TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
BẢN ÁN 58/2023/HS-ST NGÀY 22/12/2023 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH
Ngày 22 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2023 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 02/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2023, đối với các bị cáo:
1. Chau Si N, sinh ngày 04/4/2006 tại huyện T, tỉnh An Giang.
Đăng ký hộ khẩu thường trú: khóm D, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang; nơi cư trú: khóm D, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chau Si N1 và bà Nèang Chanh T; anh em có 02 người, bị cáo là người thứ nhất; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không;
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22-7-2023 đến nay, bị cáo có mặt.
2. Huỳnh Tấn Đ, sinh ngày 15/12/1997 tại huyện T, tỉnh An Giang.
Đăng ký hộ khẩu thường trú: khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang; nơi cư trú: khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Phi L và bà Lê Thị Kim T1; anh em có 02 người, bị cáo là người thứ nhất; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không;
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22-7-2023 đến nay, bị cáo có mặt.
3. Ôn Thế A (tên gọi khác: Chí P), sinh ngày 19/6/1997 tại huyện T, tỉnh An Giang.
Đăng ký hộ khẩu thường trú: khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang; nơi cư trú: khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Thợ sửa xe; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Ôn Mỹ H; anh em có 02 người, bị cáo là người thứ nhất; vợ tên Phạm Thị Thùy M; có một người con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không;
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29-7-2023 đến nay, bị cáo có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Chau Si N: Bà Trần Thị Cẩm S là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A. Địa chỉ: Số H Đường L, Phường M - TP L, tỉnh An Giang, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Tấn Đ: ông Ngô Văn S1 là luật sư thuộc Văn phòng L1 - Đoàn Luật sư tỉnh C. Địa chỉ: Đường N, Tổ B, khóm A, thị trấn T, huyện T, An Giang, có mặt.
Bị hại:
- Anh Đỗ Duy K, sinh ngày 02/3/2005. Nơi cư trú: khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt.
- Em Đỗ Thiên B, sinh ngày 14/12/2009. Nơi cư trú: khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt.
Người đại diện hợp pháp cho em B: Bà Phùng Thị Ngọc M1, sinh năm 1958. Địa chỉ: khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Phùng Thị Ngọc M1, sinh năm 1958. Địa chỉ: khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt;
- Ông Huỳnh Phi L, sinh năm 1975. Địa chỉ: khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt;
- Bà Néang Chanh T, sinh năm 1985. Địa chỉ: khóm D, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt;
- Ông Ôn Văn T2, sinh năm 1974. Địa chỉ: khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt;
- Anh Nguyễn Ngọc T3, sinh năm 2002. Địa chỉ: ấp P, xã C, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt;
- Anh Nguyễn Hữu H1, sinh năm 2005. Địa chỉ: khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt;
- Ông Võ Văn T4, sinh năm 1993. Địa chỉ: khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt;
- Ông Nguyễn Phương Bảo G, sinh năm 1991. Địa chỉ: khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt.
Những người làm chứng:
- Anh Nguyễn Văn T5, sinh năm 1990, có mặt;
- Chị Lê Thị Huyền T6, sinh năm 1986, vắng mặt;
- Ông Bùi Văn T7, sinh năm 1982, vắng mặt;
- Ông Phạm Văn T8, sinh năm 1978, vắng mặt;
- Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1983, vắng mặt;
- Bà Hồ Thị Kim T9, sinh năm 1972, vắng mặt.
Người phiên dịch: Ông Chau B1, sinh năm 1972. Cư trú: ấp B, xã C, huyện T, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 20-7-2023, Võ Văn T4 uống rượu cùng Chau Si N, Huỳnh Tấn Đ, Lê Minh C1, Nguyễn Văn Bảo Q, Nguyễn Văn T5, Nguyễn Hữu H1 và Nguyễn Phương Bảo G tại nhà của T4, ngụ khóm E, thị trấn T, huyện T, thì bị một nhóm người (chưa rõ họ tên, địa chỉ) ném bom xăng, gạch đá vào nhà T4, rồi lên xe mô tô bỏ chạy. Cả nhóm tiếp tục ngồi uống rượu được một lúc, Võ Văn T4 nằm ngủ, Đ đi về nhà, Q nói với N, T5, H1, G và C1 “Ngày mai, ai có đồ đem đến cất ở chuồng gà nhà ba vợ T4 để thủ, nếu tụi nó quay lại thì chơi với tụi nó luôn”, mọi người không nói gì và uống rượu xong thì nghỉ.
