TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA
BẢN ÁN 64/2023/HS-ST NGÀY 26/09/2023 VỀ TỘI CỐ Ý LÀM HƯ HỎNG TÀI SẢN
Ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 64/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2023, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2023/QĐXXST-HS ngày 12/9/2023 đối với bị cáo:
Đỗ Ngọc T - Sinh năm 1993 Nơi cư trú: Thôn Ng Tr, xã Quảng B, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Đỗ Ngọc V và bà Lê Thị Th. Có vợ là Lê Thị Gi. Có 02 con đầu sinh năm 2017, con thứ hai sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
* Bị hại: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1984, nơi cư trú: Thôn Ng Tr, xã Quảng B, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá. (Có đơn đề nghị xử vắng mặt).
* Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1986, nơi cư trú: Thôn Ng Tr, xã Quảng B, huyện Quảng Xương, Thanh Hóa (có đơn đề nghị xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 19/3/2023, Đỗ Ngọc T sinh năm 1993, ở thôn Ng Tr, xã Quảng B, huyện Quảng Xương vay của anh Nguyễn Văn T1 sinh năm 1984, ở cùng thôn số tiền 50.000.000 đồng để làm ăn (do hai bên quen biết nhau nên anh T1 không tính lãi, mà bảo T sau này trả tiền gốc cho lãi bao nhiêu tùy tâm). Đến ngày 19/6/2023, do cần tiền nên anh T1 bảo T trả hết tiền cho mình, 2 ngày sau sẽ cho Tính vay lại. Ngày 19/6/2023, T trả đủ cho anh T1, ngoài ra đưa thêm cho anh T1 600.000 đồng tiền lãi. Như đã thỏa thuận, ngày 21/6/2023, Tính hỏi anh T1 vay lại số tiền đã trả cho anh T1, nhưng anh T1 bảo nếu T có tài sản thế chấp thì mới cho vay, không có tài sản gì thế chấp thì không cho vay. Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 21/6/2023, sau khi đã uống rượu, Tính đến quán Karaoke Xmen, ở thôn Ng Tr, xã Quảng B, huyện Quảng Xương để chơi. Tại đây, do bực tức về việc anh T1 thất hứa không cho mình vay lại tiền nên Tính nảy sinh ý định đến nhà anh T1 đập phá nhà anh T1 cho hả giận. Để thực hiện hành vi của mình, Tính đi bộ ra cây xăng thôn Xa Thư, xã Quảng B bắt taxi do anh Nguyễn Văn B (ở thôn Ng Tr, xã Quảng B, huyện Quảng Xương điều khiển), đến nhà anh T1. Đến nơi, Tính liền xuống xe, lấy 01 điếu hút thuốc lào dài khoảng 60cm của nhà anh T1 đang để ở sân, đập nhiều phát vào 03 tấm kính cửa chính phòng khách nhà anh T1, làm vỡ kính. Thấy vậy, anh B xuống xe, ôm, can ngăn T. Thấy T đập phá nhà mình, mà trong nhà còn có vợ và hai con nhỏ, sợ bị T đánh nên anh T1 đi xuống bếp, lấy 1 con dao thái cầm ở tay đi lên để phòng thân. Tuy nhiên thấy Tính rất hung hãng nên anh T1 cất dao, rồi lấy xe mô tô của mình đến Công an xã Quảng B trình báo sự việc. Sau đó T vẫn tiếp tục nhặt 01 viên gạch vữa bê tông, kích thước khoảng (14x17x11)cm ở trước nhà anh T1, ném vào khu vực bầy bán thiết bị vệ sinh nhà anh T1 thì trúng vào 01 bồn cầu vệ sinh nhãn hiệu KENISI, màu trắng, chưa qua sử dụng. Được nhiều người can ngăn nên T ra về.
Hậu quả: Hành vi của T làm hư hỏng một số tài sản của anh T1, gồm: 03 ô kính cửa chính phòng khách, mỗi ô đều có kích thước 2m21 x 72,5cm, loại kính dán 2 lớp 8,38 ly do Việt Nam sản xuất; 01 bồn cầu vệ sinh dạng bệt liền khối, nhãn hiệu KENISI, màu trắng, còn mới, chưa qua sử dụng, do Trung Quốc sản xuất.
Theo kết quả của Hội đồng định giá tài sản trong tụng hình Quảng Xương ngày 03/7/2023: Giá trị được xác định tại thời điểm bị thiệt hại đối với 03 tấm kính mỗi tấm đều có kích thước 2m21 x 72,5cm, loại kính dán 2 lớp 8,38 ly là 2.482.000 đồng. Giá trị được xác định tại thời điểm bị thiệt hại đối với 01 bồn cầu vệ sinh dạng bệt liền khối, nhãn hiệu KENISI, màu trắng, còn mới, chưa qua sử dụng, do Trung Quốc sản xuất là 1.950.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị hư hỏng là 4.432.000 đồng.
