Bản án về tội cố ý làm hư hỏng tài sản số 358/2023/HS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 358/2023/HS-PT NGÀY 29/08/2023 VỀ TỘI CỐ Ý LÀM HƯ HỎNG TÀI SẢN

Ngày 29 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 318/2023/TLPT-HS ngày 06 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo Phạm Đặng C và các bị cáo khác về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và “Gây rối trật tự công cộng”. Do có kháng cáo của các bị cáo và kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2023/HS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:

1. Phạm Đặng C, sinh ngày 06/10/2002 tại tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Phạm Viết V và bà Đặng Thị Thúy N; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt.

2. Nguyễn Văn P, sinh ngày 02/02/2001 tại tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Thôn H, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa:

8/12; con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị Thanh N1; tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt giam ngày 29/7/2022, có mặt.

3. Trần Gia H, sinh ngày 14/01/2002 tại tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Thôn H, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Trần Ngọc N2 và bà Châu Thị Thúy K; tiền án, tiền sự: Không;

Về nhân thân: Ngày 27/11/2018, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 1 Điều 134 BLHS; ngày 26/01/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định đình chỉ điều tra bị can.

Bị bắt giam ngày 21/12/2022, có mặt.

4. Lê Minh H1 (T3), sinh ngày 24/10/2002 tại tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Khối P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Lê Văn D và bà Lý Thị Thúy K1; tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt giam ngày 21/12/2022, có mặt.

- Bị hại có kháng cáo:

1. Ông Bùi Việt C1, sinh năm: 1990 2. Bà Bùi Thị L, sinh năm: 1993 Cùng địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 27/5/2021, Trần Nguyễn Đông K2 điều khiển xe mô tô 77H1-xxxxx đi ngang đường bê tông thuộc thôn P, xã T, huyện T thì bị một nhóm thanh niên không rõ lai lịch chặn đánh, K2 chạy thoát được và nghi ngờ nhóm của ông Bùi Việt C1 (thường gọi là Út D1) chặn đánh, nên K2 gọi điện, tập trung lực lượng gồm: Trương Ngọc H2, Tạ Đoàn Minh H3, Nguyễn Thành N3, Nguyễn Bá Anh H4, Nguyễn Văn P, Phạm Đặng C, Nguyễn Minh Đ, Lê Minh H1, Trần Gia H, Bùi Trọng T, Nguyễn Trung H5, Trần Minh H6 cùng một số đối tượng khác (chưa xác định được địa chỉ, lai lịch) chuẩn bị nhiều loại hung khí như dao tự chế, phảng bờ, kiếm, bình xịt hơi cay… đi cùng trên một xe ôtô (loại xe 16 chỗ, không rõ biển số và chủ sở hữu và không xác định được người điều khiển) đến nhà ông Bùi Việt C1 đánh trả thù.

Lúc này, tại nhà ông C1, gồm có: Bùi Việt C1, Nguyễn Ngọc P1, Võ Thanh V1, Bùi Thị L (là vợ ông C1), Võ Văn C2, Nguyễn Thái S, Nguyễn Thái N4 (em ruột ông S), Phan Hữu T1, Nguyễn Văn T2 đang ngồi chơi tại khu vực bàn gỗ nhà ông C1. Khi xe ô tô nhóm của Đông K2 đến trước nhà ông C1 và dừng lại thì nhóm K2 gồm: Đông Kha, T, Minh H6, T, Đ, H1, H, H6 (cu em), Minh H3, N3, Pháp, H4, C và 02 đối tượng chưa xác định lai lịch xuống xe ôtô (01 đối tượng còn lại chưa rõ lai lịch điều khiển xe ô tô nên không vào nhà), đều cầm hung khí, bình xịt hơi cay xông vào xịt hơi cay, rượt đánh nhóm ông C1 đang ngồi tại khu vực phảng gỗ. Nhóm ông Bùi Việt C1 bỏ chạy vào khu vực bên trong nhà, riêng ông Nguyễn Thái S cầm một đoạn cơ bi da đánh lại thì bị Trương Ngọc H2 cầm dao chém một nhát vào đầu gây thương tích. Nhóm Trần Nguyễn Đông K2 la hét, cầm nhiều đồ vật ném, cầm bình xịt hơi cay xịt vào nhóm ông C1. Tạ Đoàn Minh H3 cầm dao tự chế và một bình xịt hơi cay chạy từ cổng vào đứng trên phản gỗ, Phạm Đặng C cầm phảng bờ chạy từ cổng vào đứng gần phản gỗ. Sau đó, Tạ Đoàn Minh H3, Phạm Đặng C, Bùi Trọng T chạy đến trước nhà ông C1, cầm hung khí (dao, phảng bờ, kiếm) đâm, chọt, đập phá cửa kéo bằng nhôm phía trước gây hư hỏng; một số đối tượng còn lại trong nhóm của Đông K2 (không xác định được cụ thể đối tượng) tiếp tục xông vào nhà của ông C1 đập phá 01 chiếc tivi hiệu LG 55inch, cửa nhôm kính, tủ nhôm kính, quạt điện làm hư hỏng. Sau khi đánh người, xịt hơi cay, đập phá đồ đạc, nhóm K2 lên xe ô tô bỏ đi.

