TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
BẢN ÁN 95/2023/HS-PT NGÀY 08/09/2023 VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN
Ngày 08 tháng 9 năm 2023, tại Phòng xét xử trực tuyến, trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, kết nối với điểm cầu thành phần Trại Tạm giam, Công an tỉnh A, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 172/2023/TLPT-HS ngày 16 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2023/QĐXXPT-HS ngày 24 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo Ngô Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2023/HS-ST ngày 04 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
- Bị cáo có kháng cáo:
Ngô Văn T, sinh năm 1982, nơi sinh: tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số F, Tổ 73, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn M (chết) và bà Nguyễn Thị T1 (chết); bị cáo chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thị Tuyết P, có 02 người con sinh năm 2005 và 2008; chung sống như vợ chồng với Lưu Thị Bé L, có 01 người con, sinh năm 2010; tiền sự: không;
Tiền án: Ngày 15 tháng 11 năm 2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 27 tháng 9 năm 2012 chấp hành xong hình phạt tù; ngày 08 tháng 5 năm 2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 18 tháng 12 năm 2015 chấp hành xong hình phạt tù; ngày 18 tháng 8 năm 2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 02 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 09 tháng 8 năm 2018 chấp hành xong hình phạt tù.
Ngày 30 tháng 11 năm 2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết tăng nặng định khung “tái phạm nguy hiểm”, đến ngày 10 tháng 8 năm 2021 chấp hành xong hình phạt tù;
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 21 tháng 11 năm 2022 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo Ngô Văn T: Ông Lương Minh H - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A; địa chỉ: Số H L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Phương T2, sinh năm 1998; đăng ký thường trú: Số A L, khóm F, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; Tạm trú: Hẻm A đường H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Đặng Trần T3, sinh năm 1997; đăng ký thường trú: Số H, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang;
nơi ở hiện nay: Khạch sạn Trịnh Thanh V, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ ngày 21 tháng 11 năm 2022, T đi qua nhà trọ P1 ở khóm Đ, phường M, thành phố L thấy nhà trọ không đóng cửa rào nên nảy sinh ý định vào trong lấy trộm tài sản. T vào phòng số 5 của chị Nguyễn Thị Phương T2 thấy cửa sổ mở nên đưa tay vào mở chốt cửa chính vào phòng lấy 01 chai nước hoa hiệu Burberrry, 01 đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Casio, 01 đôi dép hiệu hiệu Martens bỏ vào túi nylon màu vàng. Sau đó, T lên gác lửng tiếp tục tìm tài sản lấy trộm thì thấy chị T2 đang ngủ trên nệm, cạnh nệm có để 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max đang ghim sạc. T đến lấy điện thoại này rồi đến bàn trang điểm lấy 01 chai nước hoa hiệu Roberto Cavalli và gây tiếng động nên chị T2 thức dậy. Thấy T, chị T2 la lên nên T đi xuống cầu thang. Chị T2 đứng trên cầu thang thì T chỉ tay về phía chị T2 đe dọa “mày la tao giết mày” và đi xuống tầng trệt. Khi đến cửa phòng trọ T dừng lại bảo chị T2 phải đưa tiền cho T. Do lo sợ bị giết nên chị T2 lấy 260.000 đồng đưa cho T. T nhận tiền và cầm theo những tài sản trên ra khỏi phòng trọ thì chị T2 tri hô cướp nhưng không có người ra trợ giúp. Sau đó, chị T2 đến Công an phường M trình báo.
Đến 16 giờ ngày 21 tháng 11 năm 2022, Công an phường M sử dụng chức năng định vị trên điện thoại Iphone của chị T2 phát hiện điện thoại này đang ở tiệm game bắn cá gần khu vực cầu C, phường M nên đến đây thì phát hiện T đang ngồi xem chơi game, bên cạnh có túi nylon bên trong có điện thoại, đôi dép và 02 chai nước hoa nên mời T về Công an phường M làm việc. Tại đây, T khai nhận đã thực hiện hành vi chiếm đoạt các tài sản của chị T2 như nêu trên.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 điện thoại Iphone 11 Pro max có gắn ốp lưng, 01 sim điện thoại 0925.442.978, 01 chai nước hoa hiệu Burberry, 01 chai nước hoa hiệu Roberto Cavalli, 01 đôi dép hiệu Martens, 160.000 đồng.
