TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 314/2023/HS-ST NGÀY 06/07/2023 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN
Trong ngày 06/7/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, số A đường N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 378/2023/HSST ngày 23/5/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 2500/2023/QĐXXST-HS ngày 08/6/2023, Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 8445/HSST/TB ngày 29/6/2023 đối với các bị cáo:
1.Họ và tên: Đàm Trần Anh S; giới tính: nam; sinh 09/8/2002 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú, nơi cư trú: 670/59/18/3 đường Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: không; con ông Hoàng Đ (chết) và bà Đàm Thị C; chưa có vợ con;
Tiền sự: không; Tiền án:
- Ngày 14/6/2018, có hành vi cướp giật tài sản; ngày 19/11/2018, bị Tòa án nhân dân Quận 4 xử phạt 01 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm tính từ ngày 19/11/2018 (bản án số 98/2018)(bl.174);
- Ngày 28/12/2018, có hành vi cướp giật tài sản; ngày 20/5/2019, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; tổng hợp hình phạt 01 năm tù theo bản án số 98/2018 của Tòa án nhân dân Quận 4, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 04 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2018 (bản án số 163/2019/HS-ST); bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 19/12/2021 do được giảm án (bl.183).
Bắt, tạm giữ: 02/10/2022; Tạm giam: 08/10/2022;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2.Họ và tên: Trần Văn S1; giới tính: nam; sinh năm 2002 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú, nơi cư trú: 266/40/9/58 đường T, Phường H, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh tôn giáo: không; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: bán hàng rong; con ông Huỳnh Văn H và Trần Thị Ngọc T; chưa có vơ con;
Tiền án, tiền sự: không; Bắt, tạm giữ: 02/10/2022; Tạm giam: 08/10/2022;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông UMURZAKHOV A1; sinh năm 1991; quốc tịch Kazakhstan; nghề nghiệp: Bí thư thứ 3 Đại sứ quán K tại Việt Nam); nơi cư trú: Số A đường Đ, quận T, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1.Bà Trần Anh T1; sinh năm 2000; nơi đăng ký thường trú: 46/4 ấp V, xã Đ, huyện T, tỉnh Bế Tre; nơi cư trú: 31/359 khu dân cư P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
2.Ông Đàm Trần Anh Q; sinh năm 1995; nơi cư trú: 670/59/18/3 đường Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 45 phút ngày 01/10/2022, bị cáo Trần Văn S1 điều khiển xe mô-tô Honda Vision, biển số 71C3-xxxxx chở bị cáo Đàm Trần Anh S từ Quận A đến Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Trên đường đi, S nhìn thấy ông U ALIMZHAN cùng vợ là bà UMURZAKHOVA ARUZHAN (Quốc tịch K) đang đi bộ ở khu vực trước nhà số B đường M, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, trên tay ông UMURZAKHOV A1 (ông U) cầm 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu xanh, loại 256GB. S rủ S1 cướp giật điện thoại của ông U, S1 đồng ý. Sau đó, S1 quay đầu xe, chạy áp sát ông U, S dùng tay trái giật chiếc điện thoại của ông U, S1 tăng ga xe tẩu thoát theo hướng ra đường H, qua cầu K, rồi về nhà S ở Quận D. Tại đây, S1 và S nhờ anh Đàm Trần Anh Q (anh ruột của S) bán chiếc điện thoại vừa cướp giật được. Anh Q hỏi S về nguồn gốc chiếc điện thoại thì S nói nhặt được ở phố đi bộ Nguyễn H1.
Khoảng 10 giờ ngày 01/10/2022, anh Q nhờ một phụ nữ tên H2 (không rõ lai lịch) bán điện thoại. Hạo bán cho một đối tượng tên “Thái” (không rõ lai lịch) với giá 7.000.000đ và giao tiền lại cho anh Q. Anh Q cho H2 300.000đ, còn 6.700.000đ thì đưa cho S. Sang chia cho S1 3.000.000đ, S hưởng 3.700.000đ. S và S1 đã sử dụng hết số tiền vừa nêu cho bản thân.
Sau khi bị cướp giật điện thoại, ông U đến Công an phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh trình báo sự việc Qua tiến hành truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 đã ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với S và S1.
Sau khi biết được chiếc điện thoại di động mà S nhờ bán là tài sản do phạm pháp mà có, anh Q đã yêu cầu H2 đi chuộc lại chiếc điện thoại và giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 (bl.132).
