Bản án về tội cướp giật tài sản số 166/2021/HSST

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 166 /2021/HSST NGÀY 20/07/2021 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Mở phiên tòa công khai vào hồi 9 giờ 00 phút ngày 20 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận H, thành phố H để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 135/2021/HSST ngày 28/5/2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2021/QĐXX- TA ngày 02/7/2021 đối với các bị cáo:

1.KHUẤT KHẮC M, sinh ngày 06/01/2003; HKTT: Tổ dân phố …, thị trấn P, huyện P, TP H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo, Đảng phái: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Vận động viên đội Điền kinh thành phố H; Bố đẻ: Khuất Khắc T, sinh năm 1973; Mẹ đẻ: Lê Thanh H, sinh năm 1977; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/01/2021 đến nay tại Trại tạm giam số 2- Công an thành phố H. Có mặt

2.TRẦN TRUNG H, sinh ngày 11/03/2004; HKTT: … ngách … H., phường L, quận Đ, TP H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: Không; Trình độ văn hóa: 10/12;Nghề nghiệp: Vận động viên đội Đua xe đạp thành phố H; Bố đẻ: Trần Trung H, sinh năm 1972; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Hà T, sinh năm 1973;Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ tạm giam từ ngày 26/1/2021 đến ngày 3/2/2021 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo tại ngoại tại địa phương. Có mặt

* Người đại diện hợp pháp của Trần Trung H Ông Trần Trung H, sinh năm 1972. Có mặt Trú tại: … ngách …. H, phường L, quận Đ, TP H.

* Người bào chữa cho bị cáo Hiếu Bà Nguyễn Thị Kim D – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý thành phố H. Có mặt

*Người bị hại:

Chị Nguyễn Thị Hồng C, sinh năm 1989. Có đơn xin vắng mặt Trú tại: B… Khu đấu giá N, phường L, quận H, TP.H

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan

1.Công ty tài chính TNHH HD S Địa chỉ: Lầu … tòa nhà G, số …. đường P, phường …, quận B, TP. H

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu N – Tổng giám đốc Đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Hải Y- chuyên viên pháp lý tố tụng. Có mặt

2. Bà Lê Thanh H, sinh năm 1977. Có mặt Trú tại: Tổ dân phố …, thị trấn P, huyện P, TP. H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khuất Khắc M, sinh ngày 06/01/2003, HKTT: Cụm …, thị trấn P, huyện P, TP.H và Trần Trung H, sinh ngày 11/3/2004, HKTT: ngách … H, phường L, quận Đ, TP.H đều là học sinh trường THPT năng khiếu thể dục, thể thao H, (Khuất Khắc M là Vận động viên điền kinh, Trần Trung H là vận động viên Đua xe đạp) hiện đang học tập và ở tại Khu ký túc xá vận động viên, tại sân vận động H thuộc phường N, quận H, TP.H.

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 25/01/2021, Khuất Khắc M điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ- đen, không đeo biển kiểm soát phía sau chở Trần Trung H đi từ Khu ký túc xá vận động viên, tại sân vận động H thuộc phường N, quận H, TP.H đến khu vực ngã .. H, phường H, quận H để ăn tối. Khoảng 19 giờ 30 cùng ngày, M điều khiển xe máy chở H đi ra hồ V thuộc khu đô thị V, phường V, quận H với mục đích để uống nước. M điều khiển xe máy chở H đi trên đường …, khi đi đến đoạn lối rẽ vào trường THCS V, phường P, quận H, TP.H, M thấy chị Nguyễn Thị Hồng C đang điều khiển chiếc xe máy, nhãn hiệu Honda AirBlade, sơn màu trắng, BKS 29T1-311.68 đi theo hướng từ trường THCS V đi ra Cầu Đ, quận H, TP. H, trong túi quần phía sau bên trái của chị C để 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IphoneX màu trắng, có ốp lưng màu xanh. Thấy vậy, M nảy sinh ý định giật chiếc điện thoại của chị C. M nói với H “có máy điện thoại kìa, giật không?”, H đồng ý. Thực hiện ý định trên, M và H đi theo chị C, khi chị C điều khiển xe máy đi đến đoạn trước cửa số nhà B..TT…, Khu Đô Thị V thuộc phường P, quận H, TP.H, thấy đoạn đường vắng không có người; M điều khiển xe máy đi áp sát vào bên trái ngang với xe của chị C, H ngồi sau dùng tay phải giật chiếc điện thoại IphoneX để ở túi quần phía sau bên trái của chị C. Sau khi H giật được chiếc điện thoại của chị C, M điều khiển xe máy chở H bỏ chạy. Lúc này, chị C thấy bị giật chiếc điện thoại và hô “ cướp, cướp”, chị C cùng quần chúng nhân dân đuổi theo M và H. Khi M điều khiển xe máy chở H đi đến trước cửa số … phố V thuộc phường P, quận H thì bị quần chúng nhân dân và tổ công tác Đội Cảnh sát hình sự Công an quận H bắt quả tang cùng tang vật gồm: 01(một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda ViSion, sơn màu đỏ, đen, không đeo BKS, số khung 004403, số máy 7004430, đã qua sử dụng; 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, dung lượng 256GB, số Imei: 353040091677335, đã qua sử dụng, là tài sản Khuất Khắc M và Trần Trung H đã chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Hồng C ;

