TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
BẢN ÁN 16 /2023/HS-ST NGÀY 25/01/2024 VỀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN
Ngày 25 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận C, thành phố Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 119/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Hồ Vũ Duy H - Sinh ngày 27 tháng 5 năm 1994, tại tỉnh Q.N; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: 59 X.D, phường C, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam; Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nhân viên bảo vệ; Trình độ văn hóa: 12/12; con ông Hồ Văn D và Võ Thị Diệu Th; Tiền án, tiền sự : không Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 27/QĐ-XPHC ngày 09/6/2021, của Công an phường Thanh Hà, TP. Hội An, tỉnh Quảng Nam xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép”, chấp hành xong hình phạt ngày 10/6/2021.
Bị bắt tạm giữ từ ngày 17/02/2023 đến ngày 26/02/2023 được thay thế biện pháp tạm giữ bằng biện pháp “ Cấm đi khỏi nơi cư trú” theo Quyết định số 01/QĐ – VKS của Viện kiểm sát nhân dân quận C. Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại :
1. Bà Trần Thị D, sinh năm 1998. Địa chỉ: 45 Lê Phụng H, phường A.H.B, quận Sơn Trà, thành phố Đ. vắng mặt Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan :
01. Công ty CP Dịch vụ - Thương mại S. Địa chỉ: Lô 62C B.M 6, phường H, quận g, thành phố Đ, vắng mặt.
02. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1997. Địa chỉ: Thôn 9, xã N, thị xã Đ.T, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
03. Ông Nguyễn Đức Q, sinh năm 1993. Địa chỉ: 25 A.T 10, phường M.A, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đ, vắng mặt.
04. Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 2003. Địa chỉ: 71 K.M 14, phường K.M, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đ, vắng mặt.
05. Bà Nguyễn Thúy H, sinh năm 2005. Địa chỉ: 62/14 P.T, phường T, quận Thanh Khê, thành phố Đ, vắng mặt.
06. Ông Ngô Văn Đ, sinh năm 2002. Địa chỉ: 50 T.N 9, phường H.M, quận g, thành phố Đ, vắng mặt.
07. Ông Phạm Văn S, sinh năm 2003. Địa chỉ: 50 T.N 9, phường H.M, quận g, thành phố Đ, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trước đây, Hồ Vũ Duy H có tình cảm với chị Trần Thị D nên H nhiều lần cho tiền. Tháng 4/2022, Chị D mở cửa hàng kinh doanh quần áo tên “ My D Tran Boutique” 180 Triệu Nữ Vương, phường Nam Dương, quận C, thành phố Đ, có mượn của H 17.000.000 đồng để trang trí cửa hàng. Khi chị D khai trương cửa hàng, H muốn nhiều người biết và mua ủng hộ nên tự giới thiệu với bạn bè, người thân đây là cửa hàng của H. Do vậy anh Nguyễn Thanh P nghĩ đó là của H. Khoảng tháng 10/2022, do khó khăn về kinh tế, H đòi lại tiền đã cho chị D mượn, nên xảy ra mâu thuẫn. Chị D cắt đứt liên lạc nên khiến H bực tức.
Tối ngày 15/02/2023, bạn của H là Nguyễn Văn T liên lạc hỏi thăm H, H rủ Tường vào thành phố Đ chơi, Tường đồng ý nên ngay sau đó đã đón xe vào Đ.
Sáng ngày 16/02/2023, H điện thoại đặt xe tải chở hàng của Công ty CP Dịch vụ - Thương mại S thì được anh Ngô Văn Đức xác nhận lịch hẹn. Do Tường vào Đ chơi Tối ngày 15/02/2023, bạn của H là Nguyễn Văn T liên lạc hỏi thăm H, H rủ Tường vào thành phố Đ chơi, Tường đồng ý nên ngay sau đó đã đón xe vào Đ.
Sáng ngày 16/02/2023, H điện thoại đặt xe tải chở hàng của Công ty CP Dịch vụ - Thương mại S thì được anh Ngô Văn Đ xác nhận lịch hẹn. Do T vào Đ chơi nên khoảng 19h00’ cùng ngày, H rủ P, Q đi đón và dẫn T đi chơi. H điều khiển xe ô tô biển số 92A-xxxxx chở 03 người đi chơi, dạo phố. Sau đó, H dẫn mọi người đến cửa hàng của chị D, H nói “vô shop của anh chơi”. Mọi người nghỉ H dẫn Tường đến của hàng để giới thiệu nên mọi người đi vào. Khi vào H thấy không có chị D nên một lúc sau thì H nói mọi người ra và tiếp tục dẫn mọi người đi chơi. H báo lại cho anh Đức và lái xe Phạm Ngọc S là chưa dọn đồ kịp nên hẹn lại ngày hôm sau.