Khoảng 19 giờ ngày hôm sau 21-7-2023, Võ Văn T4 điện thoại rủ Đ, Thế A, G, Q, N, H1 và C1 lại nhà uống rượu, thì N mang theo 01 cây dao tự chế cất giấu ở bụi có cạnh chuồng gà; H1 mang theo 01 cây dao tự chế cất giấu ở phía trong chuồng gà nhà T4. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, N chạy xe đi mua thêm rượu, thấy hai anh em Đỗ Duy K và Đỗ Thiên B đậu xe mô tô trước tiệm tạp hoá mua đồ, Náth nghĩ đây là nhóm người ném bom xăng hôm trước quay lại nên vô nhà T4 nói “Mấy anh chị ơi tụi nó kéo lại kìa”, nói xong N, Đ, Thế A mỗi người cầm 01 cây dao tự chế chạy ra trước, còn C1, H1, Q cũng cầm hung khí chạy theo sau. Khi gần đến tiệm T11 khóm E, thị trấn T, huyện T, Đ thấy Nguyễn Ngọc T3 chạy xe mô tô ngang, Đ chặn xe lại, dùng dao tự chế chém 01 nhát từ trên xuống vào nón bảo hiểm của Ngọc T3 làm ngã xe, Ngọc T3 bỏ chạy. Thấy K đậu xe gần đó, Thế A đến dùng chân đạp K làm ngã xe, Đ cầm dao tự chế chém 02 nhát về phía K nhưng không trúng, K quay lưng bỏ chạy thì bị N dùng dao tự chế bằng kim loại dài 41cm, mũi nhọn chém 01 nhát vào vùng lưng trái gây thương tích. Bị chém, K bỏ chạy, N thấy H1, Q vừa chạy ra nên N cùng H1, Q cầm hung khí rượt theo K, cùng lúc này, Thế A và Đ đến chỗ B đang đứng trong tiệm tạp hoá, Thế A ném dao và gạch xuống đất, rồi Thế A cùng Đ dùng tay, chân đánh, đạp nhiều cái vào vùng vai trái và bụng của B gây thương tích, C1 cũng xong vào dùng dao tự chế chém B nhiều nhát từ trên xuống, B đưa tay trái đỡ làm bị thương cẳng tay. Sau đó, Văn T4 và G chạy ra cho biết đánh nhầm người nên can ngắn không cho mọi người đánh B, sau đó cả nhóm ném bỏ hung khí và vào lại nhà của Võ Văn T4.
K và B được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ1. Sau khi gây án, N, Đ và Thế A ra đầu thú.
Ngày 31-7-2023, N, Đ và Thế A bị khởi tố và tạm giam để điều tra. Đến ngày 23-10-2023, C1 bị khởi tố, truy nã và quyết định tách vụ án.
Vật chứng thu giữ: Thu giữ của Chau Si N:
- 01 cây dao tự chế, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 41cm, mũi nhọn, nơi rộng nhất 6,8cm, nơi hẹp nhất 04cm, trên lưỡi dao có chữ STAINLESS STEEL, phần cán dao bằng kim loại màu trắng hai bên có ốp gỗ dài 16,5cm, nơi rộng nhất 4cm, hẹp nhất 03cm; 01 áo thun tay dài màu đỏ, trước ngực có nhiều chữ màu trắng, trên cổ áo có chữ NP; 01 quần thun ngắn, màu đen, trên quần có chữ ADIDAS, màu trắng.
Thu giữ của Huỳnh Tấn Đ:
- 01 áo thun tay ngắn sọc trắng xám, trên cổ áo có chữ ZARA; 01 quần Jean ngắn, màu đen, trên quần có chữ EMPIRA.