Tại biên bản và kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐĐGTS ngày 27/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng quận H, kết luận: 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, đã qua sử dụng, số Imei 353040091677335, dung lượng 256GB, có giá trị là 7.200.000 đồng Với hành vi trên, Cáo trạng số 138/CT-HS ngày 28/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận H truy tố Khuất Khắc M, Trần Trung H về tội Cướp giật tài sản theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, các bị cáo M, H đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo Người đại diện hợp pháp của bị cáo H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho cháu H được hưởng mức hình phạt thấp nhất vì các cháu ít tuổi nên thiếu hiểu biết, các cháu thực hiện hành vi phạm tội là do bột phát, dại dột cũng một phần do gia đình chưa sát sao, giáo dục bởi các cháu đang đi học tập trung. Do đây là lần đầu tiên các cháu phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các cháu hưởng mức hình phạt thấp nhất có thể.

Người bào chữa cho bị cáo H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho cháu H bởi tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội cháu H mới được 16 tuổi, ở lứa tuổi này các cháu chưa hoan thiện về nhận thức cũng như năng lực điều khiển hành vi; quá trình giải quyết vụ án bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo có nhân thân tốt chưa tiền án, tiền sự; bị cáo phạm tội lần đầu, hiện tài sản đã được thu hồi và trả lại cho người bị hại, gia đình bị cáo cũng đã đến gặp gỡ người bị hại bồi thường khắc phục hậu quả.. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét cho bị cáo H được hưởng án treo.

Đại diện Công ty tài chính TNHH HD S đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho công ty chiếc xe máy Vision màu đỏ đen vì theo thỏa thuận là công ty có quyền xử lý tài sản thế chấp khi bên thế chấp bị khởi tố.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử

+áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt Khuất khắc M từ 27 đến 30 tháng tù;

+áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51, 58, 90, 98, 65, 101 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt Trần Trung H từ 24 đến 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 54 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: người bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu đề nghị gì nên không đề nghị giải quyết; Về tang vật đề nghị trả lại công ty tài chính TNHH S 01 xe máy hiệu Vision màu đỏ đen;

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên và bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử thấy quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, tang vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ chứng minh có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 25/01/2021, tại đoạn đường trước số nhà B..TT…, Khu Đô Thị V, phường P, quận H, TP.H, lợi dụng trời tối đoạn đường vắng người qua lại và chủ sở hữu sơ hở trong việc quản lý tài, Khuất Khắc M điều khiển xe máy, nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ, đen không đeo biển kiểm soát chở Trần Trung H phía sau, áp sát xe máy của chị Nguyễn Thị Hồng C cướp giật 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng đã qua sử dụng, số Imei353040091677335, dung lượng 256GB trị giá 7.200.000 đồng của chị Nguyễn Thị Hồng C, để ở túi quần phía sau bên trái, trong khi chị C đang điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade, sơn màu trắng, BKS 29T1-311.68 đi trên đường, sau đó cùng nhau tẩu thoát thì bị quần chúng nhân dân phát hiện, bắt giữ.