Hậu quả: ông Nguyễn Thái S bị Trương Ngọc H2 chém rách da đầu vùng thái dương trái. Tài sản nhà ông Bùi Việt C1 bị hư hỏng: 01 ti vi LG bị nứt vỡ, 01 tủ kính bị vỡ, 01 máy quạt cây bị vỡ, 01 cửa nhôm bị móp méo, 01 cửa kéo Đài Loan bị thủng, móp méo.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 143/2021/PY-TgT ngày 04/6/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích hiện tại cho ông Nguyễn Thái S là 06% (sáu phần trăm). Ngày 25/6/2021, ông Nguyễn Thái S có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với người gây thương tích cho ông S và không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Ngày 31/5/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện T, tỉnh Bình Định kết luận:

- 01 (một) cửa kéo bằng nhôm, kích thước (4,9 x 3)m, tại thời điểm xảy ra vụ việc, tài sản có giá trị thiệt hại là 4.500.000đ (bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

- 01 (một) ti vi nhãn hiệu LG, model: 55UJ632T-TA, 55inch, tại thời điểm xảy ra vụ việc, tài sản có giá trị thiệt hại là 8.000.000đ (tám triệu đồng).

- 01 (một) cửa nhôm kính kích thước (1,25 x 2,1)m, tại thời điểm xảy ra vụ việc, tài sản có giá trị thiệt hại là 100.000đ (một trăm nghìn đồng).

- 01 (một) tủ nhôm kính hình chữ L, tại thời điểm xảy ra vụ việc, tài sản có giá trị thiệt hại là 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng).

- 01 (một) quạt điện, nhãn hiệu Chinghai HS958, tại thời điểm xảy ra vụ việc, tài sản có giá trị thiệt hại là 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng).

Tổng cộng tài sản có giá trị thiệt hại là 13.350.000đ.

Tại Bản kết luận giám định số 126/KL-KTHS ngày 19/5/2022 của Phòng K3 Công an tỉnh B, kết luận: Các file video lưu giữ trong USB do Cơ quan CSĐT gửi giám định không thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa hình ảnh.

Ngày 15/6/2021, Ủy ban nhân dân xã T, huyện T có Công văn số 50/CV- UBND yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Bình Định điều tra, xử lý nghiêm minh các đối tượng có hành vi la ó, chém người, đập phá đồ đạc trong nhà ông Bùi Việt C1 gây hoang mang cho người dân xung quanh, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2023/HS-ST ngày 29/5/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Định đã quyết định:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; khoản 1 Điều 178, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 55, 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Đặng C. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn P, Lê Minh H1, Trần Gia H. Tuyên xử:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Phạm Đặng C phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và “Gây rối trật tự công cộng”.

Các bị cáo Nguyễn Văn P, Lê Minh H1, Trần Gia H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

2 Về hình phạt:

2.1. Xử phạt bị cáo Phạm Đặng C 12 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và 03 năm 06 tháng tù tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

2.2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 04 (bốn) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo, ngày 29/7/2022.

2.3, Xử phạt bị cáo Lê Minh H1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo, ngày 21/12/2022.

2.4. Xử phạt bị cáo Trần Gia H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo, ngày 21/12/2022.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần tội danh và hình phạt đối với các bị cáo khác, phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.

Ngày 02/6/2023, bị cáo Phạm Đặng C có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 04/6/2023, các bị cáo Lê Minh H1, Trần Gia H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 05/6/2023, bị cáo Nguyễn Văn P có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 12/6/2023, người bị hại ông Bùi Việt C1, bà Bùi Thị L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Phạm Đặng C. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Phạm Đặng C giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; người bị hại ông Bùi Việt C1, bà Bùi Thị L tại đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Phạm Đặng C; các bị cáo Nguyễn Văn P, Trần Gia H, Lê Minh H1 tự nguyện rút đơn kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Đặng C và kháng cáo của người bị hại ông Bùi Việt C1, bà Bùi Thị L, giữ nguyên bản án sơ thẩm; đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn P, Trần Gia H, Lê Minh H1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án; căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà; Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về phần thủ tục tố tụng: Tại phiên toà phúc thẩm, bị hại có kháng cáo ông Bùi Việt C1, bà Bùi Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử xử vắng mặt ông C1, bà L. Xét việc vắng mặt của bị hại ông C1, bà L không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xử vụ án. Đối với các bị cáo Nguyễn Văn P, Trần Gia H, Lê Minh H1 tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo nên căn cứ Điều 342, Điều 348 BLTTHS đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của các bị cáo. Phần tội danh và hình phạt của các bị cáo Nguyễn Văn P, Trần Gia H, Lê Minh H1 của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.