Thu giữ của Ôn Thế A:
- 01 áo thun tay ngắn màu trắng, trước ngực có logo tròn màu xanh có chữ NASA, trên cổ áo có chữ ACE DENIM, phía sau áo có chữ NASA màu đỏ và nhiều chữ màu đen; 01 quần sọt màu xám.
Thu giữ của Nguyễn Hữu H1:
01 áo thun trắng sọc đen ngang, dài tay, cổ tròn; 01 quần Jean ngắn, màu đen.
Thu giữ của Võ Văn T4:
- 01 áo thun ngắn tay màu đen, cổ tròn, trước ngực có chữ AMIRI; 01 quần sọt Jean màu xám, sau lưng có chữ BAR/CODE; 01 thanh kim loại dài 58,2cm, có cạnh (02x02) cm; 01 cây dao có cán tròn bằng kim loại dài 57cm, đường kính 2,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 32,5cm, mũi nhọn, bị rỉ sét, nơi rộng nhất 06 cm, nơi hẹp nhất 04cm.
Thu giữ của Nguyễn Phương Bảo G:
- 01 áo thun tay ngắn màu xanh, phía trước ngực có nhiều chữ màu trắng; 01 quần Jean dài màu đen; 01 cây bồ cào có cán tròn bằng kim loại dài 1,62m, đường kính 1,8cm, lưỡi bồ cào bằng sắt tròn có 05 cây răng dài 27cm, đường kính 0,6cm, hàn dính vào 01 thanh sắt tròn dài 27,5cm, đường kính 1,5cm.
Thu giữ của Đỗ Thiên B:
- 01 cái quần dài màu đen có 02 túi phía trước và 02 túi phía sau; 01 cái áo thun màu đen có chữ SAINT LAURENT màu trắng phía trước.
Thu giữ của Nguyễn Ngọc T3:
- 01 cái nón bảo hiểm màu xanh, loại nón sơn, phía trên có một vết cắt dài 10cm.
Căn cứ Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 526 ngày 19-9-2023 của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Đỗ Duy K, sinh năm 2005, kết luận:
Sẹo vùng hông lưng trái, kích thước (12 x 0,4) cm, nằm hơi xiên, sẹo lồi - lõm, màu hồng, bờ sắc gọn, hai góc nhọn: thấu ngực, tràn khí - tràn máu màn phổi trái, đã phẫu thuật dẫn lưu màn phổi trái. Sẹo dẫn lưu ngực trái khoang liên sườn IV - V đường nách sau, kích thước (2,5 x 0,5) cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 13%, thương tích do vật sắc nhọn gây nên.
Căn cứ Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 527 ngày 19-9-2023 của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Đỗ Thiên B, sinh năm 2009, kết luận:
- Sẹo má trái, nằm xiên, kích thước (03 x 0,2) cm, sẹo hơi lồi, màu hồng, bờ sắc gọn, hai góc nhọn, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 03%.
- 03 vết xây xát da lạng thẳng vùng lưng trái, nằm song song:
+ Vết 1: hiện tại không còn thương tích, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể 00%.
+ Vết 2: để lại vết biến đổi sắc tố da, kích thước (04 x 0,1) cm, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 0,5%.
+ Vết 3: hiện tại không còn thương tích, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể 00%.
- 03 vết xây xát da lạng thẳng mặt trước ngoài 1/3 dưới cẳng tay trái, nằm song song:
+ Vết 1: để lại vết biến đổi sắc tố da, kích thước (3,5 x 0,1) cm, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 0,5%.
+ Vết 2: hiện tại không còn thương tích, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể 00%.
+ Vết 3: hiện tại không còn thương tích, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể 00%.
- Sẹo mặt sau 1/3 dưới cẳng tay trái, nằm xiên, kích thước (04 x 0,2) cm, sẹo hơi lồi, màu hồng, bờ sắc gọn, hai góc nhọn, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể 01%.
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên 05%, thương tích do vật sắc nhọn gây nên.
Căn cứ kết luận giám định số 372 ngày 04/10/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh A kết luận:
Không phát hiện dấu vết cắt ghép trên 05 tập tin video lưu trữ trong đĩa DVD gửi giám định.