Hành vi điều khiển xe máy giật điện thoại sau đó nhanh chóng tẩu thoát của Khuất Khắc M và Trần Trung H đã phạm tội “ Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố Khuất Khắc M và Trần Trung H theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; không những xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần của người khác mà gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn quận H; gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi vi phạm của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn. Trong vụ án này, Khuất Khắc M là người khởi xướng, rủ rê bị cáo H thực hiện hành vi cướp giật tài sản, bị cáo M là người trực tiếp điều khiển xe máy để Hiếu ngồi sau giật điện thoại và phóng xe tẩu thoát sau khi H giật được điện thoại. Bị cáo là người đủ tuổi trưởng thành, nhận thức rõ hành vi cướp giật tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng để có tiền ăn tiêu, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét đến thái độ khai báo thành khẩn, bị cáo là người có thành tích xuất sắc trong học tập, tháng 10/2020 bị cáo và đồng đội đã đạt huy chương vàng giải vô địch điền kinh trẻ và các lứa tuổi trẻ quốc gia năm 2020; sau khi phạm tội bị cáo đã tác động đến gia đình, gia đình bị cáo đã đến thăm hỏi người bị hại và tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại; người bị hại cũng có đơn đề nghị hội đồng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo; bị cáo có nhân thân tốt chưa tiền án tiền sự; gia đình bị cáo có thân nhân là người có công với cách mạng;. ..Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt và xét cho bị cáo M được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại điều 54 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Trần Trung H tham gia vụ án với vai trò đồng phạm, khi M rủ H cướp giật điện thoại, H đã tiếp nhận và cùng M thực hiện hành vi cướp giật điện thoại rất tích cực. H là người trực tiếp giật điện thoại của chị C, sau đó cùng M nhanh chóng tẩu thoát. Do vậy cũng cần áp dụng hình phạt tù nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo bởi bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn; sau khi phạm tội bị cáo đã tác động đến gia đình, gia đình bị cáo đã đến thăm hỏi người bị hại và tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại; người bị hại cũng có đơn đề nghị hội đồng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo; tính đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo mới được 16 tuổi 10 tháng 14 ngày nên nhận thức pháp luật cũng như năng lực điều khiển hành vi còn nhiều hạn chế; bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án tiền sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng .... Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự được Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H và xét cho bị cáo H được hưởng án treo theo quy định tại điều 65 Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước đối với người chưa thành niên phạm tội nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ bị cáo H sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Do bị cáo M, H không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, người bị hại đã nhận lại tài sản là 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, đã qua sử dụng, số Imei 353040091677335, dung lượng 256GB và không yêu cầu bồi thường gì về phần trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tang vật: Đối với 01(một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda ViSion, sơn màu đỏ, đen, không đeo BKS, số khung 004403, số máy 7004430, đã qua sử dụng, đã thu giữ nêu trên, là phương tiện Khuất Khắc M và Trần Trung H đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội; nay Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn HD S cho rằng Khuất Khắc M bị khởi tố về tội cướp giật tài sản đã vi phạm hợp đồng thế chấp nên đề nghị trả lại Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn HD S chiếc xe máy nêu trên Khuất Khắc M đã thế chấp cho công ty; Hội đồng xét xử thấy: chiếc xe trên do Khuất Khăc M đứng tên, mua tại Công ty thương mại D, địa chỉ 87 C, phường S, S, TP H ngày 19/01/201 dưới dạng trả góp qua Công ty tài chính TNHH HD S, số tiền mua xe Công ty TNHH HD S đã thanh toán hết cho cửa hàng xe. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra xác định ngày 18/01/2021 Khuất Khắc Minh đã ký hợp đồng tín dụng vay trả góp số 2W019818945 ngày 18/01/2021 để mua xe honda Vision với Công ty tài chính TNHH HD S và hợp đồng thế chấp số 2W019818945 ngày 18/01/2021, thế chấp chiếc xe máy trên để vay tiền trả góp tại Công ty tài chính TNHH HD S, thời hạn hợp đồng là 12 tháng, tính từ ngày 17/02/2021. Thời điểm bị cáo Khuất Khắc M ký hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản là 01 xe máy honda Vision, số máy JF86E- 7004430, số khung RLHJF5839LZ004403, trước thời điểm bị cáo sử dụng xe máy vào việc phạm tội, Công ty tài chính TNHH HD S không biết việc M sử dụng chiếc xe trên vào việc phạm tội; mặt khác tại điểm 5.6.1 Hợp đồng thế chấp tài sản giữa các bên có thỏa thuận Công ty tài chính TNHH HD S được xử lý tài sản thế chấp khi bên thế chấp bị khởi tố nên căn cứ điểm 5.6; 5.6.1; 5.6.2; 5.6.3; 5.6.4 Hợp đồng thế chấp số 2W019818945 ngày 18/01/2021 giữa Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn HD S và Khuất Khắc M; căn cứ Điều 323, 299 Bộ luật dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn HD S

[5] Về án phí: Bị cáo vi phạm pháp luật nên phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Khuất Khắc M, Trần Trung H phạm tội “Cướp giật tài sản”

2. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt Khuất Khắc M 27 tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 26/01/2021

3. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91; điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt Trần Trung H 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo H cho UBND phường L, quận Đ, TP. H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

4. Áp dụng Điều 323, 299 Bộ luật dân sự năm 2015Giao trả Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn HD S 01(một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda ViSion, sơn màu đỏ, đen, không đeo BKS, số khung 004403, số máy 7004430, đã qua sử dụng 01(một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda ViSion, sơn màu đỏ, đen, không đeo BKS, số khung 004403, số máy 7004430, đã qua sử dụng để giải quyết theo hợp đồng tín dụng số 2W019818945 ngày 18/01/2021và hợp đồng thế chấp 2W019818945 ngày 18/01/2021theo quy định của pháp luật.

5. Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016, buộc các bị cáo mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Áp dụng Điều 331, Điều 333, Điều 336 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

28
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội cướp giật tài sản số 166/2021/HSST

Số hiệu:166/2021/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Hà Đông - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:20/07/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về