Khoảng 08h00’ ngày 17/02/2023, H rủ P, Q và T đi ăn sáng, uống cà phê. H ra ngoài gọi điện thoại cho lái xe tải Sang hẹn trưa đến cửa hàng chở đồ, theo lịch hẹn anh Đ và S điều khiển xe taxi tải biển số 43C-224.81 đến chờ. H hỏi Q và P: “rảnh không thì qua shop dọn dẹp giúp anh”, Q và P tưởng dọn đồ thật nên đồng ý giúp. Đồng thời, H rủ T đi chơi. H điều khiển xe chở ba người đi chơi đến khoảng 11h50’ thì đến cửa hàng của chị D. H nói: “Tường vô đây chơi, còn Q với P vô dọn đồ cho anh”. Lúc này chị D không có ở của hàng, mà chỉ có nhân viên bán hàng là chị Nguyễn Thúy H. H chỉ tay về phía chị H lớn tiếng nói “ngồi im”, “điện thoại em cất hết vô đi, phần em đồ gì của em thì em giữ hết đi, ngồi im đó” khiến chị H sợ nên ngồi im. H nói Q và P dọn đồ, đưa ra xe tải. Khi mọi người khiên đồ, thấy cửa tự động đóng nên Tường lại đứng giữ cánh cửa lại. Lúc sau, thấy chị H lấy điện thoại nói chuyện, T nghe H yêu cầu H tắt điện thoại nên T cầm điện thoại của Hòa tắt rồi đưa lại cho Hòa nói “cất điện thoại của em vào ví kìa”.
Tài sản của H nhờ mọi người dọn, gồm: áo quần nữ, móc quần áo, cây livestream, ma – nơ – canh, quầy tính tiền… Sau đó, H nói xe tải chở đồ về cất tại nhà của H ở 71 Khuê Mỹ Đông 14, P. Khuê Mỹ, Q. Ngũ Hành Sơn, TP. Đ. Ngay sau đó, chị D biết sự việc nên cùng H trình báo Công an phường Nam Dương, quận C. Chiều cùng ngày, H đến đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi và giao nộp toàn bộ tài sản.
Vật chứng thu giữ:
- 01 đĩa DVD-R, hiệu Mingsheng, có lưu trữ: 01 đoạn video, dài 38 giây, dung lượng 2,84 Mb; 01 đoạn video, dài 03 phút 25 giây, dung lượng 20,8 Mb, ghi nhận hình ảnh Hồ Vũ Duy H lấy tài sản tại cửa hàng “My Duyen Tran Boutique”, (do Nguyễn Thúy Hòa giao nộp).
- 125 loại tài sản gồm: quần – áo nữa, túi xách nữ, giày dép nữ, bộ ghế sô pha, móc treo quần – áo, ma – nơ – canh, giá treo quần – áo, tóc giả, đèn live stream, ghế sắt, quầy tính tiền do Hồ Vũ Duy H giao nộp (đã được thống kê chi tiết về tên gọi, số lượng, đặc điểm, hình ảnh chụp thực tế).
- 01 đĩa DVD nhãn hiệu “maxell”, lưu 08 file video có định dạng MP4, ghi nhận hình ảnh Hồ Vũ Duy H cưỡng đoạt tài sản tại cửa hàng “My Duyen Tran Boutique”, gồm: File video mang tên “20230216_194414_tp00143”, dung lượng 256 MB; File video mang tên “20230217_113603_tp00160”, dung lượng 256 MB; File video mang tên “20230216_200002_tp00076”, dung lượng 256 MB; File video mang tên “20230217_112539_tp00082”, dung lượng 256 MB; File video mang tên “20230216_201626_tp00203”, dung lượng 256 MB; File video mang tên “20230217_114208_tp00222”, dung lượng 256 MB; File video mang tên “20230216_195849_tp00416”. Dung lượng 256 MB; 8. File video mang tên “20230217_114246_tp00429”, dung lượng 256 MB, do Trần Thị D giao nộp.
- 01 tập giấy A4 gồm 165 trang, có nội dung hình ảnh – tin nhắn Zalo giữa H và bà D, kèm theo 01 đĩa DVD nhãn hiệu “maxell” có chứa file dữ liệu về nội dung trên, do Hồ Vũ Duy H giao nộp.
Theo Kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐGTS ngày 25/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS, UBND Q, C, kết luận: 01 Quầy tính tiền kích thước (1,1x0,6)m, chất liệu gỗ ép công nghiệp có trị giá : 1.920.000 đồng, 01 ghế sắt có trị giá 410.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là: 17.261.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 112/CT-VKS ngày 06 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận C, thành phố Đ đã truy tố bị cáo Hồ Vũ Duy H về tội “ Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm khoản 1 Điều 170 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tôi danh noi trên đồng thơi đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 170; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 bộ luật hình sự. Xử phạt Hồ Vũ Duy H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 36 tháng đến 48 tháng Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận C đề nghị HĐXX xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo cũng như người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận: Khoảng 11h50’ ngày 17/02/2023, tại cửa hàng kinh doanh quần áo “My Duyen Tran Boutique” - số 180 Triệu Nữ Vương, phường Nam Dương, quận C, thành phố Đ, Hồ Vũ Duy H có hành vi uy hiếp nhân viên Nguyễn Thuý Hoà để chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu của chị Trần Thị D, gồm: 01 Quầy tính tiền, 01 ghế sắt, 123 sản phẩm như quần áo, mũ, ví cầm tay, túi xách, giày cao gót, móc quần áo, ma nơ canh, tóc giả, thảm lông, đèn livestream, ghế sofa, giá treo quần áo. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là: 17.261.000 đồng. Do vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận hành vi của Hồ Vũ Duy H đã phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 112/CT-VKS ngày 06/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận C, thành phố Đ đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo không những đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy, đối với bị cáo cần phải xử phạt với mức án tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Tuy nhiên xét sau khi phạm tội bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã khắc phục bồi thường cho người bị hại và người bị hại đã có đơn giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy sau khi phạm tội bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, ngoài lần phạm tội này đã chấp hành đúng chính sách, pháp luật, có nơi thường trú ổn định và có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Mặt khác, hiện nay bị cáo đang mắc bệnh đái tháo đường tuýp 1, rối loạn lipid máu – Viêm gan phải điều trị thường xuyên nên không cần thiết phải cách ly bị cáo mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức án treo và giao về địa phương giám sát giáo dục là thỏa đáng.