Trích xuất 59 ảnh từ dữ liệu 05 tập tin video lưu trữ trong đĩa DVD (ký hiệu A) do Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T gửi giám định.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo Chau Si N, Huỳnh Tấn Đ, Ôn Thế A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu.
Do nghĩ K và B là người đã ném bom xăng và gạch vào nhà của Võ Văn T4 hôm trước, nên N, Đ, Thế A dùng dao tự chế chém, dùng tay chân đánh, đạp gây thương tích cho K và B.
Bà Phùng Thị Ngọc M1 (bà ngoại của K và B) cho biết: Đã nhận tiền bồi thường của Néang Chanh T (mẹ N) 3.500.000 đồng, nhận của Huỳnh Phi L (cha Đ) số tiền 8.000.000 đồng, nhận của Ôn Thế T10 (cậu của Thế A) số tiền 5.000.000 đồng, tổng cộng là 16.500.000 đồng. Yêu cầu bồi thường thêm số tiền 50.000.000 đồng.
Tại phiên tòa các bị cáo N, Đ, Thế A đồng ý bồi thường thêm cho K số tiền 25.000.000 đồng, cho B số tiền 25.000.000 đồng, tổng cộng là 50.000.000 đồng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng: Huỳnh Phi L, Néang Chanh T, Ôn Văn T2 cho biết đã bồi thường cho gia đình K và B số tiền 16.500.000 đồng và không có yêu cầu N, Đ và Thế A trả lại.
Nguyễn Hữu H1, Võ Văn T4, Nguyễn Phương Bảo G, Nguyễn Văn T5, Lê Thị Huyền T6, Bùi Văn T7, Phạm Văn T8, Nguyễn Thị H2, Nguyễn Ngọc T3 có lời khai như nội dung vụ án. Riêng Nguyễn Ngọc T3 không bị thương tích nên không có yêu cầu xử lý.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, các bị cáo, người bào chữa, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về các kết luận giám định.
Bản cáo trạng số 51/CT-VKSTT.HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn truy tố các bị cáo Chau Si N, Huỳnh Tấn Đ, Ôn Thế A về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo Chau Si N, Huỳnh Tấn Đ, Ôn Thế A đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo N và Thế A thật thà khai báo, các bị cáo đều tác động gia đình khắc phục hậu quả cho bị hại, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, bị cáo N thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình Sự.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Đ và Thế A thực hiện hành vi gây thương tích cho Đỗ Thiên B khi B chưa đủ 16 tuổi, nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình Sự.
Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 101; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 90; Điều 91 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Chau Si N từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn Đ từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Ôn Thế A (C) từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Về biện pháp tư pháp:
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đỗ Duy K và Đỗ Thiên B cùng người đại diện yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm cho mỗi bị hại số tiền 25.000.000 đồng, tổng cộng là 50.000.000 đồng. Các bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại, nhận thấy sự tự nguyện bồi thường của bị cáo là phù hợp, không trái pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 590 Bộ luật dân sự, công nhận và buộc các bị cáo cùng liên đới bồi thường số tiền 50.000.000 đồng cho bị hại.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng là công cụ phạm tội và vật chứng không có giá trị sử dụng, gồm:
01 cây dao tự chế, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 41cm; 01 áo thun tay dài màu đỏ; 01 quần thun ngắn, màu đen; 01 áo thun tay ngắn sọc trắng xám; 01 quần Jean ngắn, màu đen; 01 áo thun tay ngắn màu trắng; 01 quần sọt màu xám; 01 áo thun trắng sọc đen ngang, dài tay, cổ tròn; 01 quần Jean ngắn, màu đen; 01 áo thun ngắn tay màu đen; 01 quần sọt Jean màu xám; 01 thanh kim loại dài 58,2cm; 01 cây dao có cán tròn bằng kim loại dài 57cm, đường kính 2,5cm; 01 áo thun tay ngắn màu xanh; 01 quần Jean dài màu đen; 01 cây bồ cào có cán tròn bằng kim loại dài 1,62m, lưỡi bồ cào bằng sắt tròn có 05 cây răng; 01 cái quần dài màu đen; 01 cái áo thun màu đen; 01 cái nón bảo hiểm màu xanh, loại nón sơn.