Kết luận về việc xác định giá trị tài sản số 272 ngày 23 tháng 11 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L xác định: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max 64GB trị giá 10.454.000 đồng; 01 dép quai kẹp nam, nhãn hiệu Martens size 39 giá 556.000 đồng; 01 chai nước hoa hiệu Burberry London trị giá 100.000 đồng; 01 chai nước hoa hiệu R trị giá 800.000 đồng; 01 đồng hồ hiệu Casio không thu hồi được, không xác định được model, thông số kỹ thuật, nguồn gốc xuất xứ nên không có cơ sở xác định trị giá tài sản.
Tại Bản án số 78/2023/HS-ST ngày 04 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt bị cáo Ngô Văn T 08 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo điểm h khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo.
Ngày 17/7/2023 bị cáo Ngô Văn T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội “Cướp tài sản” như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử; bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do hoàn cảnh gia đình có con còn nhỏ, bị cáo là lao động chính trong gia đình.
- Người bào chữa cho bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo do bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn có 03 con nhỏ đang sống với bị cáo. Tại phiên tòa, bị cáo cũng đã có thái độ ăn năn, hối cải đối với hành vi phạm tội của mình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu quan điểm:
+ Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Bị cáo Ngô Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt là trong hạn luật định, về hình thức và nội dung kháng cáo phù hợp quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, giữ nguyên bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo 08 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo điểm h khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai của bị cáo Ngô Văn T tại phiên toà thừa nhận vào sáng ngày 21/11/2022, đã thực hiện hành vi đột nhập vào phòng trọ, chiếm đoạt tài sản của bị hại chị Nguyễn Thị Phương T2 gồm: 01 điện thoại Iphone 11 Pro max có gắn ốp lưng, 01 sim điện thoại 0925.442.978, 01 chai nước hoa hiệu Burberry, 01 chai nước hoa hiệu Roberto Cavalli, 01 đôi dép hiệu Martens. Khi bị chị T2 phát hiện, bị cáo dùng lời nói đe dọa chị T2: “Mày la tao giết mày” làm cho chị T2 lo sợ bị giết nên không dám tri hô. Bị cáo đã chiếm đoạt số tài sản trên của chị T2 và tiếp tục kêu chị T2 đưa tiền để đi xe, do lo sợ chị T2 đã đưa cho bị cáo 260.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo là người có nhiều tiền án, đã bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử nhiều lần về tội Trộm cắp tài sản. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 159/2018/HSST ngày 30/11/2018, bị cáo bị tuyên phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, chưa được xóa án tích, lại tiếp tục phạm tội mới. Hành vi phạm tội của bị cáo là tái phạm nguy hiểm, Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử, áp dụng hình phạt đối với bị cáo theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo thấy rằng, Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét về nhân thân, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi theo điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Mức hình phạt Toà án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo 08 năm tù là trong khung hình phạt. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào khác. Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm, đề nghị xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giảm một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn có con còn nhỏ, bị cáo là lao động chính nhưng xét về nhân thân, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nhiều lần bị kết án về cùng tội trộm cắp tài sản, sau khi chấp hành xong hình phạt tù lại tiếp tục phạm tội với tính chất nguy hiểm cao hơn cho thấy bị cáo chưa thể hiện sự ăn năn, hối cải và lời trình bày của bị cáo là lao động chính , đang nuôi con nhỏ là không có căn cứ. Các mức hình phạt mà Tòa án thành phố L đã áp dụng chưa đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo. Do đó, việc áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo là cần thiết để đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa tội phạm. Quan điểm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo là có căn cứ. Xét không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
3] Về án phí hình sự phúc thẩm, do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Văn T về việc xin giảm nhẹ hình phạt.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2023/HS-ST ngày 04/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Cướp tài sản”.
Căn cứ vào điểm h khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Ngô Văn T 08 (tám) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam:
21/11/2022.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Ngô Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2023/HSST ngày 04/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tội cướp tài sản số 95/2023/HS-PT
| Số hiệu: | 95/2023/HS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân An Giang |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 08/09/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về