TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
BẢN ÁN 07/2024/HS-ST NGÀY 28/02/2024 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC
Ngày 28 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 01/2024/TB-TA ngày 21-02-2024, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn T, sinh năm 1983 tại huyện C, tỉnh An Giang; Nơi thường trú: ấp M, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: ấp N, xã L, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: mua bán; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị T1; anh em có 05 người, bị cáo là người lớn nhất; vợ là Đặng Thị N, có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2015.
Tiền án: Ngày 21-9-2021, bị Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xử phạt 02 năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03-12-2022, nộp xong án phí;
Tiền sự: không. Bị bắt tạm giam từ ngày 18-9-2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, có mặt.
2. Lê Anh K1, sinh năm 1991 tại huyện T, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: mua bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Duy V (chết) và bà Trần Thị L; anh em có 02 người, bị cáo là người lớn nhất; vợ là Trần Thị Mỹ N1; nhân thân: Ngày 20-3-2014 bị Công an huyện T xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “đánh bạc”, đã nộp phạt xong ngày 25-3-2014; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt tạm giam từ ngày 18-9-2023, đến ngày 27-10-2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
3. Nguyễn Văn C, sinh năm 1988 tại Campuchia; Nơi cư trú: ấp N, xã L, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (chết) và bà Nguyễn Thị L1; anh em có 03 người, bị cáo là người thứ hai; vợ là Huỳnh Thị Diệu H; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt tạm giam từ ngày 18-9-2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, có mặt.
4. Nguyễn Duy K2, sinh năm 1990 tại thành phố L, tỉnh An Giang; Nơi thường trú: ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang. Nơi cư trú: ấp T, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị N2; anh em có 03 người, bị cáo là người lớn nhất; vợ là Trương Thị Bé T2 (đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt tạm giam từ ngày 18-9-2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện T; có mặt.
5. Lưu Chí C1, sinh năm 1990 tại thành phố C, tỉnh Cà Mau; Nơi thường trú: Số F L, khóm G, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau; Nơi cư trú: ấp T, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Công T3 và bà Lê Thị Thu C2; anh em có 02 người, bị cáo là người lớn nhất; vợ là Trần Thị Xuân E.
Nhân thân: Ngày 27-9-2013 bị Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong hình phạt tù và nộp xong án phí; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 16-3-2023, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh K xử phạt 400.750.000 đồng, về hành vi “Vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên”, chưa nộp phạt.
Bị bắt tạm giam từ ngày 18-9-2023, đến ngày 27-10-2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
6. Nguyễn Văn H1 (Tên gọi khác: R), sinh năm 1989 tại huyện H, tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: ấp M, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị T1; anh em có 05 người, bị cáo là người thứ tư; vợ là Huỳnh Mỹ L2; Con có 03 người, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt tạm giam từ ngày 18-9-2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, có mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1979. Nơi cư trú: ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt;
- Ông Đinh Văn S, sinh năm 1990. Nơi cư trú: ấp G, xã L, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
Những người làm chứng:
Bà Dăng Thị N, sinh năm 1987, có mặt; Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1973, có mặt; Bà Bùi Kim Đ2, sinh năm 1976, vắng mặt; Ông Huỳnh Minh H3, sinh năm 1973, vắng mặt; Ông Trần Văn T4, sinh năm 1972, vắng mặt; Bà Nguyễn Thị Thúy H4, sinh năm 1989, vắng mặt; Ông Võ Thanh N3, sinh năm 1988, vắng mặt; Ông Nguyễn Đỗ Hoàng D, sinh năm 1995, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 27-4-2023, nhận được tin báo của nhân dân, Đội 3, kinh tế, ma túy - Công an huyện T phối hợp với Công an xã L phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn T, Lê Anh K1, Nguyễn Văn C, Nguyễn Duy K2, Lưu Chí C1, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn T5 và Nguyễn Thanh N4 có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền với hình thức lắc tài xỉu, tổng số tiền thu giữ trên chiếu bạc là 9.300.000 đồng, tại nhà của T, thuộc ấp N, xã L, huyện T, nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng là công cụ dùng để đánh bạc và các đồ vật, tài sản có liên quan.
