TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LÂM, TỈNH LÂM ĐỒNG
BẢN ÁN 107/2023/HS-ST NGÀY 20/12/2023 VỀ TỘI CỐ Ý LÀM HƯ HỎNG TÀI SẢN
Ngày 20 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm trực tuyến, công khai vụ án hình sự thụ lý số 82/2023/TLST- HS ngày 04 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2023/QĐXXST- HS ngày 20 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Thị Kim D; tên gọi khác: Không; sinh năm 1989 tại Lâm Đồng. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn ĐL1, xã Lộc Đ, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Thái H, sinh năm 1958 và bà Phạm Thị L, sinh năm 1965; chồng Trần Văn Đ, sinh năm 1984; con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không.
Bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” xã Lộc Đ, huyện B, tỉnh Lâm Đồng từ ngày 20/02/2023 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
Bà Mai Thị S1, sinh năm 1978 (vắng mặt). Địa chỉ: Thôn ĐL2, xã Lộc Đ, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1984 (có mặt). Địa chỉ: Thôn ĐL1, xã Lộc Đ, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:
Vào năm 2017, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử vụ án tranh chấp “quyền về lối đi qua bất động sản liền kề” đi qua vườn gia đình bà Mai Thị S1 tại thôn Đông La 2, xã Lộc Đ, huyện B. Bản án đã chấp nhận việc các hộ dân yêu cầu mở con đường diện tích 169m2, chiều rộng 02m và đã có hiệu lực pháp luật, được thi hành. Con đường này là lối đi chung vào vườn của các hộ gia đình, trong đó có gia đình vợ chồng Phạm Thị Kim D và Trần Văn Đ.
Trong thời gian sử dụng con đường này, các cây trồng cà phê, vông sát lề đường của gia đình Mai Thị S1 có nhiều cành, nhánh vươn ra đường làm cản trở lối đi chung. Do đó, ngày 07/01/2022, Trần Văn Đ gặp bà S đề nghị được chặt các cành nhánh cây vươn ra đường nhưng bà S không đồng ý.
Ngày 09/01/2022 khi vợ chồng Đ, D đang làm vườn tại thôn Đông La 2, xã Lộc Đ, huyện B thì có Lại Quốc T2 (1985, NKTT: phường Lộc S, thành phố B) rủ Đ đến nhà bà S để đòi nợ tiền cho T2 thì hai bên xảy ra chửi nhau to tiếng. Khi Đ, T2 đến nhà bà S thì D tự cầm dao quắm, máy cưa xăng đi đến đoạn đường đất ngang qua giữa vườn của bà S (lối đi chung trên) cưa, chặt 13 cây cà phê và 04 cây vông có cành nhánh vươn ra lối đi chung. Còn Đ nghe T2, bà S chửi nhau nên đi xuống đường thấy D đang cưa cây thì Đ lấy dao quắm chặt ngang thân 01 cây cà phê và 01 cây vông bị chết, khô mục nằm sát mép đường đi. Lúc này, bà S nghe tiếng máy cưa, đi đến thấy các cây cà phê, vông của mình bị cưa chặt nên báo cho Công an xã Lộc Đức đến giải quyết.
Ngày 27/01/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện B tiến hành xác định hiện trường, xác định số cây trồng bị cưa, chặt là 19 cây, gồm: 14 cây cà phê và 05 cây vông. Trong đó, Trần Văn Đ chặt 02 cây gồm: 01 cây cà phê (đã chết) và 01 cây vông (đã chết); bà Phạm Thị Kim D cưa, chặt 17 cành cây gồm: 13 cành cây cà phê và 04 cây vông.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 53/KL-HĐĐGTS, ngày 15/06/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, kết luận: 01 (một) cây cà phê vối, trồng trên 05 năm tuổi, đã bị cắt ngang thân, bị chết có giá: 284.100 đồng; 01 (một) cây vông, đã bị cắt ngang thân, đã bị chết có giá: 8.400 đồng; 09 (chín) cây cà phê vối, trồng trên 05 năm tuổi, đã bị cắt ngang thân chất lượng cây: loại B, thiệt hại 100%, có giá: 1.917.675 đồng; 01 (một) cây cà phê vối, trồng trên 05 năm tuổi, gồm 05 nhánh, bị cưa 01 nhánh, chất lượng cây: loại B, thiệt hại 20%, có giá: 42.615 đồng; 02 (hai) cây cà phê vối, trồng trên 05 năm tuổi, gồm 04 nhánh bị chặt 01 nhánh chất lượng cây: loại B, thiệt hại 25 %, có giá: 106.538 đồng; 01 (một) cây cà phê vối, trồng trên 05 năm tuổi, gồm 03 nhánh, bị chặt 01 nhánh, chất lượng cây: loại B, thiệt hại 33,3%, có giá: 70.315 đồng; 03 (ba) cây vông, đã bị cắt ngang thân, thiệt hại 100% có giá: 25.200 đồng; 01 (một) cây vông, có 01 vết chặt ở gốc, cây vẫn sinh trưởng bình thường, thiệt hại 20%, có giá: 1.680 đồng. Tổng giá trị cây trồng bị thiệt hại là 2.456.523 đồng, trong đó giá trị thiệt hại cây trồng mà Phạm Thị Kim D cưa, chặt là: 2.164.023 đồng.