Ngày 31/7/2023, Phòng PC09 - Công an tỉnh Thanh Hóa có kết luận giám định số 2803/KL-KTHS, kết luận: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 3 (ba) tệp video của 01 (một) đĩa CD-R màu vàng, nhãn hiệu Maxell gửi giám định.
Trong giai đoạn điều tra, Đỗ Ngọc T đã tự nguyện đến bồi thường cho bị hại.
Đối với vật chứng là 03 ô kính, mỗi ô đều có kích thước 2m21 x 72,5cm loại kính dán 2 lớp 8,38 ly do Việt Nam sản xuất; 01 bồn cầu vệ sinh dạng bệt liền khối, nhãn hiệu KENISI, màu trắng, còn mới, chưa qua sử dụng, đó Trung Quốc sản xuất, là tài sản của anh Nguyễn Văn T1 đều bị Tính đập phá hư hỏng. Sau khi tiến hành lập biên bản xác định giá trị tài sản bị thiệt hại, Công an xã Quảng B đã giao các đồ vật, tài sản trên cho anh T1 để thay mới và giao nộp hóa đơn cho Cơ quan Công an để phục vụ điều tra.
Trong vụ án có hành vi của anh Nguyễn Văn T1 cho Tính vay số tiền 50.000.000 đồng trong 3 tháng, lấy lãi 600.000 đồng. Tương đương với mức lãi suất là 133,33 đồng/1 triệu/1 ngày; 4,8%/1 năm, mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 điều 468 Bộ luật Dân sự, nên Cơ quan CSĐT không xem xét xử lý đối với anh T1.
Đối với hành vi của anh Nguyễn Văn B là lái xe taxi chở Đỗ Ngọc T đến nhà anh Nguyễn Văn T1, rồi Tính đập phá tài sản nhà anh T1. Tuy nhiên anh B không biết mục đích đến nhà anh T1 để đập phá tài sản của Tính, không đồng phạm với Tính về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản.
Đối với vật chứng là 01 ống điếu hút thuốc lào bằng tre, hình trụ tròn, dài khoảng 60cm, màu vàng nâu Tính sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội, Tính khai đã ném chiếc điếu này ở dọc đường, gần nhà anh T1. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy.
Đối với vật chứng là 01 viên gạch vữa bê tông, hình khối đa giác, màu xám, kích thước khoảng (14x17x11)cm là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Tại bản cáo trạng số 66/CT-VKSQX ngày 28/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương truy tố bị cáo Đỗ Ngọc T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 178; điểm b,i,s khoản 1,2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 đến 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 16 tháng. Giao bị cáo cho UBND xã Quảng B giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận tội, xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Xương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận: Do bực tức anh Nguyễn Văn T1 không cho bị cáo vay tiền mà không có tài sản thế chấp nên khoảng 22h ngày 21/6/2023 bị cáo đã có hành vi dùng ống điếu, gạch vữa bê tông đập phá, làm hư hỏng, thiệt hại tài sản của anh T1, tổng trị giá tài sản bị thiệt hại là 4.432.000đ (bốn triệu bốn trăm ba mươi hai nghìn đồng).
Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với kết quả tranh tụng tại phiên toà và các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Đỗ Ngọc T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 BLHS. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà hoàn toàn có căn cứ pháp luật.
[3] Về tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc đập phá làm hư hỏng tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì bực tức việc cá nhân mà bị cáo đã đập phá làm hư hỏng sản của anh T1. Hành vi của bị cáo là hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất an trong quần chúng nhân dân, do đó cần được đưa ra xử lý nghiêm tương xứng với hành vi của bị cáo để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã xin lỗi bị hại và bồi thường toàn bộ giá trị tài sản bị hư hỏng cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bố bị cáo là người có công với cách mạng được tặng huân chương kháng chiến - đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Vì vậy xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ sức răn đe giáo dục bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 178 BLHS: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về vật chứng: Đối với vật chứng là 01 viên gạch vữa bê tông, hình khối đa giác kích thược 14x17x11 cm là vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
Khoản 1 Điều 178; Điểm b,i,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Điều 6; Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Mục 1 phần I Danh mục mức án phí, lệ phí Toà án ban hành kèm theo Nghị Quyết.
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Ngọc T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Xử phạt: Đỗ Ngọc T 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã Quảng B, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Người được hưởng án treo có thể bị Tòa án buộc chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo nếu trong thời gian thử thách mà cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 viên gạch vữa bê tông, hình khối đa giác, màu xám, kích thước khoảng (14x17x11). Vật chứng hiện đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/9/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Quảng Xương và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Xương.
Về án phí: Buộc bị cáo Đỗ Ngọc T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
Bản án về tội cố ý làm hư hỏng tài sản số 64/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 64/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Quảng Xương - Thanh Hoá |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 26/09/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về