Đối với Lê Minh C1 bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã khởi tố, truy nã và quyết định tách vụ án, khi bắt được sẽ xử lý theo quy định.
Đối tượng Nguyễn Văn Bảo Q có hành vi cầm hung khí chạy ra sau khi K đã bị chém gây thương tích, cầm hung khí rượt đuổi K. Hiện Q không có mặt tại địa phương, chưa làm việc được nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Riêng, Nguyễn Hữu H1, Võ Văn T4, Nguyễn Phương Bảo G có hành vi cầm hung khí chạy ra sau nhưng không gây thương tích cho bị hại, T4 và G ngăn cản mọi người gây thương tích cho B. Cơ quan điều tra không xem xét xử lý hình sự là có căn cứ.
Người bào chữa cho bị cáo Chau Si N nêu ý kiến bào chữa: Thống nhất theo nội dung cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo N được hưởng các tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo là người dưới 18 tuổi, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đầu thú và đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại, bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn về kinh tế, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, mới phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt. Đề nghị xử bị cáo mức án thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ tính răn đe.
Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Tấn Đ nêu ý kiến bào chữa: Thống nhất theo nội dung cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo Đ các tình tiết giảm nhẹ như: Sau khi phạm tội đã đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại, bị cáo có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, mới phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt. Đồng thời đề nghị xem xét việc truy tố bị cáo với vai trò đồng phạm, vì bị cáo chỉ dùng chân đạp bị hại B chớ không gây thương tích cho bị hại K, các bản cung bị cáo chỉ nghe cán bộ điều tra đọc lại và ký tên, không có tự đọc, ghi âm ghi hình chỉ ghi khi đọc lại biên bản hỏi cung cho bị cáo ký tên chớ không ghi âm ghi hình ngay từ đầu, bản cung chỉ có điều tra viên ký tên, cán bộ điều tra không ký tên. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Kiểm sát viên tham gia tranh luận: Viện kiểm sát truy tố bị cáo Đ với vai trò đồng phạm giúp sức cùng với các bị cáo N, Thế A là có căn cứ. Vì sau khi nghe Náth báo “Mấy anh chị ơi tụi nó kéo lại kìa”, nghe xong N, Đ, Thế A mỗi người cầm 01 cây dao tự chế chạy ra trước, còn C1, H1, Q cũng cầm hung khí chạy theo sau. Khi gần đến tiệm tạp hoá, Đ thấy Nguyễn Ngọc T3 chạy xe mô tô ngang, Đ chặn xe lại, dùng dao tự chế chém 01 nhát từ trên xuống vào nón bảo hiểm của Ngọc T3 làm ngã xe, Ngọc T3 bỏ chạy. Thấy K đậu xe gần đó, Thế A đến dùng chân đạp K làm ngã xe, Đ cầm dao tự chế chém 02 nhát về phía K nhưng không trúng, khi K quay lưng bỏ chạy thì bị N dùng dao tự chế bằng kim loại chém 01 nhát vào vùng lưng trái gây thương tích. Bị chém, K bỏ chạy, N thấy H1, Q vừa chạy ra nên N cùng H1, Q cầm hung khí rượt theo K, cùng lúc này, Thế A và Đ đến chỗ B đang đứng trong tiệm tạp hoá, Thế A cùng Đ dùng tay, chân đánh, đạp nhiều cái vào vùng vai trái và bụng của B gây thương tích, C1 cũng xong vào dùng dao tự chế chém B nhiều nhát từ trên xuống, B đưa tay trái đỡ làm bị thương cẳng tay. Từ đó cho thấy các bị cáo đã thống nhất ý chí cùng nhau thực hiện hành vi đánh, chém các bị hại, nên các bị cáo phải cùng gánh chịu hậu quả do hành vi của các bị cáo đã gây ra. Các biên bản hỏi cung đều có đọc lại cho bị cáo nghe và bị cáo thống nhất ký tên, có Điều tra viên được phân công ký tên, có người bào chữa tham gia đã đảm bảo tính khách quan, đúng quy định pháp luật. Việc người bào chữa cho rằng vi phạm tố tụng là không có căn cứ.