Qua điều tra xác định được: Từ ngày 24-4-2023 - 26-4-2023, T sử dụng nhà cho nhiều người tham gia chơi tài xỉu được thua bằng tiền để thu lợi bất chính. Cách thức chơi lắc tài xỉu được thua như sau: Có 03 hột xí ngầu, nếu lắc mặt trên của các hột xí ngầu cộng điểm từ 11 trở lên là tài, từ 10 trở xuống là xỉu, lắc ra tài thì ăn xỉu và ngược lại; còn lắc 03 hột xí ngầu đều cùng số 4, 5 hoặc 6 là bão tài, hòa tài ăn xỉu, ngược lại lắc 03 hột xí ngầu đều cùng số 1, 2 hoặc 3 là bão xỉu, hòa xỉu ăn tài. Khoảng 23 giờ ngày 26-4-2023, K1 làm cái, lắc ván đầu tiên có Tao, Châu, Huyện, tham gia đặt cược; từ ván thứ hai Tao nghỉ, K1 lắc thì có C, Huyện, C1, T5, N4 tham gia đặt cược mỗi người từ 50.000 đồng đến 300.000 đồng, khi chơi đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 27-4-2023 thì bị lực lượng Công an bắt quả tang thu giữ tổng số tiền trên chiếu bạc là 9.300.000 đồng; tiền dùng đánh bạc trên người của K1 3.000.000 đồng, C 280.000 đồng, K2 100.000 đồng, C1 270.000 đồng, H1 1.320.000 đồng, T5 2.200.000 đồng và N4 1.000.000 đồng.
Ngày 09-9-2023, T, K1, C, K2, C1, H1 bị khởi tố và bắt tạm giam để điều tra; ngày 27-10-2023 K1 và C1 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Đến ngày 15-12-2023, T5, N4 bị khởi tố, truy nã và quyết định tách vụ án.
Vật chứng thu giữ:
Số tiền 87.540.000 đồng (Trong đó: T6 tại chiếu bạc 9.300.000 đồng; của K1 3.000.000 đồng; của T 67.000.000 đồng; của C1 270.000 đồng; của K2 100.000 đồng; của Huyện 1.320.000 đồng; của C 280.000 đồng; của N4 1.000.000 đồng; của Thiệu 2.200.000 đồng; của Nguyễn Văn Đ1 2.870.000 đồng và của Đinh Văn S 200.000 đồng);
- 04 bộ xí ngầu (12 hột); 01 nắp nhựa hình tròn quấn băng keo màu xanh; 01 chén bằng sành màu trắng; 17 miếng kim loại hình tròn có lỗ; 01 tấm nhựa màu trắng có ghi chữ “Hột Kê Hòa L3 Hột Ăn Thua” và chữ “TÀI XỈU”, có các ô nhỏ đánh số thứ tự bên trong từ 4 đến 17;
- 05 cái điện thoại di động các loại gồm: 01 máy Samsung A52 màu đen, 01 máy POVA màu đen, 01 máy REMI màu đen, 01 máy OPPO A31 màu xanh bạc và 01 máy OPPO A12 màu xanh;
- 01 xe mô tô biển số 68K1-xxxxx, loại xe Sirius, màu trắng đen, số khung: RLCS5C630BY573571, số máy: 5C63-573576;
- 01 xe mô tô biển số 68D1-xxxxx, loại xe Sirius, màu xanh đen, số khung: RLCS5C6H0FY157634, số máy: 5C6H157643;
- 01 xe mô tô biển số 94K1-xxxxx, loại xe Wave RSX, màu đen đỏ, số khung: RLHJA311XEY201312, số máy: JA31E0361532;
- 01 xe mô tô loại xe Dream II, màu đỏ đen, số máy: C100ME8037092; số khung C1000ME8037092 (gắn biển số 67L1-xxxxx của xe khác);
- 01 xe mô tô biển số 67N1-xxxxx, loại xe FUTURE X F1, màu đen xám, số khung: RLHJC3509AY216096, số máy: JC45E0050892;
Riêng, 01 máy điện thoại OPPO A96 màu đen, 01 máy điện thoại Iphone 8 màu đỏ và 01 xe mô tô biển số 66M1-xxxxx, loại xe C110, màu đen, số máy: 215423, số khung 115423; số tiền 11.200.000 đồng sẽ chuyển để xử lý trong vụ án khác theo quyết định tách vụ án hình sự số 07 ngày 15-12-2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T.
Tại Cáo trạng số 01/CT-VKSTT-HS ngày 09 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T, Lê Anh K1, Nguyễn Văn C, Nguyễn Duy K2, Lưu Chí C1 và Nguyễn Văn H1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố.
Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng và trình bày lời luận tội: Các bị cáo cùng tham gia đánh bạc với mục đích được thua bằng tiền với hình thức lắc tài xỉu, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến an ninh trật tự công cộng nên Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo về tội “đánh bạc” là có căn cứ. Các bị cáo cùng thực hiện một tội phạm nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm với hành vi phạm tội của mình.
Tình tiết giảm nhẹ: Tất cả các bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo K1, Châu, K3, Huyện được áp dụng thêm tình tiết phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Ngày 21-9-2021, bị cáo T bị Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xử phạt 02 năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03-12-2022, chưa được xóa án tích nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Đối với Nguyễn Văn T5, Nguyễn Thanh N4 bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã khởi tố, truy nã và quyết định tách vụ án, khi bắt được sẽ xử lý theo quy định.
Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Lê Anh K1 từ 07 (bảy) tháng đến 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 07 (bảy) tháng đến 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K2 từ 07 (bảy) tháng đến 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 từ 07 (bảy) tháng đến 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Lưu Chí C1 từ 07 (bảy) tháng đến 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
Về hình phạt bổ sung: Nhận thấy, bị cáo T là người có tiền án chưa được xóa án tích nay lại tái phạm, bị cáo K1 là người làm cái lắc cho nhiều người tham gia đánh bạc nên đề nghị Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, phạt tiền đối với bị cáo T và K1 mỗi bị cáo từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng; các bị cáo C1, Châu, Huyện, mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 17.470.000 đồng dùng vào việc đánh bạc.
- Tịch thu tiêu hủy: 04 bộ xí ngầu (12 hột); 01 nắp nhựa hình tròn quấn băng keo màu xanh; 01 chén bằng sành màu trắng; 17 miếng kim loại hình tròn có lỗ; 01 tấm nhựa màu trắng có ghi chữ “Hột Kê Hòa L3 Hột Ăn Thua” và chữ “TÀI XỈU”, có các ô nhỏ đánh số thứ tự bên trong từ 4 đến 17.
- Trả lại cho Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12 màu xanh và số tiền 67.000.000 đồng, nhưng tiếp tục tạm giữ tài sản để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại Lê Anh K1 01 xe mô tô, loại xe Dream II, màu đỏ đen, số khung: C100ME8037092, số máy: C100ME8037092, (gắn biển số 67L1-xxxxx của xe khác), nhưng tiếp tục tạm giữ xe mô tô để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại Lưu Chí C1 01 điện thoại di động nhãn hiệu POVA màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu REMI màu đen và 01 xe mô tô biển số 68K1-xxxxx, loại xe Sirius, màu trắng đen, số khung: RLCS5C630BY573571, số máy: 5C63-573576, nhưng tiếp tục tạm giữ tài sản để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại Nguyễn Duy K2 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31 màu xanh bạc và 01 xe mô tô biển số 94K1-xxxxx, loại xe Wave RSX, màu đen đỏ, số khung: RLHJA311XEY201312, số máy: JA31E0361532, nhưng tiếp tục tạm giữ tài sản để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại Nguyễn Văn H1 01 xe mô tô biển số 68D1-xxxxx, loại xe Sirius, màu xanh đen, số khung: RLCS5C6H0FY157634, số máy: 5C6H157643, nhưng tiếp tục tạm giữ xe mô tô để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại Nguyễn Văn C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A52 màu đen và 01 xe mô tô biển số 67N1-xxxxx, loại xe FUTURE X F1, màu đen xám, số khung: RLHJC3509AY216096, số máy: JC45E0050892, nhưng tiếp tục tạm giữ tài sản để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại Nguyễn Văn Đ1 số tiền 2.870.000 đồng.
- Trả lại Đinh Văn S số tiền 200.000 đồng.
Đối với số tiền thu lợi bất chính 700.000 đồng trong khoảng thời gian từ ngày 24-4-2023 đến ngày 26-4-2023 của Nguyễn Văn T, buộc bị cáo giao nộp để sung vào ngân sách Nhà nước.
Riêng, 01 máy điện thoại OPPO A96 màu đen, 01 máy điện thoại Iphone 8 màu đỏ và 01 xe mô tô biển số 66M1-xxxxx, loại xe C110, màu đen, số máy: 215423, số khung 115423; số tiền 11.200.000 đồng thu giữ của T5 và N4 đã chuyển để xử lý trong vụ án khác theo quyết định tách vụ án hình sự số 07 ngày 15-12-2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T nên không xem xét.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án.
