Bản án về tội cướp giật tài sản số 20/2023/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 20/2023/HS-ST NGÀY 03/03/2023 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Ngày 03 tháng 3 năm 2023 tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 71/2022/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Xuân T (tên gọi khác: B M) sinh năm: 1989 tại Thành phố H; Hộ khẩu thường trú: 88/21 BHTQ, Phường 9, Quận B, TP H; Chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân L và bà Phạm Thị Thu H; vợ: Bùi Thị Kim T1 (có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2021); tiền sự: không; tiền án: 01. Bản án số 38/2017/HSST ngày 21/7/2017 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xử 05 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Nhân thân: Bản án số 142/2012/HSPT ngày 28/9/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; bị bắt phạm tội quả tang ngày 13/5/2022; tạm giữ ngày 14/5/2022; tạm giam ngày 17/5/2022 tại Nhà tạm giữ Công an quận Phú Nhuận (có mặt).

Người bị hại: Bà Nguyễn Thị V sinh năm: 1978 HKTT: Tổ 6 Khu phố 3, phường TĐ, TP ĐX, tỉnh BP. (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Nguyễn Thị Hồng N sinh năm 1977. HKTT: 2291C, Khu phố 1, phường PN, TP B, tỉnh BRVT (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 00 ngày 13/5/2022, Trần Xuân T chạy xe máy trên đường Huỳnh Văn Bánh, Phường 11, quận Phú Nhuận thì nhìn thấy bà Nguyễn Thị V và bà Trần Thị H đang đi bộ hướng từ cây xăng Nguyễn Văn Trỗi qua đường Huỳnh Văn Bánh, Phường 11, quận Phú Nhuận, trên cổ bà V có đeo 01 sợi dây chuyền vàng. T điều khiển xe đi ngang qua bà V khoảng 20 mét rồi vòng xe lại chạy ngược chiều, áp sát vào bên trái bà V, dùng tay trái giật đứt sợi dây chuyền làm dây rơi xuống đất. T cầm mặt dây chuyền vừa giật được rồi bỏ chạy đến ngã tư Nguyễn Văn Trỗi - Huỳnh Văn Bánh thì bị Cảnh sát tuần tra Công an quận Phú Nhuận phát hiện truy đuổi, bắt giữ được T cùng tang vật và tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang.

Tại Cơ quan điều tra, T khai nhận: Do cần tiền tiêu xài nên khoảng 9 giờ 00 phút ngày 13/5/2022, T điều khiển xe máy hiệu Yamaha Sirius màu đen, biển số 72N1-X chạy từ Thành phố Thủ Đức rồi đi qua nhiều tuyến đường để tìm ai có tài sản sơ hở thì cướp giật. Khi T đi đến đường Huỳnh Văn Bánh gần cây xăng Nguyễn Văn Trỗi thì thấy bà V và bà H đang đi bộ băng qua đường, trên cổ bà V đeo 01 sợi dây chuyền vàng, T liền nảy sinh ý định cướp giật và đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Vật chứng của vụ án:

- 01 sợi dây chuyền vàng và 01 mặt dây chuyền vàng;

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A71 màu xanh ngọc bích, số Imei: 353408117796597; 353409117796595; 01 túi ba lô đeo chéo màu đen;

- 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius, màu đen, biển số 72N1-X, số khung: C6308Y087150, số máy: 5C63087150.

Theo Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Phú Nhuận ngày 25/5/2022 thì 01 dây chuyền vàng 18K, trọng lượng 11,06 gram trị giá 9.700.000 (chín triệu bảy trăm ngàn) đồng; mặt dây chuyền vàng 18K, trọng lượng 3,8 gram, trị giá 3.300.000 (ba triệu ba trăm ngàn) đồng. Tổng cộng 13.000.000 (mười ba triệu) đồng.