Tại Công an phường B, Quận A và trong quá trình điều tra, S và S1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã được nêu ở phần trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số 8893/KL-HĐĐGTS ngày 16/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự cấp Thành phố thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố H, kết luận: Giá trị ước tính của 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max 256GB, màu xanh, mua tháng 10/2020, đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 01/10/2022 là 17.777.667đ; tính tròn là 17.778.000đ (bl.162-163).
Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 đã giao trả lại cho ông UMURZAKHOV chiếc điện thoại đã đề cập; ông U cho biết không có yêu cầu gì đối với các bị cáo (bl.71, 72).
Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 thu giữ một số vật chứng như sau:
Thu giữ của S1:
-01 xe mô-tô hiệu Honda loại Vision biển số 71C3-xxxxx;
-01 điện thoại di động iphone 11 promax, IMEI: 353904107820694, đã qua sử dụng;
-01 áo sơ mi tay dài màu đen, đã qua sử dụng;
-01 mũ bảo hiếm màu nâu, đã qua sử dụng;
-01 đôi dép nhựa màu trắng, đã qua sử dụng.
Thu giữ của S:
- 01 đôi dép xỏ ngón màu màu nâu, có quai màu đen, đã qua sử dụng;
- 01 áo thun ngắn tay màu trắng, đã qua sử dụng;
- 01 áo mưa cánh dơi màu vàng, đã qua sử dụng;
- 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh, đã qua sử dụng.
Thu thập dữ liệu hình ảnh (bl.60): 01 file video (có tên “cgts tại số 02 mạc thị bưởi 01.10.2022”, dung lượng khoảng 90.7MB, thời lượng khoảng 13 phút 59 giây) do camera của khách sạn H3 3, số 4-6-8 đường M, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh ghi lại được hình ảnh liên quan đến vụ án, được lưu giữ trong 01 đĩa DVD hiệu Maxell màu vàng (đã được niêm phong có chữ ký của Nguyễn Hoàng A và hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1).
Tại bản Cáo trạng số 263/CT-VKS-P2 ngày 12/5/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Đàm Trần Anh S về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật hình sự); truy tố Trần Văn S1 về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu.
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội như sau:
Căn cứ lời khai của các bị cáo, kết quả giám định, các tài liệu, chứng cứ thu thập được, có đủ cơ sở để xác định truy tố của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử kết án các bị cáo theo toàn bộ nội dung Cáo trạng:
Căn cứ điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đàm Trần Anh S 05 (năm) 06 (sáu) tháng về tội “Cướp giật tài sản”.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Văn S1 03 (ba) năm về tội “Cướp giật tài sản”.
Về các biện pháp tư pháp: Giao trả lại chiếc xe cho chị T1; xử lý các vật chứng còn lại theo quy định.
Các bị cáo không có ý kiến bào chữa mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng, cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ để các bị cáo được sớm trở về đoàn tụ với gia đình
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2].Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, kết quả giám định, lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, có căn cứ để xác định: Khoảng 00 giờ 45 phút ngày 01/10/2022, ở khu vực trước nhà số B M, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Văn S1 và Đàm Trần Anh S đã có hành vi sử dụng xe mô-tô làm phương tiện thực hiện việc cướp giật chiếc điện thoại di động của ông U có trị giá 17.778.000đ, trong khi ông U đang đi bộ và cầm điện thoại trên tay.
[3].Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo là những người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là sai trái nhưng vì động cơ vụ lợi nên vẫn cố ý vi phạm.
[4].Hành vi chạy xe mô-tô trên đường giao thông và cướp giật tài sản của người khác được xác định là dùng “thủ đoạn nguy hiểm”, bởi lẽ khi thực hiện hành vi phạm tội và khi tẩu thoát, người phạm tội có thể xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của người bị hại và người khác đang tham gia giao thông.
[5].Vào ngày 19/11/2018, bị cáo S đã bị Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” nhưng cho hưởng án treo. Ngay sau khi bị xét xử hơn 01 tháng thì bị cáo lại tiếp tục cướp giật tài sản của người khác nên ngày 20/5/2019, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự (là tội phạm rất nghiêm trọng); tổng hợp hình phạt 01 năm tù theo bản án của Tòa án nhân dân Quận 4, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 04 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2018 (bản án 163/2019/HS-ST). Trong khi án tích vừa nêu chưa được xóa thì bị cáo lại tiếp tục gây án, phạm vào tội rất nghiêm trọng. Do vậy, lần phạm tội này của S được xác định thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”.