Từ đó, có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 27-4-2023, các bị cáo Nguyễn Văn T, Lê Anh K1, Nguyễn Văn C, Nguyễn Duy K2, Lưu Chí C1, Nguyễn Văn H1 đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép với hình thức lắc tài xỉu được thua bằng tiền tại nhà của T thuộc ấp N, xã L, huyện T thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, số tiền đánh bạc trên chiếu bạc là 9.300.000 đồng; tiền dùng đánh bạc trên người của K1 3.000.000 đồng, C 280.000 đồng, K2 100.000 đồng, C1 270.000 đồng, H1 1.320.000 đồng, T5 2.200.000 đồng và N4 1.000.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự, nên Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
Đối với Nguyễn Văn T5 và Nguyễn Thanh N4 đã bỏ trốn, cơ quan điều tra đã khởi tố, truy nã và quyết định tách vụ án, khi bắt được sẽ xử lý sau.
[3] Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nhận thấy: Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng và cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự khác, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống bình thường và phát triển kinh tế của xã hội.
Xét về nhân thân của các bị cáo, nhận thấy bị cáo Nguyễn Văn T có tiền án về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” chưa được xóa án tích nay lại tái phạm, bị cáo khởi xướng và sử dụng nhà cho các bị cáo khác đánh bạc để thu lợi; bị cáo C1 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh K xử phạt hành chính 400.750.000 đồng về hành vi “Vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên” chưa chấp hành nộp phạt; bị cáo K1 là người làm cái lắc cho nhiều người tham gia, các bị cáo còn lại đều tham gia tích cực. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, vai trò của từng bị cáo, cần thiết cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian, để có điều kiện giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân tốt, biết tôn trọng pháp luật, có ích cho xã hội, đồng thời cũng nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng các bị cáo K1, Châu, Huyện được áp dụng thêm tình tiết phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Ngày 21-9-2021, bị cáo T bị Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xử phạt 02 năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03-12-2022, chưa được xóa án tích nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Các bị cáo còn lại không bị áp dụng tình tiết tăng nặng.
Đối với Nguyễn Văn T5, Nguyễn Thanh N4 bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã khởi tố, truy nã và quyết định tách vụ án, khi bắt được sẽ xử lý theo quy định.
[5] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, cần phải áp dụng hình phạt tiền bổ sung theo mức đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.
[6] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Đối với số tiền thu giữ trên chiếu bạc và tiền các bị cáo mang theo để sử dụng đánh bạc, tổng cộng 17.470.000 đồng, đây là tiền sử dụng làm công cụ phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với 04 bộ xí ngầu (12 hột); 01 nắp nhựa hình tròn quấn băng keo màu xanh; 01 chén bằng sành màu trắng; 17 miếng kim loại hình tròn có lỗ; 01 tấm nhựa màu trắng có ghi chữ “Hột Kê Hòa L3 Hột Ăn Thua” và chữ “TÀI XỈU”, có các ô nhỏ đánh số thứ tự bên trong từ 4 đến 17, đây là vật chứng không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền thu giữ của bị cáo T 67.000.000 đồng, Nguyễn Văn Đ1 2.870.000 đồng, Đinh Văn S 200.000 đồng. Qua điều tra xác định không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo T, ông Đ1, ông S là có căn cứ.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12 màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu POVA màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu REMI màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31 màu xanh bạc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A52 màu đen thu giữ của các bị cáo T, C1, K2, C. Qua điều tra, xác định không liên quan đến vụ án nên trả lại cho các bị cáo.
Đối với xe mô tô biển số 68K1-xxxxx, loại xe Sirius, màu trắng đen, số khung: RLCS5C630BY573571, số máy: 5C63-573576; xe mô tô biển số 94K1-xxxxx, loại xe Wave RSX, màu đen đỏ, số khung: RLHJA311XEY201312, số máy: JA31E0361532; xe mô tô loại xe Dream II, màu đỏ đen, số máy: C100ME8037092; số khung C1000ME8037092 (gắn biển số 67L1-xxxxx của xe khác); xe mô tô biển số 67N1-xxxxx, loại xe FUTURE X F1, màu đen xám, số khung: RLHJC3509AY216096, số máy: JC45E0050892; xe mô tô biển số 68D1-xxxxx, loại xe Sirius, màu xanh đen, số khung: RLCS5C6H0FY157634, số máy: 5C6H157643. Qua điều tra xác định thuộc quyền sở hữu của các bị cáo C1, K2, Khoa, C3, H1 nên trả lại cho các bị cáo.