Tại Công văn số 02/HĐĐGTS ngày 14/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B xác định: Đối với 01 cây cà phê và 01 cây vông đã bị chết, khô mục hoàn toàn 100% (không thể tái sinh) sau đó mới bị hủy hoại, chặt phá thì không có giá trị thiệt hại.
Về vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an huyện B đang tạm giữ: 01 máy cưa cầm tay màu đỏ, đã qua sử dụng, hiệu KIORitz-2700T, tay cầm màu đen, lưỡi cưa dài 33cm; 01 con dao phát (dao quắm) đã qua sử dụng, cán dao làm bằng gỗ dài 32cm, lưỡi dao dài 21cm.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Mai Thị S1 từ chối gặp và nói chuyện với gia đình Phạm Thị Kim D nên hai bên chưa thống nhất thỏa thuận về bồi thường thiệt hại, gia đình bị can D đã tự nguyện nộp số tiền 2.500.000 đồng để bồi thường cho bà S, số tiền này đang được tạm giữ tại tài khoản tạm giữ Công an huyện B.
Tình tiết tăng nặng: không Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra bị can thành khẩn khai báo, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Tại bản cáo trạng số 46/CT-VKSBL ngày 18/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Phạm Thị Kim D về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 BLHS.
Tại phiên tòa:
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B thực hiện quyền công tố luận tội và tranh luận, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng, đề nghị tuyên bố bị cáo Phạm Thị Kim D phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo Phạm Thị Kim D từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, về hình phạt bổ sung đề nghị phạt tiền bị cáo D từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng. Về trách nhiệm dân sự buộc bị cáo D phải bồi thường cho người bị hại số tiền 2.500.000 đồng. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
+ Bị cáo Phạm Thị Kim D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, đồng ý bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại bà Mai Thị S1 số tiền 2.500.000 đồng + Chủ tọa công bố toàn bộ lời khai của người bị hại: Bà Mai Thị S1 tạm tính thiệt hại cây trồng khoảng 12.500.000 đồng và yêu cầu bồi thường.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khai trùng khớp với lời khai của bị cáo.
+ Chủ tọa công bố lời khai của người làm chứng gồm Lại Quốc T2, Nguyễn Thị Kim C2.
+ Bị cáo nói lời sau cùng: Thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nhận thức được hành vi phạm tội là sai, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi của bị cáo Phạm Thị Kim D thể hiện:
Bị cáo Phạm Thị Kim D có phát sinh mâu thuẫn với người bị hại là bà Lê Thị Sinh từ trước từ lối đi chung. Cụ thể vào năm 2017, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử vụ án tranh chấp “quyền về lối đi qua bất động sản liền kề” đi qua vườn gia đình bà S tại thôn Đông La 2, xã Lộc Đ, huyện B. Bản án đã chấp nhận việc các hộ dân yêu cầu mở con đường diện tích 169m2 có chiều rộng 02 mét và đã có hiệu lực pháp luật, được thi hành. Con đường này là lối đi chung vào vườn của các hộ gia đình, trong đó có gia đình vợ chồng bị cáo Phạm Thị Kim D và chồng là Trần Văn Đ.