Trong vụ án này. Đối với:
+ Lái xe Phạm Ngọc S và phụ xe Ngô Văn Đ, có hành vi sử dụng xe taxi tải biển số 43C-224.81 chở hàng. Nhưng nghĩ đây là tài sản của H và được H thuê chở, không là tài sản H chiếm đoạt của chị D nên Cơ quan CSĐT Công an quận C không xử lý là có căn cứ.
+ Nguyễn Đức Q, Nguyễn Thanh P và Nguyễn Văn T: Đều nghĩ cửa hàng quần áo trên là của H và H nhờ đến dọn giúp, hoàn toàn không biết mâu thuẫn giữa H với D, không biết H chiếm đoạt tài sản của D. Khi khai trương H cũng mời Q và P đến mua hàng ủng hộ. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an quận C không xử lý là có căn cứ.
[3] Về trách nhiệm dân sự : Sau khi vụ án xảy ra Hồ Vũ Duy H đã bồi thường cho chị Trần Thị D 67.000.000 đồng. Chị D không yêu cầu bồi thường thêm nên HĐXX xem xét giải quyết.
[4] Về xử lý tang vật: Cơ quan CSĐT Công an quân C đã trả lại cho bị hại Trần Thị D: 155 móc quần; 113 móc áo; 03 ma - nơ - canh; 02 bộ tóc giả; 01 thảm lông màu xám, kích thước (2,0x1,6) m; 01 đèn livestream đường kính 16 cm, kèm chân đế cao 1,6 m; 01 bộ ghế sô pha màu xám, kích thước (1,6x0,7x0,7)m; 01 ghế sắt màu trắng; 01 quầy tính tiền kích thước (1,1x0,6x0,76) m; 02 giá treo quần áo kích thước (1,5x0,4x1,57) m (tất cả đều đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, đã có bản thống kê chi tiết). Đối với quần - áo nữ, túi xách nữ, giày dép nữ có trị giá: 7.677.000 đồng, D mua về để bán tại cửa hàng nhưng không có hóa đơn chứng từ, không rõ nguồn gốc, xuất xứ nên Công an quận C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “kinh doanh hàng hoá không rõ nguồn gốc, xuất xứ”, theo khoản 4 Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ (quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng), tịch thu tang vật liên quan đến hành vi vi phạm hành chính theo quy định là có căn cứ.
- Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án : 01 đĩa DVD-R, hiệu Mingsheng, có lưu trữ: 01 đoạn video, dài 38 giây, dung lượng 2,84 Mb; 01 đoạn video, dài 03 phút 25 giây, dung lượng 20,8 Mb, ghi nhận hình ảnh Hồ Vũ Duy H lấy tài sản tại cửa hàng “My Duyen Tran Boutique”; 01 đĩa DVD nhãn hiệu “maxell”, lưu 08 file video có định dạng MP4, ghi nhận hình ảnh Hồ Vũ Duy H cưỡng đoạt tài sản tại cửa hàng “My Duyen Tran Boutique”, gồm: File video mang tên “20230216_195849_tp00416”. Dung lượng 256 MB; 8. File video mang tên “20230217_114246_tp00429”, dung lượng 256 MB; 01 tập giấy A4 gồm 165 trang, có nội dung hình ảnh – tin nhắn Zalo giữa H và bà D, kèm theo 01 đĩa DVD nhãn hiệu “maxell” có chứa file dữ liệu.
[5] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Hồ Vũ Duy H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”
1. Áp dụng: khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS.
Xử phạt: Hồ Vũ Duy H 18 ( mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Thời hạn thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án ngày 25/01/2024. Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân phường Cẩm Phô, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam giám sát giáo dục. Trong trường hợp bị cáo Hồ Vũ Duy H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
2. Án phí HSST bị cáo Hồ Vũ Duy H phải chịu là 200.000 đồng 3. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay, ngày 25/01/2024. Riêng người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Bản án về tội cưỡng đoạt tài sản số 16/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 16/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Quận Hải Châu - Đà Nẵng |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 25/01/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về