Tại Bản cáo trạng số 02/CT-VKSPN ngày 15/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận đã truy tố bị cáo Trần Xuân T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận sau khi phân tích nội dung vụ án, những tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 13/5/2022, bị cáo T đã có hành vi cướp giật tài sản với tính chất dùng thủ đoạn nguy hiểm, ngoài ra tại thời điểm phạm tội bị cáo có 01 tiền án về tội “Cướp giật tài sản” chưa được xóa án nên thuộc trường hợp định khung hình phạt là tái phạm nguy hiểm. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 06 (sáu) năm đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: người bị hại nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A71 màu xanh ngọc bích và 01 túi ba lô đeo chéo màu đen: Không phải là vật chứng của vụ án nên đề nghị trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius, màu đen, biển số 72N1-X, số khung: C6308Y087150, số máy: 5C63087150: Qua xác minh cho thấy xe này do bà Nguyễn Thị Hồng N đứng tên sở hữu. Bà N khai năm 2018 bà N đứng tên xe dùm cho một người bạn không rõ lai lịch. Bị cáo khai vào tháng 3/2022, bị cáo mua chiếc xe này từ một người đàn ông không rõ lai lịch với giá 5.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã cho đăng báo nhưng chưa xác định được chủ sở hữu. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục cho đăng báo một thời gian để xác định chủ sở hữu hợp pháp, nếu không xác định được chủ sở hữu hợp pháp thì sung quỹ nhà nước.

- Bị cáo T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an quận Phú Nhuận, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Các văn bản tố tụng có trong hồ sơ vụ án như bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung... đều được tiến hành theo đúng quy định, tại các bản khai, biên bản hỏi cung và các tài liệu khác bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra là phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của người làm chứng, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đồng thời cũng phù hợp với các biên bản hoạt động điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản ghi lời khai, biên bản thu giữ vật chứng, biên bản xác định địa điểm... cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Với các tình tiết đã được chứng minh tại phiên tòa hôm nay đã có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 13/5/2022, bị cáo điều khiển xe gắn máy và đã có hành vi cướp giật tài sản của bà Nguyễn Thị V là 01 sợi dây chuyền và mặt dây chuyền có giá trị 13.000.000 (mười ba triệu) đồng. Như vậy, bị cáo phạm tội với tính chất dùng thủ đoạn nguy hiểm, ngoài ra tại thời điểm phạm tội bị cáo còn có 01 tiền án về tội “Cướp giật tài sản” chưa được xóa án tích là thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3]. Hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong tình hình nạn cướp giật đang ngày càng gia tăng với nhiều thủ đoạn nguy hiểm. Do đó, cần phải xử lý thật nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Tiếp tục cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để giáo dục cải tạo bị cáo thành công dân tốt.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo khi lượng hình.

[5]. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng trong vụ án:

- Đối với 01 sợi dây chuyền vàng và 01 mặt dây chuyền vàng: Người bị hại bà Nguyễn Thị V đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A71 màu xanh ngọc bích;

01 túi ba lô đeo chéo màu đen: Không phải là vật chứng của vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius, màu đen, biển số 72N1-X, số khung: C6308Y087150, số máy: 5C63087150: Qua xác minh cho thấy xe này do bà Nguyễn Thị Hồng N đứng tên sở hữu. Bà N khai năm 2018 bà đứng tên xe dùm cho một người bạn không rõ lai lịch. Bị cáo T khai vào tháng 3/2022, bị cáo mua chiếc xe này từ một người đàn ông không rõ lai lịch với giá 5.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã cho đăng báo nhưng chưa xác định được chủ sở hữu. Nhận thấy, do chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên cần tiếp tục cho đăng báo trong một thời hạn nhất định, nếu không xác định được chủ sở hữu hợp pháp thì sung quỹ nhà nước.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo không có nghề nghiệp nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Xuân T (tên gọi khác: B M) phạm tội “Cướp giật tài sản”.

- Căn cứ điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Trần Xuân T (tên gọi khác: B M) 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/5/2022.

- Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A71 màu xanh ngọc bích, số Imei: 353408117796597; 353409117796595 và 01 túi ba lô đeo chéo màu đen.

Giao 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius, màu đen, biển số 72N1-X, số khung: C6308Y087150, số máy: 5C63087150 cho cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận thông báo tìm kiếm chủ sở hữu trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng, hết thời hạn trên mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đến nhận xe thì sung quỹ nhà nước.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

39
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội cướp giật tài sản số 20/2023/HS-ST

Số hiệu:20/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Phú Nhuận - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 03/03/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về