Các bị cáo, bị hại không tranh luận.
Lời nói sau cùng, các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Chau Si N, Huỳnh Tấn Đ, Ôn Thế A khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 21-7-2023, tại khu vực khóm E, thị trấn T, huyện T, vì nghĩ anh K và B là người đã ném bơm xăng, gạch đá vào nhóm mình ngày hôm trước, nên các bị cáo đã dùng dao tự chế, dùng tay chân đá, đạp gây thương tích cho Đỗ Duy K với tỷ lệ thương tích là 13 %; Đỗ Thiên B với tỷ lệ thương tích là 05%.
[3] Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai mà bị cáo đã khai nhận tại Cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của các bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người làm chứng, đồng thời phù hợp với các kết luận giám định số 526, 527 ngày 19-9-2023 của Trung tâm pháp y tinh A và các tài liệu chứng đã thu thập hợp pháp, đúng trình tự pháp luật có trong hồ sơ vụ án.
Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 21-7-2023, tại khu vực khóm E, thị trấn T, huyện T, các bị cáo đã dùng dao tự chế, dùng tay chân đá, đạp gây thương tích cho Đỗ Duy K với tỷ lệ thương tích là 13 %; Đỗ Thiên B với tỷ lệ thương tích là 05%. Trong vụ án này, mặc dù bị cáo Thế A và Đ không trực tiếp gây thương tích cho anh K, nhưng các bị cáo là những đồng phạm giúp sức tích cực về mặt tinh thần, dù không có phân công vai trò cụ thể, nhưng tất cả cùng nhau thống nhất ý chí hành động, cụ thể sau khi nghe Náth báo “Mấy anh chị ơi tụi nó kéo lại kìa”, thì N, Đ, Thế A mỗi người cầm 01 cây dao tự chế chạy ra trước, khi thấy K đậu xe gần đó, Thế A đến dùng chân đạp K làm ngã xe, Đ cầm dao tự chế chém 02 nhát về phía vai trái của K nhưng không gây thương tích, khi K quay lưng bỏ chạy thì bị N dùng dao tự chế chém 01 nhát vào vùng lưng trái gây thương tích, nên các bị cáo phải cùng chịu trách nhiệm với hậu quả do hành vi các bị cáo đã gây ra với anh K và em B. Hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, do dao tự chế mà bị cáo N sử dụng gây thương tích cho anh K là loại hung khí nguy hiểm, hơn nữa giữa các bị cáo với bị hại không có mâu thuẫn trước và cũng chưa quen biết nhau, lại vô cớ chém, đánh K và B nên hành vi của các bị cáo mang tính chất côn đồ. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Việc luật sư bào chữa cho rằng bị cáo Đ chỉ đạp bị hại B, không có tham gia gây thương tích cho anh K nên không phải chịu trách nhiệm đồng phạm đối với thương tích của anh K là không phù hợp. Các biên bản hỏi cung chỉ đọc lại cho bị cáo nghe để ký tên, chỉ có Điều tra viên được phân công ký tên, cán bộ điều tra không ký tên là không đảm bảo tính khách quan, vi phạm tố tụng là không có căn cứ.
[4] Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của bị hại mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Sức khỏe của con người là vốn quý được pháp luật bảo vệ, các bị cáo là người đã trưởng thành có đủ nhận thức về điều đó, nhưng các bị cáo lại thực hiện hành vi xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe người khác một cách vô cớ, không cần mâu thuẫn, không cần biết người mà các bị cáo đánh, chém là ai, điều này thể hiện tính hung hăng côn đồ của các bị cáo. Vì vậy, cần phải áp dụng một chế tài hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của từng bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo sớm trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng nhằm răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã đầu thú, thật thà khai báo và tác động gia đình khắc phục một phần hậu quả cho các bị hại. Bị cáo N là người trực tiếp gây thương tích cho anh K nhưng khi thực hiện hành vi phạm tội N chưa đủ 18 tuổi nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Việc luật sư bào chữa cho rằng bị cáo Đ chỉ đạp bị hại B, không có tham gia đánh anh K nên không phải chịu trách nhiệm đồng phạm đối với thương tích của anh K. Các biên bản hỏi cung chỉ đọc lại cho bị cáo nghe để ký tên, chỉ có Điều tra viên được phân công ký tên, cán bộ điều tra không ký tên là không đảm bảo tính khách quan, vi phạm tố tụng là không có căn cứ.
