Bản án về tội cướp giật tài sản (giật điện thoại) số 33/2021/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 33/2021/HS-ST NGÀY 09/03/2021 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Ngày 09 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2021/TLST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2021/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H; sinh ngày 14 tháng 4 năm 1995 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi đăng ký thường trú: Thôn Cự Thịnh, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở: 2/10 Nguyễn Thị Sóc, ấp Bắc Lân, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Trịnh Thị Đ; bị cáo có vợ và 01 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/10/2020 (hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H).

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng:

Bị hại: Ông Hồ Sỹ B, sinh năm 1971. (vắng mặt) Địa chỉ: 42/8G Tổ 161, ấp Đông, xã Thới T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài, Nguyễn Văn H nảy sinh ý định cướp giật tài sản của người đi đường. Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 06/10/2020, H điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Wave RSX, biển số: 52M5-X đến trước nhà địa chỉ: 42/8G Tổ 161, ấp Đông, xã Thới T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện ông Hồ Sỹ B đang cầm điện thoại di động hiệu Samsung A50, màu xanh trên tay. H điều khiển xe nhanh chóng áp sát, dùng tay trái giật điện thoại di động trên tay ông B rồi tăng ga bỏ chạy được một đoạn thì bị người dân bắt được giao cho Công an.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 181/KL-HĐĐGTS ngày 15 tháng 10 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A50, màu xanh, số kiểu máy: SM- A505F/DS trị giá 3.000.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số: 22/VKS-HS ngày 03 tháng 02 năm 2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H ra trước Tòa án nhân dân huyện H, Thành phố Hố Chí Minh để xét xử về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân dân huyện H đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị giao 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ, số khung: RLHJ0432XBY387435, số máy: JC43E - 6331891 cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện H tiếp tục đăng báo truy tìm chủ sở hữu và xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không trình bày bổ sung và không có ý kiến tranh luận với nội dung truy tố của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, qua phần hỏi và tranh tụng công khai, bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, những người tham gia tố tụng khác và các chứng cứ khác đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở chứng minh vào chiều ngày 06/10/2020, bị cáo Nguyễn Văn H điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Wave, biển số: 52M5 - X thực hiện hành vi cướp giật 01 điện thoại di động hiệu Samsung A50, màu xanh của bị hại ông Hồ Sỹ B tại trước nhà địa chỉ: 42/8G Tổ 161, ấp Đông, xã Thới T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh rồi nhanh chóng tẩu thoát khỏi hiện trường thì bị bắt quả tang.

[3] Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi sử dụng phương tiện xe gắn máy thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Bản cáo trạng số: 22/VKS-HS ngày 03 tháng 02 năm 2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật.

Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

“1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

… d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;”

[4] Áp dụng điều luật được viện dẫn nêu trên cho thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo để có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt; tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp và đủ tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung A50, màu xanh, Cơ quan điều tra Công an huyện H đã trả lại cho bị hại ông Hồ Sỹ B là phù hợp, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave RSX, biển số: 52M5 - X, màu đỏ, số khung: RLHJ0432XBY387435, số máy: JC43E - 6331891 thu giữ của bị cáo, bị cáo khai đã mua xe gắn máy trên mạng xã hội từ 01 người đàn ông không rõ lai lịch tại khu vực ngã tư Giếng Nước khoảng 01 tháng trước với giá 3.500.000 đồng, khi giao xe người đàn ông nói đã bị mất giấy đăng ký xe. Qua xác minh, biển số: 52M5 - X là xe gắn máy hiệu Warm, màu xanh, số khung: 0010614 - HBY, số máy: 00563555 - FMH do ông Nguyễn Hữu H đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc, ông H khai hiện vẫn đang sử dụng xe gắn máy, biển số xe gắn máy không bị mất. Xác minh số khung: RLHJ0432XBY387435, số máy: JC43E - 6331891 là của xe gắn máy hiệu Honda Wave RSX, biển số: 36B1 - X, màu đỏ do bà Nguyễn Thị L đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc, bà L khai đã bán xe cho 01 người đàn ông không rõ lai lịch vào năm 2013, khi bán xe bà L đưa giấy đăng ký xe và không có làm thủ tục sang tên. Cơ quan điều tra Công an huyện H đã đăng báo tìm kiếm chủ sở hữu hợp pháp nhưng chưa có ai đến nhận. Do đó, Hội đồng xét xử giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện H đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng để truy tìm chủ sở hữu hợp pháp của xe gắn máy trên. Nếu có người xuất trình đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh là chủ sở hữu hợp pháp thì trả lại xe gắn máy cho họ. Trong trường hợp quá thời hạn 06 tháng mà không có chủ sở hữu nào đến nhận thì tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 biển số: 52M5 - X, do không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại đã được nhận lại tài sản. Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt nhưng căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị hại không có yêu cầu bồi thường về phần dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 06/10/2020.

2. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tạm giam bị cáo Nguyễn Văn H thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành án.

3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 (sáu) tháng để truy tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ, số khung: RLHJ0432XBY387435, số máy: JC43E - 6331891. Nếu có người xuất trình đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh là chủ sở hữu hợp pháp thì trả lại tài sản trên cho họ. Trong trường hợp quá thời hạn 06 (sáu) tháng mà không có chủ sở hữu nào đến nhận thì tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

Tịch thu tiêu hủy: 01 biển số 52M5 - X.

Vật chứng của vụ án hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04 tháng 02 năm 2021.

4. Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 ngày 12 tháng 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

51
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội cướp giật tài sản (giật điện thoại) số 33/2021/HS-ST

Số hiệu:33/2021/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hóc Môn - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 09/03/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về