[6].Căn cứ vào các nhận định đã nêu, đối chiếu với quy định của pháp luật, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Trần Văn S1 đã phạm tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự; bị cáo Đàm Trần Anh S phạm tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[7].Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt cần áp dụng đối với các bị cáo:
Trong vụ án, S là người rủ rê, khởi xướng việc phạm tội; mặt khác, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp có 02 tình tiết quy định tại khoản 2 Điều 171. Do vậy, mức độ nguy hiểm của hành vi của S là cao hơn so với hành vi của S1.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã được thu hồi giao trả lại cho người bị hại. Do vậy, cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; đặc điểm nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, cần áp dụng hình phạt tương xứng với bị cáo.
[6].Về các biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 585 Bộ luật dân sự, xử lý như sau:
Ghi nhận theo hồ sơ vụ án việc ông UMURZAKHOV A1 đã nhận lại tài sản bị mất và không có yêu cầu gì đối với các bị cáo.
Đối với 01 xe mô-tô hiệu Honda loại Vision biển số 71C3-xxxxx thu giữ của S1: Kết quả điều tra xác định được xe có số khung là 5831JY061326, số máy là JF86E2061365; xe thuộc quyền sở hữu của chị Trần Anh T1 (người sống chung với bị cáo S1); chị T1 đưa xe cho S1 sử dụng đi làm và không biết việc S1 sử dụng xe làm phương tiện cướp giật. Do vậy, cần trả lại chiếc xe cho chị T1.
Đối với 01 đĩa DVD hiệu Maxell bên trong có chứa dữ liệu hình ảnh liên quan đến vụ án: Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Đối với 01 (một) điện thoại di động iphone 11 promax thu giữ của S1: Không có căn cứ để xác định có liên quan đến tội phạm. Do vậy, cần giao trả cho bị cáo S1.
Đối với những vật còn lại: Là trang phục của các bị cáo, trong đó có một số được các bị cáo mặc khi gây án; không còn sử dụng được, các bị cáo cũng không yêu cầu lấy lại. Do vậy, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với việc anh Q sử dụng tiền cá nhân chuộc lại điện thoại giao nộp cho cơ quan điều tra. Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra có tiến hành lấy lời khai anh Q nhưng chưa ghi nhận đầy đủ ý kiến của anh Q liên quan đến việc giải quyết sự việc đã nêu; mặt khác, anh Q vắng mặt tại phiên tòa. Do vậy, phần dân sự liên quan đến anh Q sẽ được giải quyết sau theo trình tự tố tụng dân sự nếu có yêu cầu.
[7].Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1.Căn cứ điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Xử phạt bị cáo Đàm Trần Anh S 05 (năm) 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày 02/10/2022, 2.Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Xử phạt bị cáo Trần Văn S1 03 (ba) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày 02/10/2022, 3.Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 585 Bộ luật dân sự năm 2015, Ghi nhận theo hồ sơ vụ án việc ông Umurzakhov A1 đã nhận lại tài sản bị các bị cáo chiếm đoạt và không có yêu cầu gì đối với các bị cáo.
Phần dân sự liên quan đến anh Đàm Trần Anh Q sẽ được giải quyết theo trình tự tố tụng dân sự nếu anh Q có yêu cầu.
Giao trả cho chị Trần Anh T1: 01 xe hai bánh gắn máy; nhãn hiệu: Honda; số loại: Vision; dung tích xi lanh: 108.2; biển số 71C3-xxxxx; số khung: RLHJF5831JY061326 ; số máy: JF86E2061365 (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra).
Giao trả cho bị cáo Trần Văn S1 01 điện thoại kiểu dáng Iphone (không kiểm tra imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) áo sơ mi tay dài màu đen, đã qua sử dụng;
- 01 (một) áo thun ngắn tay màu trắng, đã qua sử dụng;
- 01 (một) áo mưa cánh dơi màu vàng, đã qua sử dụng;
- 01 (một) mũ bảo hiểm màu nâu, đã qua sử dụng;
- 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh, đã qua sử dụng.
- 01 (một) đôi dép nhựa màu trắng, đã qua sử dụng;
- 01 (một) đôi dép xỏ ngón màu nâu, có quai màu đen, đã qua sử dụng;
Các vật chứng đã nêu hiện đang được lưu giữ tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2023/299 ngày 23/5/2023 được lập giữa Cục thi hành án Thành phố Hồ Chí Minh và PC01- Công an Thành phố H.
4.Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5.Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án về tội cướp giật tài sản số 314/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 314/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 06/07/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về