[6] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Đ và Thế A có hành vi gây thương tích cho bị hại B khi B dưới 16 tuổi, nên bị cáo Đ và Thế A bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[7] Về trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại: Bị hại Đỗ Duy K và Đỗ Thiên B đã nhận tiền bồi thường từ gia đình các bị cáo 16.500.000 đồng, các bị hại yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm mỗi người 25.000.000 đồng. Các bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại, nhận thấy sự tự nguyện bồi thường của các bị cáo là phù hợp với yêu cầu của bị hại, không trái pháp luật nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.
[8] Về vật chứng của vụ án: Xét thấy, vật chứng thu giữ là công cụ phạm tội và những vật không có giá trị sử dụng, bị cáo và người liên quan không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy là có căn cứ.
Đối với Lê Minh C1 bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã khởi tố, truy nã và quyết định tách vụ án, khi bắt được sẽ xử lý theo quy định.
Đối tượng Nguyễn Văn Bảo Q có hành vi cầm hung khí chạy ra rượt đuổi K sau khi K đã bị chém gây thương tích. Hiện Q không có mặt tại địa phương, chưa làm việc được nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Riêng, Nguyễn Hữu H1, Võ Văn T4, Nguyễn Phương Bảo G có hành vi cầm hung khí chạy ra sau nhưng không gây thương tích cho bị hại, T4 và G ngăn cản mọi người gây thương tích cho B. Cơ quan điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
[9] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Chau Si N, Huỳnh Tấn Đ, Ôn Thế A (Tên gọi khác: Chí P) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Chau Si N 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 22-7-2023 (ngày hai mươi hai tháng bảy năm hai nghìn không trăm hai mươi ba).
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn Đ 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 22-7-2023 (ngày hai mươi hai tháng bảy năm hai nghìn không trăm hai mươi ba).
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Ôn Thế A (Tên gọi khác: Chí P) 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 29-7-2023 (ngày hai mươi chín tháng bảy năm hai nghìn không trăm hai mươi ba).
Trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 586; Điều 587; Điều 590 Bộ luật dân sự;
Công nhận sự tự nguyện của các bị cáo Chau Si N, Huỳnh Tấn Đ, Ôn Thế A liên đới bồi thường cho Đỗ Duy K số tiền 25.000.000 đồng, bồi thường cho Đỗ Thiên B số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).
Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 cây dao tự chế, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 41cm; 01 áo thun tay dài màu đỏ; 01 quần thun ngắn, màu đen; 01 áo thun tay ngắn sọc trắng xám; 01 quần Jean ngắn, màu đen; 01 áo thun tay ngắn màu trắng; 01 quần sọt màu xám; 01 áo thun trắng sọc đen ngang, dài tay, cổ tròn; 01 quần Jean ngắn, màu đen; 01 áo thun ngắn tay màu đen; 01 quần sọt Jean màu xám; 01 thanh kim loại dài 58,2cm; 01 cây dao có cán tròn bằng kim loại dài 57cm, đường kính 2,5cm; 01 áo thun tay ngắn màu xanh; 01 quần Jean dài màu đen; 01 cây bồ cào có cán tròn bằng kim loại dài 1,62m, lưỡi bồ cào bằng sắt tròn có 05 cây răng; 01 cái quần dài màu đen; 01 cái áo thun màu đen; 01 cái nón bảo hiểm màu xanh, loại nón sơn.
Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận ngày 16-11-2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T).
Về án Phí: Căn cứ vào Điều 135; Điều 136, điểm a khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí;
Các bị cáo Chau Si N, Huỳnh Tấn Đ, Ôn Thế A mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 833.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, cộng chung tiền án phí mỗi bị cáo phải chịu là 1.033.000 đồng (một triệu không trăm ba mươi ba nghìn đồng).
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo. Trường hợp vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án về tội cố ý gây thương tích số 58/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 58/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Tri Tôn - An Giang |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 22/12/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về