiên Du.
4. Về án phí: Căn cứ các Điều 135 và Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 BLTTHS.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật./.
Bản án về tội đánh bạc số 170/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 170/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Tiên Du - Bắc Ninh |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 25/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về