Trong thời gian sử dụng con đường này, các cây trồng cà phê, vông sát lề đường của gia đình bà S có nhiều cành, nhánh vươn ra đường làm cản trở lối đi chung. Ngày 07/01/2022 ông Đ có gặp bà S đề nghị được chặt các cành, nhánh cây vươn ra đường nhưng bà S không đồng ý. Để làm thông thoáng lối đi chung, vào ngày 09/01/2022 tại thôn Đông La 2, xã Lộc Đ, huyện B, tỉnh Lâm Đồng, Phạm Thị Kim D đã tự ý sử dụng dao và cưa máy cầm tay để chặt, cưa hạ 13 nhánh, cây cà phê và 04 cây vông trồng giáp đường đi thuộc quyền sở hữu của bà S.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 53KL-HĐĐGTS, ngày 15/06/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, kết luận:
01 (một) cây cà phê vối, trồng trên 05 năm tuổi, đã bị cắt ngang thân, bị chết có giá: 284.100 đồng; 01 (một) cây vông, đã bị cắt ngang thân, đã bị chết có giá: 8.400 đồng; 09 (chín) cây cà phê vối, trồng trên 05 năm tuổi, đã bị cắt ngang thân chất lượng cây: loại B, thiệt hại 100%, có giá: 1.917.675 đồng; 01 (một) cây cà phê vối, trồng trên 05 năm tuổi, gồm 05 nhánh, bị cưa 01 nhánh, chất lượng cây: loại B, thiệt hại 20%, có giá: 42.615 đồng; 02 (hai) cây cà phê vối, trồng trên 05 năm tuổi, gồm 04 nhánh bị chặt 01 nhánh chất lượng cây: loại B, thiệt hại 25 %, có giá: 106.538 đồng; 01 (một) cây cà phê vối, trồng trên 05 năm tuổi, gồm 03 nhánh, bị chặt 01 nhánh, chất lượng cây: loại B, thiệt hại 33,3%, có giá: 70.315 đồng; 03 (ba) cây vông, đã bị cắt ngang thân, thiệt hại 100% có giá: 25.200 đồng; 01 (một) cây vông, có 01 vết chặt ở gốc, cây vẫn sinh trưởng bình thường, thiệt hại 20%, có giá: 1.680 đồng. Tổng giá trị cây trồng bị thiệt hại là 2.456.523 đồng, trong đó giá trị thiệt hại cây trồng mà Phạm Thị Kim D cưa, chặt là: 2.164.023 đồng.
Tại Công văn số 02/HĐ ĐGTS ngày 14/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B xác định: Đối với 01 cây cà phê vối, 01 cây vông đã chết, khô, mục hoàn toàn 100% (không thể tái sinh) sau đó mới bị hủy hoại, chặt phá (cắt ngang thân) thì không có giá trị thiệt hại.
Như vậy tổng giá trị cây trồng mà bị cáo Phạm Thị Kim D gây ra thiệt hại cho người bị hại bà Mai Thị S1 là: 2.164.023 đồng.
Do đó, hành vi của cáo Phạm Thị Kim D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy, Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã truy tố đối với bị cáo D là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật mà vẫn thực hiện, thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu về tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng cho bị cáo một mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, đủ để răn đe, cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện nộp tiền để khắc khục bồi thường toàn bô thiệt hại về tài sản do mình gây ra cho người bị hại, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xét bị cáo D có nhân thân tốt, là nữ, có con nhỏ, có nơi cư trú ổn định, tài sản bị thiệt hại do bị cáo gây ra có giá trị nhỏ, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Quá trình tại ngoại bị cáo chấp hành tốt Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, chấp hành tốt pháp luật, không gây mất anh ninh chính trị địa phương. Do bức xúc và đã có mâu thuẫn từ trước đối với người bị hại về lối đi chung. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thật sự ăn năn, hối cải. Đối với đề nghị hình phạt của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với bị cáo. Vì vậy cần căn cứ vào Điều 65 BLHS không cần cách ly bị cáo khỏi xã hội mà tạo điều kiện cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo là đủ răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét hành vi của bị cáo không thu lợi bất chính, hoàn cảnh gia đình cũng khó khăn, nuôi con nhỏ, thu nhập chính từ làm vườn nên xét thấy không áp dụng dùng phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Đối với hành vi của Trần Văn Đ có tham gia chặt 01 cây cà phê vối, 01 cây vông đã chết được xác định không có giá trị thiệt hại. Do đó Cơ quan điều tra Công an huyện B không xử lý hình sự, hành chính đối với ông Đ là đúng quy định của pháp luật.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 589 Bộ luật dân sự 2015.