2. Về phần nội dung: Bị cáo Phạm Đặng C khai nhận tội, đối chiếu thấy phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do nghi ngờ nhóm của ông Bùi Việt C1 chặn đường đánh Trần Nguyễn Đông K2 nên vào khoảng 20 giờ ngày 27/5/2021 Trần Nguyễn Đông K2 cùng với một số đối tượng gồm: Trương Ngọc H2, Tạ Minh H3, Nguyễn Thành N3, Nguyễn Bá Anh H4, Nguyễn Văn P, Phạm Đặng C, Nguyễn Minh Đ, Lê Minh H1, Trần Gia H, Bùi Trọng T, Nguyễn Trung H5, Trần Minh H6 và một số đối tượng khác (chưa xác định được địa chỉ, lai lịch) chuẩn bị nhiều hung khí như dao tự chế, phảng bờ, kiếm, bình xịt hơi cay…. đi cùng trên một xe ô tô đến nhà ông Bùi Việt C1 để đánh trả thù. Khi đến trước nhà của ông C1, nhóm của K2 dừng xe ô tô ngoài đường, sử dụng hung khí, bình xịt hơi cay….. hô hào, la lối, rượt đuổi đánh số người đang ngồi trước sân nhà của ông C1 chạy tán loạn, gây náo loạn cả khu dân cư. Trong quá trình truy đuổi, Trương Ngọc H2 dùng dao chém trúng ông Nguyễn Thái S gây thương tích; Tạ Đoàn Minh H3, Phạm Đặng C và Bùi Trọng T sử dụng hung khí đập phá cửa kéo bằng nhôm, gây hư hỏng thiệt hại 4.500.000 đồng, một số đối tượng còn lại (không xác định cụ thể) sử dụng hung khí đập phá 01 tivi, 01 tủ nhôm kính, 01 cửa nhôm kính và 01 quạt điện làm hư hỏng gây thiệt hại trị giá 8.850.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Đặng C đã bị Toà án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 178, điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Bản án sơ thẩm đánh giá đúng tính chất nghiêm trọng của vụ án, mức độ phạm tội, đồng thời xem xét tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Phạm Đặng C như: Thái độ khai báo thành khẩn và xử phạt Phạm Đặng C 12 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và 03 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt của hai tội là 04 năm 06 tháng tù. Tại đơn kháng cáo của người bị hại ông Bùi Việt C1, bà Bùi Thị L có nêu sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo C và gia đình đã khắc phục toàn bộ thiệt hại theo bản án sơ thẩm đã tuyên và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo C. Tuy nhiên, xét mức hình phạt 12 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” mà Toà án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo Phạm Đặng C là không nặng nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Đặng C và kháng cáo của người bị hại ông Bùi Việt C1, bà Bùi Thị L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

3. Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo Phạm Đặng C không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các bi cáo Nguyễn Văn P, Lê Minh H1, Trần Gia H rút kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Những phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 342, Điều 348 BLTTHS, 1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn P, Trần Gia H, Lê Minh H1. Phần tội danh và hình phạt của các bị cáo Nguyễn Văn P, Trần Gia H, Lê Minh H1 của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 BLTTHS, 2. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Đặng C và kháng cáo của người bị hại ông Bùi Việt C1, bà Bùi Thị L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 55, Điều 58 BLHS.

Xử phạt: Phạm Đặng C 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và 03 (Ba) năm 06 (S1) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc Phạm Đặng C phải chấp hành hình phạt chung là 04 (Bốn) năm 06 (S1) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

thẩm.

3. Về án phí: Phạm Đặng C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc Các bị cáo Nguyễn Văn P, Lê Minh H1, Trần Gia H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Đối với các bị cáo Tạ Đoàn Minh H3, Trần Nguyễn Đông K2, Nguyễn Thành N3, Nguyễn Trung H5, Nguyễn Minh Đ đã tự nguyện rút kháng cáo, Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã ban hành Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần của các bị cáo.

5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về phần tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Bùi Trọng T, Trương Ngọc H2, Nguyễn Bá Anh H4, Trần Minh H6; phần trách nhiệm dân sự; xử lý vật chứng; án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

38
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội cố ý làm hư hỏng tài sản số 358/2023/HS-PT

Số hiệu:358/2023/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 29/08/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về