Đối với số tiền thu lợi 700.000 đồng mà bị cáo T khai nhận đã sử dụng nhà cho người khác đánh bạc trong khoảng thời gian từ ngày 24-4-2023 đến ngày 26-4-2023, đây là tiền thu lợi bất chính buộc bị cáo giao nộp để sung vào ngân sách Nhà nước.
Riêng, 01 máy điện thoại OPPO A96 màu đen, 01 máy điện thoại Iphone 8 màu đỏ và 01 xe mô tô biển số 66M1-xxxxx, loại xe C110, màu đen, số máy: 215423, số khung 115423; số tiền 11.200.000 đồng thu giữ của T5 và N4 đã chuyển để xử lý trong vụ án khác theo quyết định tách vụ án hình sự số 07 ngày 15-12-2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T nên không xem xét.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Lê Anh K1, Nguyễn Văn C, Nguyễn Duy K2, Lưu Chí C1 và Nguyễn Văn H1 phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị tạm giam, ngày 18-9-2023.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt Lưu Chí C1 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được khấu trừ 39 (Ba mươi chín) ngày bị bắt tạm giam (từ ngày 18-9-2023 đến 27-10-2023).
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt Lê Anh K1 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được khấu trừ 39 (Ba mươi chín) ngày bị bắt tạm giam (từ ngày 18-9-2023 đến 27-10-2023).
Xử phạt: Nguyễn Văn C 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị tạm giam, ngày 18-9-2023.
Xử phạt: Nguyễn Duy K2 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị tạm giam, ngày 18-9-2023.
Xử phạt: Nguyễn Văn H1 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị tạm giam, ngày 18-9-2023.
Căn cứ khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự;
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn T, Lê Anh K1 mỗi bị cáo số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng); phạt các bị cáo Lưu Chí C1, Nguyễn Văn C, Nguyễn Duy K2, Nguyễn Văn H1 mỗi bị cáo số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ Luật hình sự và Điều 106 Bộ Luật tố tụng Hình sự;
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 17.470.000 đồng (mười bảy triệu bốn trăm bảy mươi nghìn đồng).
Tịch thu tiêu hủy 04 bộ xí ngầu (12 hột); 01 nắp nhựa hình tròn quấn băng keo màu xanh; 01 chén bằng sành màu trắng; 17 miếng kim loại hình tròn có lỗ; 01 tấm nhựa màu trắng có ghi chữ “Hột Kê Hòa L3 Hột Ăn Thua” và chữ “TÀI XỈU”, có các ô nhỏ đánh số thứ tự bên trong từ 4 đến 17.
Trả lại cho Nguyễn Văn T số tiền 67.000.000 đồng (sáu mươi bảy triệu đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12 màu xanh.
Trả lại cho Lê Anh K1 xe mô tô loại xe Dream II, màu đỏ đen, số máy: C100ME8037092; số khung C1000ME8037092 (gắn biển số 67L1-xxxxx của xe khác).
Trả lại cho Lưu Chí C1 01 điện thoại di động nhãn hiệu POVA màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu REMI màu đen và 01 xe mô tô biển số 68K1-xxxxx, loại xe Sirius, màu trắng đen, số khung: RLCS5C630BY573571, số máy: 5C63-573576.
Trả lại cho Nguyễn Duy K2 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31 màu xanh bạc và 01 xe mô tô biển số 94K1-xxxxx, loại xe Wave RSX, màu đen đỏ, số khung: RLHJA311XEY201312, số máy: JA31E0361532.
Trả lại cho Nguyễn Văn H1 01 xe mô tô biển số 68D1-xxxxx, loại xe Sirius, màu xanh đen, số khung: RLCS5C6H0FY157634, số máy: 5C6H157643.
Trả lại cho Nguyễn Văn C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A52 màu đen và 01 xe mô tô biển số 67N1-xxxxx, loại xe FUTURE X F1, màu đen xám, số khung: RLHJC3509AY216096, số máy: JC45E0050892.
Trả lại cho ông Nguyễn Văn Đ1 số tiền 2.870.000 đồng (hai triệu tám trăm bảy mươi nghìn đồng).
Trả lại cho ông Đinh Văn S số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo Nguyễn Văn T nộp lại số tiền thu lợi bất chính 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07-02-2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T).
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Các bị cáo Nguyễn Văn T, Lê Anh K1, Nguyễn Văn C, Nguyễn Duy K2, Lưu Chí C1, Nguyễn Văn H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án về tội đánh bạc số 07/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 07/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Tri Tôn - An Giang |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 28/02/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về