Buộc bị cáo Phạm Thị Kim D phải có trách nhiệm bồi thường cho người bị hại là bà Mai Thị S1 thiệt hại do mình gây ra theo kết luận định giá với tổng số tiền là 2.164.023 đồng. Cụ thể gồm: 09 cây cà phê vối, trồng trên 05 năm tuổi, bị cắt ngang thân, chất lượng cây loại B, thiệt hại 100%, theo định giá là 1.917.675 đồng. 01 cây cà phê vối, trồng trên 05 năm tuổi, gồm 05 nhánh, bị cưa 01 nhánh, chất lượng cây loại B, thiệt hại 20%, theo định giá: 42.615 đồng. 02 cây cà phê vối, trồng trên 05 năm tuổi, gồm 04 nhánh, bị chặt 01 nhánh, chất lượng cây loại B, thiệt hại 25 %, định giá là 106.538 đồng. 01 cây cà phê vối, trồng trên 05 năm tuổi, gồm 03 nhánh, bị chặt 01 nhánh, chất lượng cây loại B, thiệt hại 33,3%, định giá là 70.315 đồng. 03 cây vông, đã bị cắt ngang thân, thiệt hại 100% định giá là 25.200 đồng. 01 cây vông, có 01 vết chặt ở gốc, cây vẫn sinh trưởng bình thường, thiệt hại 20%, định giá là 1.680 đồng.
Tại phiên tòa bị cáo D đồng ý bồi thường số tiền 2.500.000 đồng cho người bị hại bà Mai Thị S1. Xét sự tự nguyện bồi thường của bị cáo cho người bị hại là phù hợp với pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên cần xem xét chấp nhận. Tiếp tục tạm giữ số tiền 2.500.000 đồng bị cáo D đã nộp tại Ủy nhiệm chi số 13 năm 2023 ngày 24/5/2023 tài khoản số 3949.0.1054705.00000 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lâm Đồng để bảo đảm thi hành án tại Kho bạc huyện B để bảo đảm thi hành án.
Đối với lời khai của bà S cho rằng tài sản bị thiệt hại khoảng 12.500.000 đồng và buộc phải bồi thường, tuy nhiên không có tài liệu, chứng cứ chứng minh nên không có căn cứ để chấp nhận.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện B đang tạm giữ của bị cáo D gồm: 01 máy cưa cầm tay màu đỏ, đã qua sử dụng, hiệu KIORitz-2700T, tay cầm màu đen, lưỡi cưa dài 33cm; 01 con dao phát (dao quắm) đã qua sử dụng, cán dao làm bằng gỗ dài 32cm, lưỡi dao dài 21cm. Đây là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên xem xét: Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 máy cưa, tịch thu và tiêu hủy 01 dao phát như trên.
[8] Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về “Mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án” buộc bị cáo Phạm Thị Kim D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Kim D phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Thị Kim D 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày 20 tháng 12 năm 2023.
Giao bị cáo Phạm Thị Kim D cho Ủy ban nhân dân xã Lộc Đ, huyện B, tỉnh Lâm Đồng để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục người bị kết án. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Phạm Thị Kim D có trách nhiệm bồi thường cho bà Mai Thị S1 số tiền 2.500.000 đồng.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 2.500.000 đồng do bị báo D đã nộp tại Ủy nhiệm chi số 13 năm 2023 ngày 24/5/2023 tài khoản số 3949.0.1054705.00000 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lâm Đồng tại Kho bạc huyện B để bảo đảm thi hành án.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
3. Về xử lý vật chứng:
+ Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 máy cưa cầm tay màu đỏ, đã qua sử dụng, hiệu KIORitz-2700T, tay cầm màu đen, lưỡi cưa dài 33cm;
+ Tịch thu và tiêu hủy: 01 con dao phát (dao quắm) đã qua sử dụng, cán dao làm bằng gỗ dài 32cm, lưỡi dao dài 21cm.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Thị Kim D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo phần liên quan). Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Bản án về tội cố ý làm hư hỏng tài sản số 107/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 107/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Bảo Lâm - Lâm Đồng |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 20/12/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về