Bản án về tội cố ý gây thương tích số 77/2022/HS-PT

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

BẢN ÁN 77/2022/HS-PT NGÀY 10/05/2022 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 10 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 17/2022/TLPT-HS ngày 26 tháng 01 năm 2022 đối với các bị cáo Hoàng Văn K cùng đồng bọn do có kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn K và kháng cáo của bị hại Nguyễn Văn T đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2021/HS-ST ngày 17 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Z, tỉnh Bình Định.

- Các bị cáo có kháng cáo và bị kháng cáo:

1. oàng ăn K, sinh năm 1983, tại thị xã R, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú thôn P, xã Q, thị xã R, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông U, sinh năm: 1958 và bà V, sinh năm: 1956; vợ là chị Z, sinh năm: 1981; có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2. H, sinh năm 1990, tại thị xã R, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú thôn P, xã Q, thị xã R, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Công nhân xây dựng; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông I, sinh năm: 1965 và bà K, sinh năm: 1966; vợ là chị S, sinh năm: 1995; có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

3. I, sinh năm 1982, tại thị xã R, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú P’, xã Q’, thị xã R, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông I (tên gọi khác I’), sinh năm: 1927 và bà Z (Chết); vợ là chị O, sinh năm: 1983; có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

4. L, sinh năm 1989, tại thị xã R, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú A, phường Q, thị xã R, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông M, sinh năm: 1957 và bà N, sinh năm: 1961; vợ là chị K, sinh năm: 1989; có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án: Không; tiền sự: Không. bị cáo tại ngoại , có mặt tại phiên tòa.

5. M, sinh năm 1986, tại huyện I, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú H, xã I, huyện K, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông I, sinh năm: 1956 và bà J, sinh năm: 1961; vợ, con chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Những người tham gia tố tụng khác có kháng cáo:

Bị hại: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1979; nơi cư trú A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng (vắng mặt).

- Người làm chứng:

1. Anh NLC1, sinh năm 1977; nơi cư trú A1, xã B1, huyện C1, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).

2. Anh NLC2, sinh ngày 03/01/2004; nơi cư trú A1, xã B1, huyện C1, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt).

3. Anh NLC3, sinh năm 1978; nơi cư trú A2, xã B2, huyện C2, thành phố Hà Nội (Vắng mặt).

4. Anh NLC4, sinh năm 1976; nơi cư trú A3, phường B3, quận C3, thành phố Hải Phòng (Vắng mặt).

5. Anh NLC0, sinh năm 1984; nơi cư trú A4, xã B4, thị xã C4, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).

6. Chị NLC4, sinh năm 1981; nơi cư trú A5 phường B5, quận C5, thành phố Hải Phòng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 3 năm 2020, anh Nguyễn Văn T thuê anh NLC1 và anh NLC0 san lấp mặt bằng tại núi VL. Tính đến thời điểm tháng 6 năm 2020, anh Nguyễn Văn T còn nợ của các anh NLC1, NLC0 số tiền 180.000.000 đồng. Khoảng 09 giờ ngày 09 tháng 6 năm 2020, anh Nguyễn Văn T đang ở khu san lấp mặt bằng tại núi VL thì anh NLC1 và anh NLC0 đến gặp anh T để lấy tiền công nợ nhưng anh T nói chỉ tạm ứng trước số tiền 30.000.000 đồng, số tiền nợ còn lại sẽ thanh toán sau. Anh NLC1 và anh NLC0 không đồng ý với phương thức trả nợ trên nên yêu cầu anh T viết giấy thế chấp xe đào để đảm bảo nhưng anh T không đồng ý. Sau khi các bên không thoả thuận được thì anh NLC0 gọi điện thoại cho Hoàng Văn K đang làm gần đó đến để đòi tiền anh T. Khi Thích đang đi đến địa điểm nơi anh NLC1, anh NLC0 và anh T đang đứng thì H, I, L, M cũng cùng đi đến địa điểm này. Trong lúc trao đổi việc trả nợ tiền công, vì bức xúc việc anh T không chịu thanh toán hết số tiền công còn nợ và cũng không viết giấy thế chấp xe đào để đảm bảo việc trả nợ nên K dùng tay đánh trúng vào vùng đầu của anh T. Thấy vậy, I, H cũng xông vào cùng với K dùng tay, chân đánh anh T. Lúc này, anh T nhặt một khúc cây tràm cầm trên tay định đánh lại thì L liền tới giật khúc cây tràm ném đi chỗ khác; K nhặt một khúc cây tràm khô có chiều dài khoảng 50cm, đường kính 05cm đánh vào phía sau đầu của anh T một cái; anh T bỏ chạy thì L vật anh T ngã xuống đất; H dùng tay đánh vào vùng ngực, dùng chân đá vào sườn của anh T; M dùng tay đánh vào mặt anh T một cái. Thấy vậy, anh NLC1 và anh NLC0 vào can ngăn, đưa anh T đi cấp cứu.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 170/2020/PY-TgT ngày 12 tháng 8 năm 2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của anh Nguyễn Văn T là 28%.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 15/2021/HS-ST ngày 17 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Z đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn K, H, I, L, M đều phạm tội“Cố ý gây thương tích”.

- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn K 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo Hoàng Văn K bị bắt đi chấp hành hình phạt tù.

- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo H 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo I 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo L 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo M 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về bồi thường thiệt hại, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

- Ngày 17.12.2021, bị cáo Hoàng Văn K kháng cáo xin được hưởng án treo.

- Ngày 31.12.2021, bị hại Nguyễn Văn T kháng cáo Bản án sơ thẩm không căn cứ vào sự thật khách quan để giải quyết vụ án, đã bỏ lọt tội phạm, mức phạt quá nhẹ đối với hành vi các bị cáo. Đề nghị cấp phúc thẩm giải quyết lại vụ án và hủy bản án sơ thẩm.

- Ngày 25.3.2022, người bị hại Nguyễn Văn T rút toàn bộ kháng cáo. Ngày 6/5/2022 người bị hại làm đơn xin bãi nại và không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

- Ngày 25.3.2022 người bị hại Nguyễn Văn T rút toàn bộ kháng cáo. Ngày 6/5/2022 người bị hại làm đơn xin bãi nại và không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên đề nghị quan điểm giải quyết vụ án: Bị cáo Hoàng Văn K là người đầu tiên đã dùng tay chân, sau đó dùng cây để đánh bị hại, thương tích chính của bị hại T do bị cáo gây ra. Hành vi của bị cáo vi phạm theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS, cấp sơ thẩm áp dụng 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, xét xử bị cáo 15 tháng tù, dưới mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Thích, đề nghị giữ nguyên hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó HĐXX có đủ căn cứ để xác định vụ án như sau:

Sau khi anh NLC1 và anh NLC0 đòi tiền anh T không được thì anh NLC0 đã gọi điện cho bị cáo Hoàng Văn K đến để đòi tiền anh T. Các bị cáo H, I, L, M cũng cùng đi đến địa điểm này. Bức xúc việc anh T không chịu thanh toán tiền nên các bị cáo đã dùng cây tràm và tay chân đánh anh T, gây thương tích cho anh Nguyễn Văn T là 28%. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ đúng pháp luật.

[2] Kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn K và bị hại Nguyễn Văn T trong hạn luật định nên chấp nhận. Ngày 25.3.2022 anh Nguyễn Văn T tự nguyện rút toàn bộ nội dung kháng cáo nên HĐXX chấp nhận. Do đó, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo H, I, L, M.

Xét kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn K, HĐXX thấy rằng: Cấp sơ thẩm đã xem xét toàn bộ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Hoàng Văn K 01 năm 03 tháng tù là phù hợp với các quy định của pháp luật. Do đó không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn K.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn K. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ Điều 348 BLTTHS, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo H, I, L, M.

 Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn K 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo Hoàng Văn K bị bắt đi chấp hành hình phạt tù.

2. Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn K phải chịu 200.000đ án phí HSPT.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

348
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội cố ý gây thương tích số 77/2022/HS-PT

Số hiệu:77/2022/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Bình Định
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 10/05/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về